08 - ĐĐ. Thích Như Tịnh - KHẢO SÁT CÁC DÒNG KỆ TRUYỀN THỪA THUỘC THIỀN PHÁI LÂM TẾ TRÊN ĐẤT QUẢNG BÌNH

Thứ hai - 16/12/2019 03:00
KHẢO SÁT CÁC DÒNG KỆ TRUYỀN THỪA THUỘC THIỀN PHÁI LÂM TẾ TRÊN ĐẤT QUẢNG BÌNH
 

ĐĐ. Thích Như Tịnh*

 
  1. Mở đầu
Kể từ khi phụng mệnh vua Lê vào trấn thủ đất Thuận Hóa năm 1558 (cai quản vùng đất từ phía Nam đèo Ngang đến đèo Hải Vân, tức các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế ngày nay), đến niên hiệu Hoằng Định thứ 4 [1604] triều vua Lê Kính Tông, Tiên chúa Nguyễn Hoàng đã cho đổi ba châu Địa Lý, Bố Chính, Ma Linh thành tên gọi Quảng Bình. Như vậy, địa danh Quảng Bình xuất hiện trong lịch sử tính đến nay đã trên 400 năm, tuy nhiên sự định cư của người dân Đại Việt trên vùng đất này đã có từ năm 1069, tức tính đến nay đã gần 1.000 năm. Xuyên suốt 10 thế kỷ hình thành và phát triển, Phật giáo luôn đồng hành, gắn bó với sự thịnh suy của dân tộc trên mảnh đất này.
Sức sống của Phật giáo Quảng Bình không chỉ được minh chứng qua những sự kiện, những sinh hoạt Phật giáo được ghi chép trong các thư tịch cổ, qua dấu tích các kiến trúc tự viện quy mô, các di sản Phật giáo có giá trị, mà Quảng Bình còn là nơi lưu dấu sự hiện diện của nhiều dòng thiền, có những đóng góp quan trọng đối với lịch sử Phật giáo cũng như lịch sử dân tộc.
Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ bước đầu khảo sát, giới thiệu khái lược sự hiện diện, truyền thừa của các dòng thiền trên đất Quảng Bình, chủ yếu là khảo sát các dòng kệ truyền thừa thuộc phái Lâm Tế qua các tư liệu mà chúng tôi vừa thu thập được từ những cuộc điền gần đây.
  1. Các dòng truyền thừa của thiền phái Lâm Tế tại Quảng Bình
    1. Dòng thiền Trí Bản Đột Không
Vào những thập niên đầu thế kỷ XVII, dòng thiền Trí Bản Đột Không137 đã chính thức được truyền đến nước ta theo bước chân hành hóa của các vị thiền

  • Trú trì chùa Viên Giác, Hội An, Quảng Nam
137 Thiền Trí Bản Đột Không đời pháp thứ 25 tông Lâm Tế. Sư xuất kệ truyền pháp như sau: Trí Tuệ Thanh Tịnh
Đạo Đức Viên Minh Chân Như Tánh Hải Tịch Chiếu Phổ Thông
Tâm Nguyên Quảng Tục Bổn Giác Xương Long Năng Nhân Thánh Quả
 




Trung Hoa, như Thiền sư Viên Văn Chuyết Chuyết - người đã đến Đàng Trong giảng pháp tại Quảng Nam, sau đó ra Bắc Hà xây dựng đạo tràng tại chùa Bút Tháp (Bắc Ninh) năm 1633; cùng các vị Thiền sư Viên Cảnh Lục Hồ, Viên Khoan Đại Thâm hoằng pháp tại Quảng Trị, đó cũng là hai vị thầy đã trực tiếp hóa đạo và truyền pháp cho Thiền sư Minh Châu Hương Hải sau này.
Dòng thiền Trí Bản Đột Không là thiền phái tầm ảnh hưởng sâu rộng và phát triển lớn mạnh tại Đàng Ngoài cũng như Đàng Trong thời bấy giờ, là một trong những dòng thiền hưng thịnh nhất đầu triều các chúa Nguyễn. Vì thế, tại Quảng Bình dòng thiền Trí Bản Đột Không có lẽ cũng đã sớm bén rễ và phát triển, kế thừa dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử duy trì mạng mạch Phật pháp tại đây. Điều này sẽ được minh chứng qua các bài vị hiện được phụng thờ tại chùa An Quốc ở thôn Xuân Mai, xã Mai Hóa, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình.
Tại chùa An Quốc hiện có 12 bài vị138 ghi danh tánh các vị tiền hiền cũng như các vị thiền sư của các dòng họ: họ Cao, họ Hà và họ Trần của thôn Xuân Mai. Qua khảo sát các bài vị chúng tôi thống kê như sau:

 
Các họ Bài vị tiền hiền Bài vị thiền
Họ Cao Không có 6 tấm
Họ Hà 3 tấm 1 tấm
Họ Trần 2 tấm Không có

Căn cứ vào 6 bài vị ghi danh các thiền sư, chúng tôi liệt kê Pháp danh các vị thuộc dòng thiền Trí Bản Đột Không như sau:
 
Đời Pháp Thế Danh Pháp Danh
Đời 34 Cao Thế Vinh Chân Quang Đà Lâm
Đời 35 Cao Danh Thái Như Quý



Thường Diễn Khoan Hoằng Duy Truyền Pháp Ấn
Chánh Ngộ Hội Dung Kiên Trì Giới Định Vĩnh Kế Tổ Tông.
Từ trước đến nay nhiều tư liệu cho rằng ngài Trí Bản Đột Không đời 21 hoặc 28 tông Lâm Tế. Nhưng căn cứ vào cuốn Phật Tổ Tâm Đăng thì ngài thuộc đời 25 tông Lâm Tế. Chúng tôi thấy rằng tư liệu này chính xác hơn.
138 Các bài vị này mới được khắc lại trên các tấm đá granit, ghi nhầm khá nhiều chỗ.
 



 
Đời 35 Cao Danh Diên Như Bá
Đời 35 Cao Danh Thế Như Thúy
Đời 36 Cao Danh Hợp Tính Lương
Đời 36 Cao Văn Hoán Tính Minh
Đời 37 Cao Văn Tri Hải Lưu
Đời 37 Cao Văn Nghiên Hải Long
Đời 38 (Khuyết danh) (Khuyết danh)
Đời 39 Cao Văn Thúy Chiếu Diệu
Đời 40 (Khuyết danh) (Khuyết danh)
Đời 41 Hà Ngọc Thành Thông Lâm
Đời 41 Hà Ngọc Lư Thông Phương
Đời 41 Cao Văn Thế Thông Truyền
Đời 42 Cao Văn Thâm Tâm Thành
Đời 42 Cao Văn Thượng Tâm Trí
Đời 42 Cao Văn Sang Tâm Kính
Đời 42 Cao Văn Hiệu Tâm Thùy
Đời 42 Hà Ngọc Nghiên Tâm Phong
Đời 43 (Khuyết danh) (Khuyết danh)
Đời 44 Hà Duy Thường Quảng Tế
Đời 44 Hà Mạnh Đạt Quảng Tâm
Đời 44 Cao Văn Mỹ Quảng Khai
Đời 44 Cao Văn Điển Quảng Tăng
Đời 44 Cao Văn Điện Quảng Nguyên
Đời 44 Cao Văn Hoán Quảng Hưng

Ngoài ra, còn có các vị như: Thiền sư Đại Đạo thế danh Cao Văn Tài; Thiền sư Pháp Uy Chánh Đạo... được ghi trong một số bài vị, nhưng vì không kiểm được pháp danh, không dám chắc có thuộc dòng Trí Bản Đột Không hay không nên chúng tôi không ghi vào bảng liệt kê trên.
Như vậy, qua khảo sát các bài vị thiền sư hiện được phụng thờ tại chùa An Quốc (thôn Xuân Mai, xã Mai Hóa, Tuyên Hóa) chúng ta thấy có cả thảy 26 vị thiền sư thuộc dòng Trí Bản Đột Không đã kế tục truyền thừa được 10 đời tại vùng đất phía Tây Quảng Bình, tuy nhiên có khiếm khuyết ở các đời thứ 38, 40 43 - tương ứng với các chữ Tịch, chữ Phổ và chữ Nguyên trong dòng kệ.
 




Sử liệu về các vị thiền sư này hầu như không còn gì ngoài bản tư liệu chép tay của ông Cao Đình Đậu - vị cao niên hiện đang lo hương khói ở chùa. Theo đó được biết, dòng thiền Trí Bản Đột Không chính thức xuất hiện tại miền sơn cước này vào năm 1633 (tư liệu ghi 1533, lẽ nhầm lẫn), do Thiền sư Chân Quang Đà Lâm (bài vị hiện thờ tại chùa) truyền đến. Ngoài bản tư liệu chép tay này chúng tôi còn tiếp cận được một văn bản có tên “Tân soạn Tiểu thừa sám pháp Phật môn công văn” hiện được lưu giữ tại chùa Quan Âm (Đức Trạch, Bố Trạch). Bản tư liệu được viết bằng chữ Nho trên giấy dó, tổng cộng 41 trang, 82 tờ; không thấy ghi niên đại và tác giả, tuy nhiên căn cứ vào nét chữ viết theo lối chữ dòng thư lại ta có thể đoán định nó được ra đời vào khoảng đầu triều Minh Mạng trở về trước. Trong văn bản có một đoạn ghi “Thần Tăng Du già bộ pháp danh Thông Tánh”.
Thiền sư Thông Tánh thuộc đời 41 dòng thiền Trí Bản Đột Không. Vậy phải chăng, văn bản “Tân soạn Tiểu thừa sám pháp Phật môn công văn” vốn có xuất xứ từ miền sơn cước Tuyên Hóa? Và Thiền sư Thông Tánh có thể là người đã chấp bút biên soạn hoặc chí ít cũng đã từng sử dụng bản công văn này!
Từ trước đến nay, chúng ta thường thấy các bản công văn được dùng trong nghi lễ của Phật giáo Đại thừa, đa phần sử dụng cho việc ứng phú đạo tràng. Đặc biệt nơi đây, cuốn công văn ghi tựa đề “Tân soạn Tiểu thừa sám pháp Phật môn công văn”, có nghĩa văn bản này chỉ dùng cho hệ Phật giáo Tiểu thừa. Điều này có thể khẳng định, các vị thiền sư trước đây hành đạo ở khu vực miền núi phía Tây tỉnh Quảng Bình giáp với nước Lào đã uyển chuyển tùy duyên kết hợp nghi thức Phật giáo Đại thừa ứng dụng vào trong Phật giáo Tiểu thừa để giáo hóa nhân tâm.
    1. Dòng thiền Liễu Quán
Cho đến nay, chúng ta chưa có sử liệu chính thức về các thiền sư dòng Liễu Quán hoằng hóa tại Quảng Bình trước đây. Tuy nhiên, hiện tại ở chùa Quan Âm (xã Đức Trạch, huyện Bố Trạch) còn lưu giữ 4 văn bản Phái Quy Y, trong đó có 3 văn bản có ghi kệ phái dòng Liễu Quán. Tất cả các tờ phái này đều ghi tên Ưu-bà-tắc Trần Đình Phức pháp danh Huệ Trinh tự Huyền An. Tuy nhiên, lòng phái nào cũng chỉ ghi 4 câu đầu của bài kệ dòng Liễu Quán và hầu như đều sự nhầm lẫn139.


139 Tờ phái thứ nhất được ghi ngày mồng 10 tháng 10 năm Kỷ Tỵ [1929], bốn câu đầu của kệ pháp Liễu Quán tờ phái này ghi nhầm chữ Quảng thành chữ Bác đảo ngược chữ Thanh Trừng thành Trừng Thanh.
    • Tờ phái thứ 2 được ghi ngày 24 tháng 6 nhuận năm Canh Ngọ (Căn cứ vào cuốn lịch Vạn Niên của Lê Quý Ngưu, chúng tôi tra ra năm Canh Ngọ có tháng 6 nhuận là năm 1930. Từ đó suy ra các năm Kỷ Tỵ [1929]; Giáp Thân [1944] và Ưu-bà-tắc Trần Đình Phức pháp danh Huệ Trinh tự Huyền An sống vào giai đoạn này). Ở lòng phái này người ghi đã sai đến ba lỗi: đảo lộn hai chữ Thanh Trừng thành Trừng Thanh; ghi nhầm chữ Quảng thành chữ Phổ; ghi nhầm chữ Phong thành chữ Bi.
 




Qua bốn văn bản này, ta có thể đoán định rằng ông Trần Đình Phức pháp danh Huệ Trinh tự Huyền An là một thầy pháp đúng nghĩa hơn là một Tăng nhân hay cư sĩ thuần thành Phật giáo. Có thể do ảnh hưởng đạo đức của các bậc cao Tăng dòng Liễu Quán tại Thuận Hóa ông phát nguyện quy y Tam bảo. Tuy nhiên, trong các lòng phái đều không để tên thầy Bổn sư truyền giới và pháp danh bắt đầu bằng chữ Huệ không có trong kệ pháp của dòng Liễu Quán.
    1. Dòng Thập Tháp
Tổ sư Nguyên Thiều thọ giáo hai dòng pháp, một của Tổ Vạn Phong Thời Ủy và một của Tổ Đạo Mân Mộc Trần. Cả hai ngôi tổ đình lớn của miền Trung là Thập Tháp (Bình Định) Quốc Ân (Huế) đều được ngài song song truyền thừa hai dòng kệ này. Về sau, nhánh tổ đình Thập Tháp truyền theo kệ của tổ Vạn Phong Thời Ủy140 nên gọi dòng Thập Tháp; nhánh Tổ đình Quốc Ân truyền theo kệ của Tổ Đạo Mân Mộc Trần141 nên gọi là dòng Quốc Ân.
Hiện nay tại chùa Phổ Minh, thành phố Đồng Hới tỉnh Quảng Bình còn phụng thờ long vị của Tổ sư Liễu Đạo Từ Niệm trụ trì chùa Sắc tứ Minh Đức142. Lòng vị ghi như sau: “Sắc tứ Minh Đức tự từ tổ đệ tam thập thất đại húy LIỄU ĐẠO hiệu TỪ NIỆM Tổ Giác linh chi vị”.
Như vậy, Thiền sư Liễu Đạo Từ Niệm thuộc đời 37 dòng phái Thập Tháp đã có mặt tại Quảng Bình để hoằng pháp vào khoảng đời Minh Mạng hoặc Thiệu Trị. Có thể ngài là đệ tử của Thiền sư Tế Chánh Bổn Giác - Tăng cang chùa Thiên Mụ, Huế. Tháp mộ, tự tích hành trạng của ngài hoàn toàn không còn.
    1. Dòng Chúc Thánh
Dòng thiền Chúc Thánh được Tổ Minh Hải Pháp Bảo khai sáng tại tỉnh Quảng Nam vào những năm đầu thế kỷ XVIII, phát triển mạnh vào các tỉnh phía Nam, đến đầu thế kỷ XX dòng thiền này mới có mặt tại tỉnh Quảng Bình.

    • Tờ phái thứ 3 được ghi ngày mồng 10 tháng 7 năm Giáp Thân [1944].lòng phái này đã ghi sai chữ
Quảng thành ra chữ Bác.
    • Tờ phái thứ 4 được ghi ngày 17 tháng 11 năm Canh Ngọ [1930]. Trong lòng phái này không ghi pháp kệ tổ Liễu Quán mà có tính cách như một sắc dụ phong chức trong Đạo giáo.
140 Bài kệ của Tổ Vạn Phong Thời Ủy:
Tổ Đạo Giới Định Tông
Phương Quảng Chứng Viên Thông Hành Siêu Minh Thiệt Tế
Liễu Đạt Ngộ Chơn Không.
141 Bài kệ của Tổ Đạo Mân Mộc Trần:
Đạo Bổn Nguyên Thành Phật Tổ Tiên Minh Như Hồng Nhật Lệ Trung Thiên Linh Nguyên Quảng Nhuận Từ Phong Phổ Chiếu Thế Chơn Đăng Vạn Cổ Truyền.
142 Chùa này hiện không còn
 




Nguyên nhân là vào những năm đầu thế kỷ XX tại làng Lý Hòa, Hải Trạch, huyện Bố Trạch một ông hương kiểm mà tục danh gọi là ông Kiểm Ôi. Ông này thường vào miền Nam buôn bán, về sau xuất gia với Thiền sư Chơn Thanh Từ Văn tại chùa Hội Khánh tỉnh Bình Dương. Sau khi thọ giới, ông Kiểm Ôi trở lại quê nhà tu tập tại chùa Vĩnh Phước.
Tại chùa Quan Âm (Đức Trạch, Bố Trạch) hiện có thờ một ngôi long vị được chuyển đến từ chùa Vĩnh Phước trước đây. Nội dung long vị ghi: “Nam kỳ Hội Khánh tự Lâm Tế chánh tông tam thập cửu thế húy thượng ẤN hạ LONG hiệu THIỆN QUỚI Hòa thượng Tổ Sư (Thập nguyệt nhị ngũ chánh kỵ) và Tứ thập thế húy thượng CHƠN hạ THANH hiệu TỪ VĂN Quốc Ân Đại Hòa thượng (Thập nhất nguyệt nhị thập lục chánh kỵ)”143.
Có lẽ ngôi long vị này do chính ông Kiểm Ôi phụng lập để thờ chung Bổn Chơn Thanh Từ Văn (đời 40 dòng Chúc Thánh) và Sư ông Ấn Long Thiện Quới [Quý] (đời 39 dòng Chúc Thánh) sau khi từ Bình Dương trở về quê Quảng Bình hành đạo. Và như vậy, nếu ông Kiểm Ôi xuất gia với Hòa thượng Chơn Thanh Từ Văn thì chắc hẳn ông phải có pháp danh đứng đầu là chữ “Như”144, thuộc đời 41 dòng Chúc Thánh.
Về sau, có lẽ thầy Kiểm Ôi đã cùng với đệ tử của mình ngài Thị Bào Tâm Nhơn lập một ngôi chùa ở làng Trung Đức (xã Đức Trạch, Bố Trạch) lấy tên là “Vĩnh Thanh tự”. Sau khi thầy Kiểm Ôi viên tịch, ngài Thị Bào Tâm Nhơn tiếp tục kế thừa trụ trì cả hai ngôi chùa Vĩnh Phước Vĩnh Thanh. Trải qua chiến tranh ly loạn, năm 1968 chùa Vĩnh Phước bị bom Mỹ đánh sập, chùa Vĩnh Thanh về sau cũng lụi tàn nên không còn lưu lại nhiều tự tích.
Hiện chúng ta chỉ biết được ngài Thị Bào Tâm Nhơn các đệ tử pháp danh chữ “Đồng” như: một vị là Hồ Ngàn, pháp danh Đồng Văn kế thế trú trì chùa Vĩnh Thanh sau khi ngài Thị Bào Tâm Nhơn viên tịch (vào thập niên 80 của thế kỷ XX); một đệ tử vào hành đạo tại Lâm Đồng, đó là cố Hòa thượng Thích Thiện Phước, pháp danh Đồng Quả hiệu Trang Nghiêm, nguyên Phó ban Trị sự kiêm Giám luật Giáo hội Phật giáo tỉnh Lâm Đồng. Và tại đình làng Lý Hòa (Hải Trạch, Bố Trạch) hiện chúng tôi còn tìm thấy một tờ phái quy y145 (bản dập từ ván khắc) mà ngài cấp cho đệ tử Trần Đăng Doãn pháp danh Đồng Y vào ngày mồng 8 tháng 10 năm Canh Dần



143 Long vị hiện được phụng thờ tại chùa Quan Âm, xã Đức Trach, huyện Bố Trạch.
144 Trải qua chiến tranh, chùa Vĩnh Phước đã hoang tàn (nay vừa được trùng tu) nên tự tích về ngài Kiểm Ôi không truy tầm được, chưa xác định được thế danh cũng như Pháp danh, pháp hiệu của ngài.
145 Lá phái này hiện được lưu giữ tại đình làng Lý Hòa, xã Hải Trạch, huyện Bố Trạch.
 




[1950]146. Vị Trần Đăng Doãn pháp danh Đồng Y này có truyền xuống một đệ tử, đó là ông Hoàng Văn Dự, pháp danh Chúc Bình hiện vẫn đang sinh sống tại thôn Đông Đức, xã Đức Trạch (Bố Trạch, Quảng Bình).
    1. Dòng Quốc Ân
Khi nói đến Phật giáo Quảng Bình, phải nói đến sự đóng góp tích cực của dòng Quốc Ân trong phong trào chấn hưng Phật giáo. Chúng ta được biết vào năm Minh Mạng thứ 6 [1825], Thiền sư Tiên Ngộ Gia Hội, đệ tử Thiền sư Tổ Ấn Mật Hoằng truyền thừa đời 37 tông Lâm Tế đã trùng hưng cổ tự Kim Phong trên núi Thần Đinh. Đồng thời, Quảng Bình cũng chính là quê hương của các Thiền sư Như Thông Đắc Ân (trụ trì chùa Quốc Ân và Thiên Mụ); Như Đông Đắc Quang (trụ trì chùa Quốc Ân)… là những bậc danh Tăng của Phật giáo xứ Huế đầu thế kỷ XX. Chính nhị vị Tổ sư Đắc Ân, Đắc Quang đã un đúc tác thành giới thân huệ mạng cho Hòa thượng Hồng Tuyên Chánh Giáo, người đóng vai trò then chốt trong phong trào chấn hưng Phật giáo tại Quảng Bình.
Sau khi vào thọ giáo tu học với Thiền sư Như Thông Đắc Ân tại chùa Quốc Ân (Huế), Hòa thượng Hồng Tuyên đã trở về quê nhà làng Đức Phổ, xã Đức Ninh, huyện Quảng Ninh (nay là thôn Đức Trường, phường Đức Ninh Đông, thành phố Đồng Hới) khai sơn chùa Phổ Minh vào năm 1920 để tu tập và hành đạo. Từ đây, chùa Phổ Minh trở thành trung tâm đào tạo Tăng tài, góp phần không nhỏ cho phong trào chấn hưng Phật giáo Quảng Bình nói riêng và Phật giáo Việt Nam nói chung.
Di chỉ của dòng Quốc Ân hiện còn lưu giữ được tại Quảng Bình gồm ba tư liệu quý: (1) Mộc bản điệp thế độ147; (2) Điệp đàn Tỳ-kheo148 của Thiền sư Lệ Hương; (3) Bản “Chánh pháp nhãn tạng”149 của Thiền sư Lệ Hương.
  1. Về “Mộc bản điệp thế độ”: đây là bản khắc gỗ dùng để in phái cấp cho đệ tử xuất gia, có kích thước: dài 55cm, rộng 37cm, dày 5cm; gồm 2 mặt: mặt trước khắc nội dung lòng điệp thế độ có dẫn nguyên dòng kệ phái Quốc Ân; mặt sau chỉ thấy chạm khắc đường viền xung quanh, lòng để trống.




146 Ở tờ phái quy y này hai điều đáng quan tâm:
    • Thứ nhất: Tờ phái ghi tên chùa là “Vĩnh Thanh tự” nhưng lại đóng dấu “Vĩnh Phước tự, Lý Hòa thôn”. Điều này xác quyết rằng chùa Vĩnh Thanh có mối liên hệ mật thiết với chùa Vĩnh Phước.
    • Thứ hai: Nơi dòng ghi Bổn truyền thọ được khắc ghi như sau: “Tự Tào Động chánh tông tứ thập nhị thế húy THỊ BÀO Bổn truyền thọ”. Cách ghi này có lẽ do sự nhầm lẫn của thầy Kiểm Ôi hoặc ngài Thị Bào Tâm Nhơn, bởi phần trước thì khắc bài kệ của Tổ Minh Hải Pháp Bảo nhưng phần sau thì ghi là “Tào Động chánh tông”.
147 Mộc bản này đang được lưu giữ tại nhà thầy Hồ Đăng Hới (pháp danh Trung Cảnh, đệ tử ngài Lệ Hương).
148 Điệp đàn Tỳ-kheo” này hiện được trân tàng tại chùa Quan Âm.
149 Bản “Chánh Pháp Nhãn Tạng” hiện được trân tàng tại nhà thầy Hồ Đăng Hới (đệ tử ngài Lệ Hương).
 



 
  1. Về điệp đàn Tỳ-kheo của thầy Lệ Hương: Điệp đàn được in trên tờ giấy dó khổ lớn, kích thước 50,5cm x 40cm, được trang trí một cách trang trọng. Viền trên khắc hai con rồng chầu vào nhau, hai bên dọc xuống cũng khắc hai con rồng, viền dưới thì khắc hình hoa sen.
Kích thước, cách bài trí và nội dung lòng điệp cũng khác hẳn những bản “Hộ Giới điệp” mà ta thường thấy ở Huế. Bên phải lòng điệp là dòng chữ: “Phổ Minh tự Giáo hội Tăng-già An cư lập Giới hương trường”. Bên trái lòng điệp có dòng chữ: “Phật lịch nhị thiên ngũ bách thập ngũ niên, tuế thứ nhâm thìn thất nguyệt thập ngũ nhật”. Như vậy bản giới điệp này được Hòa thượng Hồng Tuyên cho khắc in trong lần mở Đại giới đàn vào ngày 15 tháng 7 âm lịch năm Nhâm Thìn [1952] tại chùa Phổ Minh sau khi mãn hạ ba tháng an của chư Tăng.
Thành phần Hội đồng Thập sư như sau:
Đường đầu: Hòa thượng Hồng Tuyên Chánh Giáo Từ Thông
Yết-ma A-xà-lê: Hòa thượng Từ Tường
Giáo thọ A-xà-lê: Hòa thượng Huyền Cơ
Tôn chứng: Đệ nhất: Đại sư Thiền Hải; Đệ nhị: Đại sư Thiền Chơn; Đệ tam: Đại sư Thiền Quang; Đệ tứ: Đại sư Thiền Viên; Đệ ngũ: Đại sư Pháp Tạng; Đệ lục: Đại sư Đồng Chơn; Đệ thất: Đại sư Thiền Ấn.
Dẫn thỉnh: Đệ nhất: Đại sư Thiền Phong; Đệ nhị: Đại sư Thiền Thâm; Đệ tam: Đại sư Diệu Hạnh; Đệ tứ: Đại sư Diệu Thể.
Căn cứ vào hồng danh Tam sư, Thất chứng và Tứ vị dẫn thỉnh, ta thấy có đến 7 vị đệ tử của Hòa thượng Hồng Tuyên150 tham dự vào Hội đồng Thập sư, trong đó 5 vị ở ngôi Tôn chứng và 2 vị ở ngôi Dẫn thỉnh. Điều này chứng tỏ rằng, từ năm 1920 đến năm 1952, hơn 30 năm nỗ lực đào tạo Tăng tài, Hòa thượng Hồng Tuyên đã đào tạo được nhiều đệ tử xuất sắc am tường giới luật nên được mời tham dự vào Hội đồng Thập sư tại giới đàn này.
  1. Về bản “Chánh pháp nhãn tạng” của thầy Lệ Hương
Đây là bản “Chánh pháp nhãn tạng” do Thiền sư Nhật Tường Quảng Phát Thiền Chơn phú pháp cấp cho đệ tử Lệ Hương Quảng Thọ Vĩnh Hưng vào ngày 15 tháng 01 năm Kỷ Dậu [1969].
Bản “Chánh pháp nhãn tạng” còn khá mới, được bảo quản rất cẩn thận tại gia đình thầy Hồ Đăng Hới (pháp danh Trung Cảnh, đệ tử thầy Lệ Hương) tại thôn Trung



150 Hòa thượng Hồng Tuyên phú pháp cho đệ tử bằng chữ THIỀN đứng đầu. Vì thế các vị có pháp hiệu chữ THIỀN đều là đệ tử của ngài.
 




Đức, xã Đức Trạch, huyện Bố Trạch. Về nội dung, có hai điểm trong bản “Chánh pháp nhãn tạng” này chúng ta cần bàn như sau:
  • Thứ nhất: Thế thứ các đời pháp không đúng với kệ dòng Quốc Ân. Căn cứ vào pháp kệ dòng Quốc Ân thì các đời pháp chữ Như (đời 39), chữ Hồng (đời 40), chữ Nhật (đời 41), chữ Lệ (đời 42). Tuy nhiên trong bảng “Chánh pháp nhãn tạng” này lại ghi là: Như (đời 42); Hồng (đời 43), Nhật (đời 44), Lệ (đời 45), tức chênh lệch tới 4 đời.
Sở dĩ sự chênh lệch này là do ngài Như Diệu cầu pháp với Hòa thượng Thanh Thái Phước Chỉ chùa Tường Vân (Huế) nên có pháp hiệu Tịnh Diệu (đồng hàng với các ngài Tịnh Nhãn, Tịnh Hạnh, Tịnh Khiết...). Vì thế, trong bản “Chánh pháp nhãn tạng” ghi thế thứ tính theo pháp kệ dòng Liễu Quán chứ không tính theo pháp kệ dòng Quốc Ân.
  • Thứ hai: Về mối liên hệ giữa Hòa thượng Tịnh Diệu và Hòa thượng Hồng Tuyên: theo sử liệu cho biết, Hòa thượng Hồng Tuyên xuất gia tại chùa Quốc Ân với Tổ sư Đắc Ân151. Tuy nhiên ở bản “Chánh pháp nhãn tạng” này không thấy ghi tên ngài Đắc Ân trước ngài Hồng Tuyên mà ghi ngài Như Diệu Tịnh Diệu. Như vậy, giữa Hòa thượng Như Diệu Tịnh Diệu và Hòa thượng Hồng Tuyên Từ Thông có mối liên hệ như thế nào?
Được biết, các ngài xuất thân từ Tổ đình Quốc Ân gồm có: Như Hán, Như Thông, Như Diệu, Như Đông..., và đều đệ tử của Thiền sư Minh Đức Bửu Tích (trụ trì Quốc Ân, Tăng cang Thiên Mụ)152. Sau khi bổn sư viên tịch, ngài Như Hán y chỉ với Tổ Hải Thiệu Cương Kỷ nên còn có pháp danh Thanh Hy hiệu Nguyên Cát; các ngài Như Thông, Như Đông y chỉ lại sư huynh Như Hán nên có pháp hiệu Đắc Ân, Đắc Quang; còn ngài Như Diệu y chỉ Tổ sư Thanh Thái Phước Chỉ chùa Tường Vân nên có pháp hiệu Tịnh Diệu. Vì thế, trong các bản “Chánh pháp nhãn tạng” có ghi ngài Minh Đức Bửu Tích trở về trước nên chúng ta không thể truy nguyên sự truyền thừa của dòng Quốc Ân từ Tổ Nguyên Thiều xuống đến các ngài Như Hán, Như Diệu, Như Thông, Như Đông... như vừa nêu.
Ngài Tịnh Diệu từng được Bộ Lễ Nam triều cử làm trụ trì chùa Thiền Lâm, Huế. Tại đây còn bảo tháp và long vị thờ ngài. Văn bia bảo tháp cho ta biết ngài viên tịch vào mùa xuân năm Giáp Ngọ [1954]. Lòng long vị thờ tại bàn tổ ghi: “Sắc tứ trụ trì trùng hưng Thiền Lâm tự tự Lâm Tế tứ thập nhị thế thượng NHƯ hạ DIỆU húy VĨNH THỪA hiệu TỊNH DIỆU Đại sư Giác linh tọa vị”.


151 Trí Quang tự truyện, trang 14, Nxb.TP.HCM, 2011.
152 Hiện nay vẫn chưa tư liệu nào ghi lại hành trạng của Tổ Minh Đức Bửu Tích





Như vậy, căn cứ vào bản “Chánh pháp nhãn tạng” trên cho chúng ta biết: Hòa thượng Hồng Tuyên là đệ tử xuất gia của ngài Như Thông Đắc Ân và là đệ tử cầu pháp của ngài Như Diệu Tịnh Diệu.
  1. Kết luận
Qua khảo sát cho thấy, trong quá khứ Phật giáo Quảng Bình đã sự hiện diện đầy đủ của các dòng phái tông Lâm Tế, và chính các dòng thiền ấy đã góp phần không nhỏ dệt nên những trang sử huy hoàng của Phật giáo Quảng Bình.
Tùy vào từng giai đoạn lịch sử mỗi dòng phái đều đóng vai trò nhất định trong sự hình thành, phát triển của Phật giáo Quảng Bình. Theo đó, kể từ đầu thế kỷ XIV đến khoảng năm 1633153 (thời kỳ du nhập và phát triển), thể dòng thiền Trúc Lâm đóng vai trò chủ đạo ở đây; từ 1633 đến khoảng 1825154 là giai đoạn hưng thịnh của dòng Trí Bản Đột Không dòng Thập Tháp tại Quảng Bình; từ 1825 đến 1968155 là giai đoạn dòng Quốc Ân và dòng Chúc Thánh đóng vai trò chấn hưng, trong đó dòng Quốc Ân giữ vai trò chủ đạo; khoảng từ 1968 đến 2008 là giai đoạn thoái trào của Phật giáo Quảng Bình; từ 2009 đến nay, với sự ra đời của Ban Trị sự Phật giáo tỉnh, Phật giáo Quảng Bình đang được hồi sinh.
Mặc dù Phật giáo Quảng Bình đã trải qua những giai đoạn cam go như vậy, nhưng rất may chính nhờ có những vị sư ứng phú tại gia mà hạt mầm bồ-đề vẫn còn được ấp ủ trên mảnh đất này, đó là điều hết sức trân quý. Chính nhờ sự gia tâm của các vị ấy gìn giữ những đốm lửa còn lại mà hôm nay chúng ta mới còn cơ duyên để tiếp cận những văn bản, tư liệu quý hiếm, điều mà ai cũng ngỡ sẽ không bao giờ tìm thấy trên đất Quảng Bình.












153Tức tính từ khi Phật hoàng Trần Nhân Tông đến trại Bố Chính năm 1301; còn mốc 1633 là thời điểm ngài Viên Văn Chuyết Chuyết ra Bắc hành hóa và có dừng chân lại Thanh Hóa; đó chính cũng là thời điểm ngài Chân Quang Đà Lâm được Hân Thọ hầu Hà Phúc Chỉnh - cháu nội của vị khai canh thôn Xuân Mai (xã Mai Hóa, huyện Tuyên Hóa) thỉnh rước từ Thanh Hóa vào đây hành đạo.
154 Tạm tính từ thời ngài Viên Văn Chuyết Chuyết du Bắc đến năm ngài Tiên Ngộ Gia Hội trùng hưng lại chùa cổ trên núi Thần Đinh.
155 Từ mốc ngài Tiên Ngộ Gia Hội tái lập chùa Kim Phong cho đến khi ngài Hồng Tuyên Từ Thông - người đóng vai trò then chốt trong phong trào chấn hưng Phật giáo Quảng Bình tiền bán thế kỷ XX viên tịch.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây