06 - TS. Nguyễn Khắc Thái - PHẬT GIÁO TRÊN HÀNH TRÌNH MỞ CÕI QUA VÙNG ĐẤT QUẢNG BÌNH

Thứ hai - 16/12/2019 02:54
PHT GIÁO TRÊN HÀNH TRÌNH MỞ CÕI QUA VÙNG ĐẤT QUẢNG BÌNH
 

TS. Nguyễn Khắc Thái*

“Quảng Bình” là danh xưng thiêng liêng của một vùng đất nằm ở vị trí trung lộ của cả nước, nơi giao hội giữa các yếu tố t nhiên văn hóa của c hai miền Nam - Bắc. Tên gọi Quảng Bình chỉ mi xuất hiện khi Tiên chúa Nguyễn Hoàng theo lời khuyên Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân của Trạng Trình Nguyễn Bnh Khiêm để quyết định dựng nghiệp xứ ở Đàng Trong, bắt đầu t Ô châu khc nghiệt và nghèo khó, cách ngày nay đã trên 400 năm. Tuy nhiên lịch sử Quảng Bình không phải chỉ bắt đầu từ đó. Cộng đồng cư dân sinh sống trên vùng đất này đứng chân ở đây từ thi tin sử và khi dựng những trang lch sử của mình qua hàng vạn năm, trải bao biến thiên, thăng trầm để tồn tích và xếp lớp các giá trị văn hóa vật chất và tinh thần đã được trao truyền qua nhiều thế hệ, cho tới hôm nay. Một trong những giá trị văn hóa đã đồng hành cùng lịch sử Quảng Bình xuyên qua cả nghìn năm dựng nước và giữ nước chính văn hóa Phật giáo.
Trên vị trí là vùng biên viễn của các tập đoàn và các quốc gia phong kiến thi cổ trung đại, vùng đất Quảng Bình đã có cơ hội tiếp nhận sự lan ta của Phật giáo trong cả một chui dài lch sử vi rất nhiều thăng trầm.
Ngay từ trong thiên niên k th nhất – thời k thnh trị của Chăm-pa, Phật giáo đã có một chỗ đứng quan trọng trong các tầng lp xã hội ở địa bàn phía nam dãy Hoành Sơn. Sự xuất hiện và tồn tại cho đến ngày nay nhiều di tích tác phm kiến trúc, điêu khắc, bi văn còn lưu giữ dấu vết tại Mỹ Đức, Đại Hữu, Quảng Cư, Phong Nha, Hoành Sơn, Cao Lao, Uẩn Áo... cho thấy Quảng Bình là một trung tâm Phật giáo quan trọng108.
Con đường truyền bá Phật giáo đến các vương quốc c ở Đông Nam Á, trong đó có Chăm-pa, đã hình thành từ những thế kỷ đầu Công nguyên. Các triều đại trong lịch sử những tiểu quốc Chăm đã tiếp nhận Phật giáo bằng nhiều cách và theo từng mức độ khác nhau. Tuy nhiên, trải qua chiến tranh và loạn ly, cùng với khủng hoảng chính tr dẫn tới sự suy tàn của vương quốc Chăm-pa, Phật giáo trên vùng đất biên viễn Quảng Bình đã rơi vào một khoảng lặng trong những thế kỷ cuối cùng của thiên niên

  • Nguyên Giám đốc Trung tâm Tin học & Công nghệ, Sở Khoa học - Công nghệ tỉnh Quảng Bình
108 Dẫn liệu của Nguyễn Hữu Thông trong: “Nguyễn Khắc Thái, Lịch sử Quảng Bình từ tiền sử đến thế kỷ XX”, Nxb. Chính Trị - Hành Chính, Hà Nội 2014, tr.81.
 
kỷ th nhất, nhưng đã để li những di sản nghệ thuật điêu khắc hết sức giá trị109. Sau khong lặng ấy, Phật giáo trên địa bàn Quảng Bình đã có cơ hội phục sinh kể t khi quốc gia Đại Việt ra đời, lấy Phật giáo làm quc giáo và lan tỏa theo hành trình của công cuc mở cõi về phương Nam.
Kể t năm 1069, với việc vùng đất Quảng Bình và một phần đất phía bắc Qung Trị xưa được sáp nhập vào quốc gia Đại Việt, lãnh thổ quốc gia Đại Việt đã m rộng qua phía Nam dãy Hoành Sơn (Đèo Ngang), mở đầu cho công cuộc mở cõi về phương Nam trong gần một thiên niên kỷ phát triển của các vương triều phong kiến Việt Nam độc lập, tự chủ.
Giữa thế k th XI, khi hai châu Bố Chính và Lâm Bình thuộc vùng đất Quảng Bình xưa về với quốc gia Đại Việt cũng lúc triều đại nhà Lý bước vào giai đoạn hưng thịnh. Dưới triều vua Lý Nhân Tông, đất nước thái bình, thịnh tr, quan lại một lòng phụng sự đất nước, nhân dân chăm chỉ làm ăn. Sách xưa khen Nhân Tông “là người sáng suốt, khôn ngoan, nhân hiền, hiếu nghĩa. Vua nghe theo lời can ngăn, cầu kẻ hin tài, ít tạp dch, thuế khóa nhẹ. Bấy giờ nước ln phải sợ, nước nhỏ phải mến, thân giúp người theo, dân thì đông giàu, mình thì thái bình. Thực ông vua giỏi ở triều Lý”110. Đó là cơ hội không gì tốt hơn để Phật giáo phát triển và đóng góp phần mình vào sự nghiệp quc thái, dân an.
Hiện nay chưa có nhiều tài liệu phản ánh cấu dân cư vùng đất Quảng Bình đầu thiên niên kỷ th II, nhưng những diễn biến cho thấy đến đầu thế kỷ th XI trở đi, trên vùng đất hai châu Bố Chính, Lâm Bình vẫn tồn tại cả ba cộng đồng là người Vit bản địa, người Chăm và người Việt di cư. Để kết nối 3 cộng đồng này trong một địa bàn thống nhất, chính quyền các triều đại Lý, Trần không cách nào khác ngoài vic dựa vào Phật giáo. Trong khi đó Phật giáo đang chiếm địa vị độc tôn đối với cư dân từ phía bắc, li là nền tảng có tính truyn thống của cư dân phía nam nên sự hòa hợp đức tin đã diễn ra một cách nhanh chóng. Nhờ vậy, hệ thống thiết chế Pht giáo lan tỏa mạnh mẽ trên vùng đất này. Rất tiếc là chiến tranh, loạn lạc đã phá hoại nhiều di sản Phật giáo thời k này nên chứng tích về Pht giáo Lý - Trần trên đất Quảng Bình rất m nht.
Dưới thời Lý, đầu thời Trần, Phật giáo chiếm địa vị độc tôn, nhưng sang đến cuối đời Trần đã bắt đầu suy giảm; khi bước sang thời nhà Lê, Nho giáo đã tranh thủ được chỗ dựa của chính quyền nhà Lê để ln át Phật giáo và trở thành hệ tư tưởng

109 Dẫn liệu của Nguyễn Hữu Thông, Sđd, tr.108.
110 Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, tập 1 (bản dịch), Nxb. Sử Học, Hà Nội 1969, tr.160.
 
chính thống của chế độ phong kiến. Chính quyền phong kiến nhà Lê lấy Nho giáo làm mẫu mực cho việc điều hành đất nước, trị dân, làm khuôn mu cho việc xây dựng các thiết chế chính trị xã hội. Nho giáo khi truyền bá sang nước ta đã có sự biến đổi cho phù hợp với yêu cầu biến đổi xã hi.
Lê Thánh Tông còn da vào triết thuyết Nho giáo, vận dụng vào luân thường, đạo lý trong truyền thống văn hóa của người Việt Nam để son và ban hành 24 huấn điều là cơ sở giáo dục đạo đức, trật tự và các quan hệ trong đời sống xã hội của người Vit Nam111.
Tuy nhiên, bên cạnh những luân lý mà chính quyền phong kiến lấy từ Nho giáo để áp đặt vào xã hội Việt Nam thì nhân dân vẫn bảo lưu những giá trị văn hóa dân tộc mà đôi khi những giá tr ấy không hoàn toàn đồng nhất với những luân Nho giáo khuôn mẫu theo kiểu Trung Quốc mà giai cấp phong kiến muốn áp đặt lên xã hội. Trong điều kiện Nho giáo phát triển mạnh mẽ, trở thành nền tảng tư tưởng của chế độ phong kiến dưới triều Lê và được coi như một quốc giáo, triều đình nhà Lê tuy không ngăn cấm Phật giáo nhưng đã ban bố những chính sách hạn chế s phát trin của tôn giáo này. Lê Thánh Tông đã ban hành sắc chỉ “cấm không cho làm chùa mới, để tiền của và công phu làm việc có ích”112. Tuy nhiên, do Phật giáo thâm nhập vào Việt Nam đã trên nghìn năm, trong thời kỳ các quốc gia phong kiến Việt Nam mới giành được độc lập (Đinh - Tiền Lê – - Trần) đã coi Phật giáo quốc giáo, hầu như vùng nào cũng có lập chùa, làng nào cũng có chùa (gọi là chùa làng) nên tư tưởng Phật giáo đã ăn sâu vào nếp sống của nhân dân. Bi thế, mặc dù Nhà nước không khuyến khích nhưng hầu như dân bản địa cũng như dân di cư, khi lập làng đều cố gắng góp công sức xây dựng chùa. Cùng với việc di dân lập ấp, các thiết chế Pht giáo là các chùa vẫn đi theo cùng với người dân đi khai phá. Trong điều kiện Phật giáo vẫn đang tồn tại, thậm chí một số địa phương vẫn còn thịnh hành, Nhà nước đã tăng cường quản lý hoạt động của tăng nhân trong khuôn khổ đào tạo của Nhà nước và giáo hội. Nhà Lê quy định: “Những tăng nhân (Phật, Lão) cũng phải khảo hạch, ai hỏng thi phải hoàn tục”113. Chính nhờ có sự quản lý này mà Phật giáo tuy không được khuyến khích phát triển nhưng hệ thng giáo hội vẫn tồn tại được sự tín nhiệm của cộng đồng.
Ngoài những chùa làng do dân tự lp, phục vụ cho các cư sĩ những người ngưỡng vọng trong làng (có th mời sư về trtrì hoc do làng cử người trông coi) thì

111Xem thêm nội dung 24 huấn điều được dẫn trong: Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, Nxb. Văn Hóa Thông Tin, Hà Nội 2002, tr.260.
112Trần Trọng Kim, Sđd, tr.260.
113 Phạm Văn Sơn, Việt sử tân biên, Trần – Lê thời đại, Văn Hữu Á châu xuất bản, 1958, tr.493
 
Pht giáo vẫn duy trì h thng các chùa thuộc giáo hội quản lý, cắt c nhà sư có uy tín, đã qua khảo thí ca triều đình và giáo hội đến trụ trì và hầu hết các ngôi chùa này đều là chùa lớn, phạm vi ảnh hưởng c mt vùng. Theo ghi chép của Dương Văn An, ở phủ Tân Bình bấy giờ đã có các chùa như: chùa Cảnh Phúc ở Cảnh Dương; chùa Quan ÂmB Khê (lập năm Hồng Đức thứ 3 [1473]); huyện Khang Lc (nay là Quảng Ninh) có chùa Hoá; huyện Lệ Thuỷ chùa Kính Thiên và chùa Đại Phúc. V chùa Kính Thiên, ngôi chùa ni tiếng trong vùng Lệ Thủy, Khang Lộc, sách Ô châu cận lục chép: “Chùa Kính Thiên ở gần trạm Bình Giang huyện Lệ Thuỷ. Nước biếc uốn quanh, núi xanh chầu về. Hẳn nhiên là một ngôi chùa núi u tch, một cõi thần tiên vậy. Nhà cửa, thôn xóm chẳng xa nhưng tuyệt nhiên không nghe thấy tiếng gà gáy, chó sa. Thật là một ngôi chùa lớn ở Tân Bình vậy. Chùa có đại hồng chung nặng ngàn cân. Có tăng quan và người quét dọn, bốn mùa phụng thờ...”. Về chùa Đại Phúc, Dương Văn An viết : “Chùa tại địa phận hai làng Đại Phúc và Tuy Lộc huyện Lệ Thuỷ. Sông cái quanh phía trước, khe nh vòng bên hữu. Cu bắc qua phía nam, phía đông bắc lại chợ đông đúc. Phía trong tam quan cao lớn, điện Phật tôn nghiêm. Như cảnh hoa cỏ ngắm mặt trời, lâu đài bên mép nước. Đây là một cõi thanh tịnh bậc nhất. Ngày Tết hoặc lễ nghi thì lễ nhạc tươi sáng như sao, áo mũ như vẽ. Đây là một danh lam bậc nhất Tân Bình. Lại thêm cầu phước hay đảo vũ đều có ứng nghiệm rõ ràng”. Chùa Hoá “ở gần làng Hữu Bổ thuc huyện Khang Lộc, bốn mặt bên ngoài là đầm nước mt mờ, ở giữa nổi cao một gò đất, rng cây rợp bóng… Tục truyền chùa này biến hóa bất thường. Người rảnh rang đến chơi thy nền cũ rành rành. Nếu cố ý tìm kiếm thì mt mờ chẳng thấy. Bi thế nên tên chùa là Hoá vậy”114.
Vượt qua những khó khăn trong thời kỳ - Mc, Phật giáo trên địa bàn Quảng Bình cơ hội phục sinh dưới thời các chúa Nguyễn được chúa Nguyễn coi là một kế sách về tinh thần để tạo sự hòa đồng giữa cộng đồng di cư và nhóm cư dân bản địa.
Cc diện Đàng Ngoài - Đàng Trong và phân tranh Trịnh - Nguyễn kéo dài hơn hai trăm năm, khiến đất nước lâm vào một cuộc khủng hoảng sâu sc và toàn diện. Để tn tại trong bi cảnh đó, các chúa Nguyễn đã tập trung mọi khả năng để gii quyết hai việc lớn là xây dựng vùng đất Thuận Hóa thành pháo đài “Bắc cự” mà vùng đất Quảng Bình tiền tiêu, thực hiện kế sách m cõi về phương Nam để

114 Dương Văn An, Ô châu cận lục (Trần Đại Vinh, Hoàng Văn Phúc dịch chú - hiệu đính), Nxb. Thuận Hóa, Huế 2001, tr.94-95.
 
to thế vững chắc, lâu dài. Việc xây dựng thế cầm cự với chúa Trịnh ở phía Bắc quá trình m cõi v phía Nam là hai việc làm diễn ra đồng thi, hỗ trợ cho nhau.
Để xây dựng thế cầm c vi chúa Trịnh ở phía Bắc, bên cạnh việc tăng cường sức mạnh quân sự, các chúa Nguyễn hết sức coi trọng việc tạo lập nền tảng kinh tế - xã hội, làm ch đứng chân vững chắc cho sự nghiệp xây dựng Nam Hà. Riêng đối vi xứ Thuận Hóa, nơi mà chúa Nguyễn coi là trọng trấn và châu Nam B Chính, phủ Quảng Bình lại là đất “phên giậu” trong cuộc chiến vi quân Trịnh ở phía Bắc, các chúa Nguyễn đã tập trung xây dựng một nền tảng xã hội ổn định và vững mạnh, đặng hậu thuẫn cho quân đội nhà chúa thực hiện chiến lược “Bắc cự”. Và, chỗ dựa tinh thần để đoàn kết nhân dân, thống nhất ý chí trong công cuộc mở nước vẫn là Pht giáo.
Mt trong những thành công về mthi của Tiên chúa Nguyễn Hoàng để làm nền tảng cho sự hưng thịnh Phật giáo chính là tạo ra sự ổn định của hệ thống làng xã. Có thể nói, nếu thi Lý - Trần đã đặt nền móng căn bản cho sự hình thành làng xã Việt ở Quảng Bình, thời Lê mở rộng, phát triển làng xã lan ta khắp địa bàn thì đến các chúa Nguyễn, làng xã Việt ở Quảng Bình đã đi vào ổn định. Theo quan niệm “làng xã là một cộng đồng có tính chất dân tộc học, xã hội học và tín ngưỡng... hình thành trong quá trình t nguyện giữa người dân lao động trên con đường chinh phục những vùng đất gieo trồng”115 thì chính trong thời kỳ hưng thịnh của các chúa Nguyễn ở xứ Đàng Trong, cấu trúc và văn hóa làng xã Quảng Bình đã có một din mạo ổn định c trên phương diện “dân tộc học, xã hội học và tín ngưỡng”, mà nhân t khi phát chính là sự liên minh tự nguyện.
Khi xây dựng thế lực cát cứ và mở cõi vào Đàng Trong, bên cạnh sự đối lập quân sự với Đàng Ngoài, chúa Nguyễn còn được đặt trước thử thách về s thích nghi, hòa hợp vi nền tảng văn hóa cộng đồng đa sắc tộc của vùng đất mi. Học giả Li Tana nhận định: “Người Việt, đặc biệt là vào thời kỳ đầu của lch sử Đàng Trong, chỉ là một trong số những dân tộc chính tại đây và lại định cư trên một vùng đất nước trước đây có người khác sinh sống. Phải đương đầu vi họ Trịnh ở phía Bắc, họ Nguyn hẳn không thể gây thêm kẻ thù để s phải bị tn công từ phía hông hoặc t phía sau... Họ Nguyễn mặc dù đang bận bịu với nhiều công việc, cũng cố tìm cách
115 Nông thôn Việt Nam trong lịch sử, Nxb. KHXH, Hà Nội 1977, tr.11.
 
thiết lập các liên minh thay chng lại”116. Chính vì vậy, tạo sự hòa hp và thích nghi giữa các cộng đồng dân cư là yếu tố sống còn của chính quyền chúa Nguyễn.
Bên cạnh vấn đề tìm s hòa hp với cộng đồng cư dân sở ti ở Đàng Trong, mt vấn đề khá hệ trọng trong đời sống tinh thần đặt ra với các chúa Nguyễn chính là tôn giáo và tín ngưỡng. Chúa Nguyễn ly khai từ một vương triều (Lê) mà Phật giáo đã mất địa vị độc tôn, thay vào đó là sự “lên ngôi” của Khổng giáo cả trong trật t vương triều, chính quyền lẫn trong đời sống xã hội. Nhưng liệu trật tự đó có thể mang theo vào trong hội Đàng Trong, nơi mà ảnh hưởng của văn hóa Chăm, của Pht giáo vẫn chưa mất đi, nơi mà tập quán cộng đồng ci mở có thể khiến cho cương thường của Nho giáo trở nên xa lạ. Người Việt di cư đến vùng đất mới, họ vừa ngỡ ngàng trước những di sản văn hoá mới, vừa chịu sức ép tâm lý của người tha phương nên họ phi tìm sự thích nghi với bản xứ.
Trong bối cảnh ấy, chính quyền của các chúa Nguyễn đã tìm được một lối mở về đời sống tinh thần cho xứ Đàng Trong: vừa nuôi dưỡng tinh thần mộ đạo của Phật giáo, vừa giữ kỷ cương, phép nước trên nguyên tắc và giáo lý Khổng giáo, vừa tôn trng di sản văn hóa truyền thống mà người dân bản địa đã và đang mang trong dòng máu của h là Phật giáo và tín ngưỡng dân gian. Về vấn đề này, học giả Li Tana cho rằng các chúa Nguyễn “không thể s dụng Khổng giáo vì những khẳng định cơ bản ca Khổng giáo trực tiếp mâu thuẫn vi vị trí của họ Nguyn bị coi là một chế độ ly khai và nổi loạn vi triều đình”. Li Tana rất đúng khi nhận định: “Họ Nguyn lại không dám đi quá xa và không dám tìm ra một giải pháp hoàn toàn khác biệt vi truyn thống của người Việt ở phía Bắc. Trong những hoàn cảnh đó, Phật giáo Đại thừa đã cung cấp một giải pháp đáp ứng nhu cu của họ Nguyễn. Phật giáo, một mặt đẩy mạnh bản sắc dân tộc của người Việt và mặt khác, làm lắng đọng các mối lo âu của người di dân mà không đặt lại vấn đề về tính hp pháp của những người cai trị…”117.
Như vậy, khi vào trấn thủ phương Nam, Nguyễn Hoàng (và các chúa Nguyễn kế vị) đã thực hiện kế sách “vạn đại dung thân” không chỉ trên phương diện vật chất thuần túy do địa hình núi đèo, non ải, đầm phá, bàu hồ, cồn bãi... xa xôi và hiểm tr, mà còn là sự dung hp bền vững giữa những yếu tố văn hóa. Các chúa Nguyễn đã th hin một thái độ chính trị rất rõ ràng là đối lp với họ Trịnh nhưng không đối lập
116 Li Tana, Xứ Đàng Trong, lịch sử kinh tế - xã hội Việt Nam trong thế kỷ XVII và XVIII (bản dịch của Nguyễn Đình Đầu), Nxb. Trẻ, TP.HCM 1999, tr.173.
117 Li Tana, Sđd, tr.194-195.
 
với vua Lê để mang theo tinh thần Nho giáo vào miền Nam, lại không ngần ngại chấp nhận thái độ tin tưởng vào các thần linh bản địa để hội nhập vào địa hạt tín ngưỡng và trọng thị với Phật giáo để biến bản thân nhà chúa và cộng đồng di cư nhanh chóng hòa nhập, sống đời sống tinh thần của người bản địa. Phan Thanh Hải trong công trình nghiên cu về các thủ phủ thi chúa Nguyễn ở Đàng Trong đã phát hiện ra rằng: “Các thủ phủ chúa Nguyễn đều đặt trên những trung tâm cũ của người Chăm nhưng họ vẫn gi li những Thành Lồi, Cồn Lồi, Miếu Giàng… Qua một thời gian được Việt hoá, các vị thần linh được thờ ở đó đều trở thành những thần linh bản địa của người Việt, trở thành những thế lực phò giúp chúa Nguyn về tâm linh. Chính sách khôn ngoan trên của chúa Nguyễn đã được ứng dụng từ các thủ phủ ra toàn bộ Đàng Trong đạt được sự thành công tuyệt vời”... “Ngay từ khi mi vào trn thủ xThun Hoá, Nguyễn Hoàng đã rất khôn ngoan to ra sự thừa nhận và ủng hộ của các vị thần bản địa đối với ông”118. Cùng đề cập đến vấn đề này, học giả Keith Weller Taylor cũng có nhận định tương tự: “Các giai thoại ghi lại sự gặp gỡ giữa Nguyễn Hoàng với thần linh địa phương và thiết lập nơi thờ cúng gi cho ta thy việc áp dụng một phương thức đặc biệt Việt Nam trong sự thiết lập một địa điểm mi của quyền lực hp pháp, lần đầu tiên tại vùng đất mới phương Nam”119.
Với phương châm xây dựng một xã hội hòa đồng như vậy, dựa vào Phật giáo, các chúa Nguyễn đã tạo ra ở xứ Đàng Trong một đời sống tinh thần hài hòa với mọi tng lớp cư dân.
Đối vi khu vực Bố Chính, Quảng Bình, ngay từ khi mới vào trấn thủ, Nguyễn Hoàng sau đó là các chúa Nguyễn đã mở rộng cánh cửa cho việc chấn hưng Phật giáo. Đoan quận công góp phần giáo hoá thiện tâm cho dân chúng trong vùng bằng cách cho xây nhiều ngôi chùa trên lãnh thổ của mình, trong đó có chùa Kính Thiên ở Thuận Trạch (thuộc Quảng Bình)120. Do nạn can qua, ngôi c t này đã đổ nát, không được trùng tu, tôn tạo một thời gian dài, đến đời chúa Hiển Tông Nguyễn Phúc Chu mới cho tu sa lại. Sau khi trùng tu chùa, chúa sc ban hai biển hiệu - mt biển ngự đề “Kính Thiên tự” và một biển ng đề “Vô song phúc địa”, và ngự chế 
năm cặp đối liễn treo ở chánh điện chùa121. Dù đó chỉ là những dấu tích hiếm hoi về Pht giáo thời chúa Nguyễn trên đất Quảng Bình hiện còn được chính sử lưu lại, nhưng qua đó không chỉ giúp chúng ta thấy được mt thời xương thịnh của Phật giáo trên vùng đất này mà còn là mt minh chứng rõ nét về tư tưởng đề cao Phật giáo của các chúa Nguyễn tại Đàng Trong.
Vi chính sách dung hòa v văn hóa, cùng với việc m rộng nhãn quan tôn giáo, các chúa Nguyễn đã rất quan tâm giữ gìn và khuyến khích phát triển các loại hình văn hóa vật thể, phi vật th.
Có thể nói, sau những gian truân của công cuc mở cõi dưới thi Lý, Trần, Lê, Mạc thì đến thi các chúa Nguyễn, sứ mnh mở cõi đã được hoàn thành để có một đất nước Việt Nam rộng dài như hôm nay. Trong hành trình lớn lao đó, dù phải trải qua nhiều gian truân nhưng Phật giáo luôn đồng hành trong vai trò là trung tâm hòa hp về tinh thần ca các cộng đồng dân cư mà Quảng Bình là một địa bàn tiêu biểu cho những đóng góp lớn lao đó của Phật giáo.

118 Phan Thanh Hải, Vai trò thủ phủ đối với sự ra đời, phát triển của Đàng Trong (Kỷ yếu Hội thảo Thanh Hoá về thời kỳ chúa Nguyễn và nhà Nguyễn), Nxb. Thế Giới, 2008, tr. 45.
119 Keith Wler Taylor, The Birth of Viet Nam, University of California Press, 1983. Tr.180.
120 Theo Phan Viết Dũng trong sách “Quảng Bình thời khai thiết” thì chùa Kính Thiên đã có trước 1555, khi Dương Văn An viết sách Ô châu cận lục đã nhắc đến ngôi chùa này: “Chùa ở gần trạm Bình Giang, huyện Lệ Thuỷ, nước biếc uốn quanh, non sông chầu về. Hẳn nhiên là một ngôi chùa núi u tịch, như một cõi thần tiên vậy”. lẽ Nguyễn Hoàng cho xây dựng lại trên nền chùa cũ. Di tích của chùa Kính Thiên nay vẫn còn tại xã Mỹ Thuỷ, huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình.

121 Đại Nam nhất thống chí, tập 2, Nxb. Thuận Hóa, Huế 2006, tr.73.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây