09 - ThS. Đặng Thị Tường Vi - CÁC DÒNG TRUYỀN THỪA PHẬT GIÁO Ở QUẢNG BÌNH TRONG THẾ KỶ XVII – XIX

Thứ hai - 16/12/2019 03:02
CÁC DÒNG TRUYỀN THA PHẬT GIÁO Ở QUẢNG BÌNH TRONG THẾ KỶ XVII – XIX
 

ThS. Đặng Th Tường Vi*


Quảng Bình - vùng đất chu nhiều biến động của lịch sử, là biên vin về phía Bc của Chăm - pa, sau là địa đầu phía Nam quốc gia Đại Việt từ na cuối thế kỷ XI. Chính vì vậy, Quảng Bình luôn là nơi giao thoa của các luồng tư tưởng, các tôn giáo; trong đó, với tinh thần “Từ bi - hỷ xả - vô ngã - vị tha”, Phật giáo đã dừng chân và tn tại ở Quảng Bình t thời Chăm - pa, đến Đại Việt và hiện hữu tới ngày nay. “Trên vị trí là vùng biên viễn của các tập đoàn và các quốc gia phong kiến thời cổ trung đại, vùng đất Quảng Bình cơ hội tiếp nhận sự lan tỏa của Phật giáo trong cả mt chuỗi dài lch s với rất nhiều thăng trầm”156 (1).
Dấu ấn của Phật giáo để li trên mảnh đất Quảng Bình rất phong phú. Đó là sự có mặt của các dòng thiền đã đưa tới hệ thống chùa quan, chùa làng, h thống tượng th, các bảo vật, pháp khí đa dạng, là minh chứng cho một vùng đất Quảng Bình chứa đựng những di sản của Phật giáo Việt Nam trong dòng chảy lch sử.
Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chủ yếu tập trung đề cập ti các dòng truyn thừa Phật giáo có mặt ở Quảng Bình trong khoảng thời gian thế kỷ XVII - XIX.
  1. Pht giáo Nguyên thủy ở phía Tây Quảng Bình.
Đa phần các nhà nghiên cứu đã chỉ ra hai con đường Phật giáo du nhập vào Việt Nam con đường Nam truyền và Bắc truyền, tuy nhiên, căn cứ vào những di tích khảo cổ, có thể thấy con đường Tây truyền “xuất phát từ Trung Ấn, dùng tuyến đường bộ ngang qua đèo Hasse des Trois Pagodes, theo sông Kanburi xuống châu thổ sông Menam, từ đó đến sông Mekong qua đất Lào rồi vào Thanh Hóa, Nghệ An đến Luy Lâu của Giao Châu”157 cũng là hành trình đưa Phật giáo vào nước ta. Sự lan tỏa của Phật giáo vào Việt Nam theo phía Tây là đặc trưng của một vùng đất kéo dài từ phía Tây miền Trung đến Tây Bắc, trong đó Quảng Bình.



  • Đại học Huế
156 Nguyễn Khắc Thái (2015), “Phật giáo trên hành trình mở cõi qua vùng đất Quảng Bình”, Tạp chí Liễu Quán, (5), tr.29
157 Nguyễn Hữu Thông, Lê Thị Như Khuê (2016), “Từ “tín ngưỡng thờ “Pụt” trong văn hóa người Nguồn, nghĩ về dấu ấn Phật giáo ở phía Tây Quảng Bình, Tạp chí Liễu Quán (7), tr. 55
 




Vùng phía Tây Quảng Bình là địa bàn cư trú của nhiều tộc người thiểu số, có mặt từ lâu đời. Ở môi trường sinh sống không thuận lợi, người Nguồn ở phía Tây Quảng Bình158 đã tạo nên một nền văn hóa đặc trưng với tín ngưỡng thờ “Pụt”. Trong quan niệm của người Nguồn, Pụt là một vị phúc thần, quan tâm tới nguyện vọng của con người. Vì vậy, với niềm tin của mình, thờ Pụt đã trở thành nét đẹp tâm linh, tín ngưỡng dân gian từ xa xưa. Trải qua quá trình sinh sống, đời sống văn hóa, tín ngưỡng của người Bru Khùa ở Minh Hóa được hun đúc trong cuốn sách cổ “Pôộc năng xừ”159, nội dung mang dấu ấn Phật giáo nét và đang được cộng đồng người Bru Khùa xem như bảo vật truyền gia. Với vị trí sát biên giới Việt - Lào, trước đây, nhiều người Bru Khùa đã sang Lào xuất gia, sau về lập chùa thờ Phật và truyền đạo trong dân làng. Ngoài ra, “từ thế kỷ XIX trở về trước ở huyện Minh Hóa có hai ngôi chùa, đó là chùa Ka Oóc ở xã Trọng Hóa và chùa Dộ ở Dân Hóa. Hai ngôi chùa này do các sư người Bru Khùa thuộc phái Nam tông sáng lập để tu tập, hành đạo”160. Bên cạnh đó, sự xuất hiện của văn bản cúng “Phụng thừa Thích ca Như Lai di giáo” (thời Tự Đức) viết bằng chữ Hán đã chứng tỏ sự tồn tại của hình tượng Phật Thích ca tín ngưỡng thờ Phật. Đồng thời “Tân soạn Tiểu thừa sám pháp Phật môn công văn” đang lưu giữ tại chùa Quan Âm (Đức Trạch) đã cho thấy sự độc đáo của một dạng văn bản cúng tế được tiếp thu từ truyền thống Đại thừa nhưng lại dành cho các đối tượng vùng ảnh hưởng của Phật giáo Tiểu thừa. Như vậy, từ lâu, ở vùng phía Tây Quảng Bình, Phật giáo đã tồn tại, ảnh hưởng sâu sắc có thể gọi là Phật giáo nguyên thủy. Phật giáo nguyên thủy là một trong những đặc điểm riêng có ở Quảng Bình gắn liền với cuộc sống, sinh hoạt, tâm linh của cộng đồng người Nguồn, tồn tại cho tới ngày nay. “Dấu vết Phật giáo còn lại trong đời sống tín ngưỡng người Nguồn gần như đã hòa tan trong phong tục dân gian đó là dạng Phật giáo gắn với Đại thừa, gắn với nghi lễ trai tịnh và với cả 12 ông Bụt như những vị Bồ tát đảm trách và đáp ứng những nguyện ước và nhu cầu của con người trong cuộc sống”161. Sự tồn tại của



158 Người Nguồn là một cộng đồng dân tộc ít người (có khoảng 4 vạn người), cư trú ở miền Tây Quảng Bình, chủ yếu tập trung ở huyện Minh Hóa. Trong văn hóa người Nguồn tồn tại tín ngưỡng thờ Pụt từ lâu đời. Theo truyền thuyết người Nguồn, Pụt vốn ở trên trời, luôn nghe tiếng cầu xin khẩn thiết và thường xuyên, sẵn sàng cứu giúp con người.
159 Pôộc năng xừmột tập sách cổ với 5 cuốn sách được phát hiện, lưu giữ ở Minh Hóa, Quảng Bình, mang đậm dấu ấn Phật giáo trong đời sống tín ngưỡng của người Bru Khùa. Thông qua nội dung của Pôộc năng xừ đã chứng tỏ sự hiện diện của Phật giáo Nguyên thủy xuất hiện ở phía Tây Quảng Bình và có sức sống mạnh mẽ cho tới ngày nay. Đây là đặc điểm riêng có ở Quảng Bình.
160 Nguyễn Văn Thịnh (2016), “Sách cổ Pôộc năng xừdấu ấn Phật giáo trong đời sống tín ngưỡng người Bru Khùa ở Minh Hóa, Tạp chí Liễu Quán, (7), tr. 46.
161 Nguyễn Hữu Thông, Lê Thị Như Khuê (2016), “Từ “tín ngưỡng thờ “Pụt” trong văn hóa người Nguồn, nghĩ về dấu ấn Phật giáo ở phía Tây Quảng Bình, Tạp chí Liễu Quán (7), tr. 56.
 




tín ngưỡng thờ Pụt của người Nguồn, sự hiện diện của cuốn sách cổ “Pôộc năng xừ” có những nét gần gũi với Phật giáo đã cho thấy dòng chảy Phật giáo nguyên thủy bền bỉ, xuyên suốt từ xa xưa cho đến ngày nay ở vùng phía Tây Quảng Bình.
Sở dĩ khu vực miền Tây Quảng Bình bảo tồn và trao truyền Phật giáo nguyên thuỷ lâu đời như vậy vì hầu hết cộng đồng cư dân ở đây sinh sống trên địa bàn rừng núi hiểm trở, nhiều nhóm dân tộc và tộc người khu trú thành những bản sâu trong địa hình rừng núi, ít chịu tác động của các biến thiên xã hội ở vùng đồng bằng. Do vậy, mỗi khi lòng tin vào tâm linh hướng tới Phật giáo nguyên thuỷ thì tồn tại bền vững trong đức tin của họ.
  1. Dòng thiền Trúc Lâm
Phật giáo Đại Việt được du nhập từ Trung Hoa và Ấn Độ, từng bước được Việt hóa do bản sắc sức sống của văn hóa Việt. Dòng thiền Trúc Lâm là dòng thiền đầu tiên của Việt Nam với đại diện là Phật hoàng Trần Nhân Tông cho thấy bản sắc độc lp của vic xiển dương Phật giáo trong thời nhà Trần.
.“...Tháng 10 năm Kỷ Hi, niên hiệu Hưng Long thứ 7 [1299], [Phật hoàng Trần Nhân Tông] đi thẳng lên núi Yên Tử, chuyên cần tu tập “mười hai hạnh đầu đà”, ly hiệu là Hương Vân đại đầu đà, lập tịnh xá Trượng Đề, khai pháp độ tăng, học chúng đến rất Đông. Sau đó, chiêu tập danh tăng ở chùa Phổ Minh, phủ Thiên Trường, mở hội lớn giảng thuyết kinh điển. Vài năm sau, Ngài vân du phương ngoài, đến trại Bố Chính, chọn am Tri Kiến để ở”162. Vic vua Trần Nhân Tông và các tu đã vào các địa phương thuộc Chăm - pa và chọn Am Tri Kiến (tiền thân ca chùa quan Kính Thiên - Hoằng Phúc, Lệ Thủy, Quảng Bình) để dừng chân hoằng dương Pht pháp đã cho thấy Phật giáo Quảng Bình chịu ảnh hưởng của dòng thiền Trúc Lâm trong suốt khoảng thời gian sau đó. Năm 1682, tổ sư Hương Hải163 dẫn khoảng 50 đệ t bỏ Đằng Trong ra Đằng Ngoài khiến cho số tăng sĩ còn lại rất ít, điều đó, làm cho chúa Nguyễn Phúc Tần nghi ngờ về thái độ chính trị của các thiền sư thuộc dòng thiền Trúc Lâm. Vì vậy, chúa đã trọng dụng thiền sư Nguyên Thiều của thiền



162 Phạm Đức Thành Dũng (2015), “Tìm hiểu thêm về chùa Hoằng Phúc qua một số tư liệu chữ Hán”, Tạp chí Liễu Quán, (5), tr. 46.
163 Tổ Hương Hải (1628 – 1715), sống ở phủ Thăng Hoa, Quảng Ninh. Từng làm Văn chức trong phủ chúa Nguyễn Phúc Lan. Năm 1652, ông được bổ làm Tri phủ Triệu Phong (nay thuộc tỉnh Quảng Trị). Vì tấm lòng mộ đạo, ông đã tìm đến học đạo với Thiền Trung Hoa - Viên Cảnh đang hành đạo ở Quảng Trị. Năm 1655, ông từ quan, xin xuất gia với Thiền Viên Cảnh, được đặt pháp danh là Huyền Thiện Giác, pháp tự Minh Châu Hương Hải. Sau đó, vốn thông minh, hiếu học từ nhỏ cùng với lòng hâm mộ Phật pháp, tìm đến ThiềnĐại Thâm Viên Khoan để học tập. Tuy nhiên, sau đó, dongười ganh tỵ đã gây ra nghi ngờ của chúa Nguyễn Phúc Tần đối với Thiền sư, chúa bắt Thiền đưa vào Quảng Nam. Vì thế, năm 1682, Thiền Minh Châu Hương Hải đã cùng 50 đệ tử ra Bắc.
 




phái Lâm Tế và nhờ T sư Nguyên Thiều ra Thuận Hóa hoằng dương Phật pháp tại đây. Tiếp đó, chúa Nguyễn Phúc Trăn đã thỉnh thêm các danh tăng, mua kinh sách tượng Phật, pháp khí t Trung Hoa đưa sang Đằng Trong. Chúa Nguyễn đã cho mở đại giới đàn ở chùa Thiên Mụ. Vi giới đàn này chứng tỏ, dòng thin Trúc Lâm mất vai trò trong việc hoằng dương Phật pháp tại Đằng Trong và tiếp nối đó, thiền phái Lâm Tế được triều đình chúa Nguyễn và quần thần trọng dụng. Trong bối cảnh chung của Phật giáo Đằng Trong như vậy, Phật giáo Quảng Bình cũng chấm dứt vai trò của dòng thiền Trúc Lâm với sự kiện thiền sư Viên Văn Chuyết Chuyết ra Bắc hành hóa. Trải qua một quá trình dài, nhng dấu ấn của dòng thiền Trúc Lâm trên mảnh đất Quảng Bình không còn, tuy nhiên, có th xem đây là dòng thiền mang đậm nét Đại Việt du nhập sớm và phát triển mạnh ở Quảng Bình trong thời gian đầu thế k XIV đến đầu thế kỷ XVII.
  1. Dòng thiền Trí Bản Đột Không
Dòng thiền Trí Bản Đột Không của Thiền phái Lâm Tế đã sớm có mặt ở nước ta vào những thập niên đầu thế kỷ XVII theo chân hoằng hóa của các vị sư Trung Hoa được các chúa Nguyễn mời sang để giảng đạo pháp như Thiền sư Viên Văn Chuyết Chuyết, Viên Cảnh Lục Hồ, Viên Khoan Đại Thâm, Minh Châu Hương Hải.“Dòng thiền Trí Bản Đột Không của Thiền phái Lâm Tế từ Trung Quốc, thông qua Thiền sư Viên Văn Chuyết Chuyết truyền sang Quảng Nam đầu thế kỷ XVII và di dịch dần ra Bắc. Đến năm 1633, ông đã ra xây dựng đạo tràng chùa Bút Tháp ở Bắc Ninh. Từ ảnh hưởng của Thiền sư Viên Văn Chuyết Chuyết khi ông đến hoằng pháp ở Nghệ An, Thanh Hóa lại được tấm lòng mộ Phật của vị quan ở làng Xuân Mai (Mai Hóa), đã mời được vị Thiền đệ tử của Thiền sư Viên Văn mà chùa An Quốc trải 400 năm vẫn lưu mạch nguồn Phật giáo tông Lâm Tế cho đến ngày nay. Chùa An Quốc đã có lâu đời với 10 đời truyền thừa và 26 vị thiền sư. Đại hồng chung của chùa còn lưu, được đúc vào triều Khải Định năm thứ 7 (1922) cho thấy hoạt động phật sự của chùa có tính liên tục trải hơn 400 năm nay. Xuân Mai - một làng miền núi xa xôi, nhưng qua văn khắc trên chuông cho thấy thời ấy có rất nhiều thiện tín từ thập phương cùng tham gia ủng hộ việc đúc chuông chùa được lưu danh trên thân chuông. Vì thế có thể khẳng định chùa An Quốc là một chùa ảnh hưởng lớn vượt qua khuôn khổ chùa làng, thành điểm hẹn tâm linh cho thiện tín thập phương”164.




164 Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Bình, Sở Khoa học và Công nghệ (2017), Báo cáo tổng hợp kết quả khoa học và công nghệ nhiệm vụ sự nghiệp khoa học và công nghệ nghiên cứu quần thể di tích khu vực núi Thần Đinh, Quảng Bình, tr. 61.
 




Đây là dòng thiền có tầm ảnh hưởng sâu rộng và phát triển mạnh mẽ, hưng thịnh trong thời kỳ đầu của các chúa Nguyễn. Với vị trí mở đầu quá trình Nam tiến của các chúa Nguyễn, có lẽ, ở Quảng Bình, dòng thiền Trí Bản Đột Không đã sớm có mặt và phát triển theo xu hướng chung của Phật giáo dân tộc lúc bấy giờ. “Vì thế, tại Quảng Bình, dòng thiền Trí Bản Đột Không có lẽ cũng đã sớm bén rễ và phát triển, kế thừa dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử duy trì mạng mạch Phật pháp ở đây”165. Điều đó được thể hiện trong bản tư liệu chép tay ở chùa An Quốc (Mai Hóa, Tuyên Hóa) và văn bản “Tân soạn tiểu thừa sám pháp Phật môn công văn” lưu giữ tại chùa Quan Âm (Đức Trạch, Bố Trạch).
Khảo sát 12 bài vị thiền sư được thờ phụng ghi chép danh tánh của 26 vị thiền sư thuộc dòng thiền Trí Bản Đột Khôngthuộc thiền phái Lâm Tế tại chùa An Quốc (thôn Xuân Mai, xã Mai Hóa, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình) đã chứng minh sự tồn tại của dòng thiền này tại Quảng Bình vào thế kỷ XVII. “Dòng thiền Trí Bản Đột Không đã kế tục truyền thừa được 10 đời tại vùng đất phía Tây Quảng Bình, tuy nhiên có khiếm khuyết ở các đời thứ 38, 40 43 – tương ứng với các chữ Tịch, chữ Phổ và chữ Nguyên trong dòng kệ” (11).
Theo bản tư liệu chép tay của Cao Đình Đậu - vị cao niên hiện nay đang lo hương khói ở nhà chùa dòng thiền Trí Bản Đột Không chính thức xuất hiện năm 1633, do Thiền sư Chân Quang Đà Lâm truyền đến“Hán Thọ hầu Hà Phúc Chính, cháu nội của vị tổ khai canh họ Hà đã ra Thanh Hóa thỉnh một vị thiền sư thuộc dòng Trí Bản Đột Không hiệu Chân Quang Đà Lâm vào hướng dẫn đời sống tâm linh cho dân làng. Khi Thiền sư Chân Quang Đà Lâm vào đây có yêu cầu dân làng thực hiện 4 việc, trong đó có việc sửa sang lại ngôi Tam Bảo. Điều đó có nghĩa, trước khi Thiền sư Chân Quang Đà Lâm đặt chân đến đây thì chùa An Quốc tại thôn Xuân Mai đã có rồi”166.
Bên cạnh đó, một tài liệu quý có tên “Tân soạn tiểu thừa sám pháp Phật môn công văn” đang được lưu giữ tại chùa Quan Âm (xã Đức Trạch, Bố Trạch), “tổng cộng 41 trang, 82 tờ, không ghi niên đại tác giả, tuy nhiên căn cứ vào nét chữ viết theo lối chữ dòng thư lại ta có thể đoán định nó được ra đời vào khoảng đầu triều Minh Mạng trở về trước”167 đã đề cập tới thiền Thông Tánh thuộc đời 41 của dòng



165 Thích Như Tịnh (2016), “Khảo sát các dòng kệ truyền thừa thuộc phái Lâm Tế trên đất Quảng Bình, Tạp chí Liễu Quán, (7), tr. 79.
166 Thích Như Tịnh (2016), “Khảo sát các dòng kệ truyền thừa thuộc phái Lâm Tế trên đất Quảng Bình, Tạp chí Liễu Quán, (7), tr. 88.
167 Thích Như Tịnh (2016), “Khảo sát các dòng kệ truyền thừa thuộc phái Lâm Tế trên đất Quảng Bình, Tạp chí Liễu Quán, (7), tr. 80.
 




thiền Trí Bản Đột Không, văn bản ghi:“Thần Tăng Du già bộ pháp danh Thông Tánh”168. Phải chăng đây là sự kế tiếp của dòng thiền Trí Bản Đột Không trước đó đã xuất hiện ở phía Tây Quảng Bình? Thông qua tên gọi của văn bản này cho thấy công văn chỉ sử dụng cho Phật giáo Tiểu thừa. Từ đó, có thể khẳng định, “các vị thiền sư trước đây hành đạo ở khu vực miền núi phía Tây tỉnh Quảng Bình giáp với nước Lào đã uyển chuyển tùy duyên kết hợp nghi thức Phật giáo Đại thừa ứng dụng vào trong Phật giáo Tiểu thừa để giáo hóa nhân tâm”169.
Sự xuất hiện và hoằng pháp dòng thiền Trí Bản Đột Không ở Quảng Bình trong thời các chúa Nguyễn cũng là dấu hiệu ly khai về mặt tinh thần trong đời sống tâm linh của Đằng Trong với Đằng Ngoài, cho thấy Nguyễn Hoàng và các chúa Nguyễn muốn tạo dựng một nền tảng xã hội cho riêng mình, không chỉ độc lập trên phương diện địa giới hành chính, cấu trúc kinh tế - xã hội mà cả đời sống tinh thần, trong đó có văn hoá tâm linh.
  1. Dòng thiền Quốc Ân
Dòng thiền Quốc Ân cũng là dòng thiền thuộc thiền phái Lâm Tế có mặt ở Quảng Bình với đại diện là thiền sư Tiên Ngộ Gia Hội, người họ Trần làng Đức Phổ, Phong Lộc, Quảng Bình.“Khi còn nhỏ đi tu tại chùa Cảnh Tiên, lớn lên sư thụ giới với đại sư đại sư Mật Hoằng chùa Thiên Mụ (Huế)”170. Vào năm Minh Mạng thứ 6 [1825], thiền sư Tiên Ngộ Gia Hội, đệ tử Thiền sư Tổ Ấn Mật Hoằng truyền thừa đời 37 tông Lâm Tế đã trùng hưng cổ tự Kim Phong trên núi Thần Đinh”171. Cùng với dòng thiền Trí Bản Đột Không, dòng Quốc Ân đã có vai trò quan trọng trong công cuộc chấn hưng Phật giáo và tạo nên một dòng chảy không ngừng của thiền phái Lâm Tế trên đất Quảng Bình. Ngoài ra, “Quảng Bình còn là quê hương của các Thiền sư Như Thông Đắc An (trụ trì chùa Quốc Ân chùa Thiên Mụ), Thiền sư Như Đông Đắc Quang trụ trì chùa Quốc Ân... là những bậc danh Tăng của Phật giáo xứ Huế đầu thế kỷ XX. Chính nhị vị Tổ sư Đắc Ân, Đắc Quang đã hun đúc tác thành giới thân huệ mạng cho Hòa thượng Hồng Tuyên Chánh Giáo, người đóng vai trò then chốt trong phong trào chấn hưng Phật giáo tại Quảng Bình”172.


168 Thích Như Tịnh (2016), “Khảo sát các dòng kệ truyền thừa thuộc phái Lâm Tế trên đất Quảng Bình, Tạp chí Liễu Quán, (7), tr. 80.
169 Thích Như Tịnh (2016), “Khảo sát các dòng kệ truyền thừa thuộc phái Lâm Tế trên đất Quảng Bình, Tạp chí Liễu Quán, (7), tr. 80.
170 Thích Như Tịnh (2016), “Khảo sát các dòng kệ truyền thừa thuộc phái Lâm Tế trên đất Quảng Bình, Tạp chí Liễu Quán, (7), tr. 80.
171 Thích Như Tịnh (2016), “Khảo sát các dòng kệ truyền thừa thuộc phái Lâm Tế trên đất Quảng Bình, Tạp chí Liễu Quán, (7), tr. 82.
172 Thích Như Tịnh (2016), “Khảo sát các dòng kệ truyền thừa thuộc phái Lâm Tế trên đất Quảng Bình, Tạp chí Liễu Quán, (7), tr. 82-83.
 




Hiện nay, di chỉ của dòng Quốc Ân còn lưu giữ tại Quảng Bình gồm ba tư liệu quý: Mộc bản điệp thế độ, Điệp đàn Tỳ kheo, Chánh pháp nhãn tạng, chủ yếu ghi chép dòng thiền Quốc Ân trong thời kỳ chấn hưng Phật giáo; tuy nhiên, có thể thấy dòng Quốc Ân đã có mặt vào năm 1825 và đạt tới hưng thịnh vào khoảng thời gian sau đó.
Cũng trong thời kỳ đầu thế kỷ XVII, nhà tu hành Hoàng Phủ Chân Quân trụ trì và tu luyện ở chùa Kim Phong trên núi Thần Đinh đã trao truyền Binh thư cho Đào Duy Từ cuối năm 1625 khi Đào Duy Từ trên đường vào Nam tìm minh chủ. Sự kiện này được Văn bia chùa Kim Phong và Đại Nam nhất thống chí của Sử quán triều Nguyễn ghi chép. Điều đó cho thấy chùa Kim Phong có từ trước năm 1624 và có vai trò xiển dương Phật giáo trên đất Quảng Bình. Nhà tu hành Hoàng Phủ Chân Quân như một cầu nối giữa Thiền phái Trúc Lâm với Thiền phái Lâm Tế của Viên Văn Chuyết Chuyết.
Trong thời gian từ khi xuất hiện thiền phái Lâm Tế do Viên Văn Chuyết Chuyết cộng sự của ông truyền bá từ miền Trung ra miền Bắc đầu thế kỷ XVII đến khi Đại sư Tiên Ngộ Gia Hội trùng hưng lại chùa cổ Kim Phong trên núi Thần Đinh năm 1825 thì sự xuất hiện của Sư thầy Ân Khả trụ trì chùa Kim Phong trên núi Thần Đinh từ năm 1695 đến 1705 và sự kiện Sư thầy Ân Khả cho lập ruộng Tam bảo ở Cao Xuân năm 1700 cho thấy sự phát triển quy mô và ảnh hưởng truyền giáo của chùa này trên địa phận Quảng Bình thế kỷ XVII. Sư thầy Ân Khả như là cầu nối trong dòng mạch truyền thừa thiền phái Lâm Tế từ môn đệ Viên Văn Chuyết Chuyết đến Đại sư người bản địa Tiên Ngộ Gia Hội thuộc dòng thiền Quốc Ân, người có công phục hồi chùa Kim Phong năm 1825.
Lịch sử đã cho thấy “trong quá khứ, Phật giáo Quảng Bình đã có sự hiện diện đầy đủ các dòng phái tông Lâm Tế, và chính các dòng thiền ấy đã góp phần không nhỏ dệt nên những trang sử huy hoàng của Phật giáo Quảng Bình”173. Xét trong khoảng ba thế kỷ XVII – XIX, có thể phân chia thời gian có mặt của các dòng thiền như sau: từ năm 1301 – Trần Nhân Tông đến Bố Chính, dừng chân ở Am Tri Kiến để truyền đạo đến năm 1633 – thiền sư Viên Văn Chuyết Chuyết ra Bắc hành hóa đồng thời cũng là thời điểm ngài Chân Quang Đà Lâm vào đây hành đạo: khoảng thời gian này, dòng thiền Trúc Lâm có vai trò chủ đạo. Từ năm 1633 đến năm 1825 – thiền sư




173 Thích Như Tịnh (2016), “Khảo sát các dòng kệ truyền thừa thuộc phái Lâm Tế trên đất Quảng Bình, Tạp chí Liễu Quán, (7), tr. 85.





Tiên Ngộ Gia Hội trùng hưng lại chùa cổ trên núi Thần Đinh: Phật giáo Quảng Bình ghi đậm nét với dòng thiền Trí Bản Đột Không của thiền phái Lâm Tế. Từ năm 1825 đến năm 1968: dòng thiền Quốc Ân được truyền bá rộng rãi ở Quảng Bình. Song hành với 3 dòng thiền kế tục nhau trong 3 thế kỷ ở khu vực đồng bằng thì việc duy trì dòng thiền Phật giáo nguyên thuỷ ở khu vực miền núi tạo nên sự đa sắc văn hoá tâm linh trên vùng đất Quảng Bình. Việc phân chia trên chỉ mang tính chất tương đối bởi cứ liệu còn lại ghi chép về các dòng thiền xuất hiện trên mảnh đất Quảng Bình vào thế kỷ XVII – XIX rất hạn chế.
  1. Kết luận
Sự kế tục và lan toả của 3 dòng thiền chính cùng với sự tồn tại của Phật giáo nguyên thuỷ trong cộng đồng cư dân các tộc người và nhóm địa phương của các dân tộc ít người ở miền núi cho thấy Phật giáo Quảng Bình không còn là nguyên bản của Phật giáo từ cộng đồng di dân từ phía Bắc, cũng không còn nguyên bản của Phật giáo cư dân bản địa trên nền tảng tảng Phật giáo Chăm - pa mà là sự dung hợp nhiều xu hướng, trong đó có sự kết hợp của cả 2 dòng Phật giáo Đại thừa và Tiểu thừa trên cùng một vùng đất Quảng Bình. Điều đó càng khẳng định luận thuyết Quảng Bình là vùng văn hoá giao thoa giữa 2 miền Bắc Nam.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây