05 - NNC. Nguyễn Hữu Thông& ThS. Lê Thị Như Khuê - TỪ TÍN NGƯỠNG THỜ “PỤT” TRONG VĂN HÓA NGƯỜI NGUỒN NGHĨ VỀ DẤN ẤN PHẬT GIÁO Ở TÂY QUẢNG BÌNH

Thứ hai - 16/12/2019 02:49
TỪ TÍN NGƯỠNG THỜ “PỤT” TRONG VĂN HÓA NGƯỜI NGUỒN NGHĨ VỀ DẤN N PHẬT GIÁO Ở TÂY QUẢNG BÌNH
 

NNC. Nguyễn Hữu Thông* 
ThS. Lê Thị Như Khuê**

 
  1. Dẫn luận
Nguyễn Đức Cung trong công trình khá dày dn viết về “Quảng Bình - chín trăm năm nhìn lại”72, tác giả đã mở đầu bằng câu trích dẫn nhận định của sử gia nổi tiếng người Anh Arnold J. Toynbee trong tác phẩm The Study of History: Những miền nằm trên miền biên giới đều có sinh lực mạnh mẽ73. Dựa trên những biểu hiện thc tế, chúng tôi nhận ra vùng đất Quảng Bình không chỉ nằm trên vùng biên của một khu trung tâm, nơi đây còn là biên chuẩn, định vị tính chất ấy vi nhiều trung tâm khác74. Có thể nhận ra ở đây dấu ấn ca nhiều mối giao thoa va chạm của

  • Nhà nghiên cứu Văn hóa, nguyên Phân viện trưởng Phân viện Văn hóa Nghệ Thuật Quốc gia Việt Nam tại Huế
** Thạc sĩ, Phân viện Văn hóa Nghệ Thuật Quốc gia Việt Nam tại Huế


72 Nguyễn Đức Cung (2006): Quảng Bình - chín trăm năm nhìn lại (1075-1975), Nxb. Nhật Lệ, USA, tr.5.
73 Arnold J. Toynbee (1971): The Study of History, tác phẩm tóm lược (2 tập) của D.C Somervell, A laurel edition. Dell Publishing Co.
  • Nguyễn Thế Anh (1974): Nhập môn sử học, Sài Gòn, tr.17.
74 Trong bài viết Biên lực trong sinh tồn (Nguyễn Hữu Thông (2014): Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường Thừa Thiên Huế, số 6 [113]), chúng tôi cho rằng, Quảng Bình là vùng đất mang nhiều nét đặc trưng trên vành biên giao tiếp, đó là:
  • Biên điểm của một tầng văn hóa khảo cổ: (“Quảng Bình thật sự là miền đất phía Nam - nếu không nói là ranh giới phía Nam của Văn hóa Đông Sơn” [Lê Đình Phúc (1998): Tiền sử Quảng Bình, Nxb. KHXH, tr.185]).
  • Biên điểm của một “gia đình” ngôn ngữ: Đây chínhnơi xa xôi nhất về phía Nam chúng ta có thể tìm gặp những yếu tố đặc trưng mối quan hệ gần gũi với ngôn ngữ Việt cổ (biên giới phía cực Nam của nhóm ngôn ngữ Việt - Mường).
  • Biên điểm vùng ảnh hưởng văn hóa chịu tác động trực tiếp từ phương Nam: Quảng Bìnhbiên giới cực Bắc của nhà nước Lâm Ấp hay nhà nước Khu Liên. Như nhận định: “Nhà nước Khu Liên ở cuối thế kỷ II trong sách cổ Trung Hoa (Thủy Kinh Chú) có lẽ chỉ là sự tái sinh hay hồi sinh của nhà nước cổ Sa Huỳnh” (Trần Quốc Vượng [Chủ biên] [1985]: Những di tích thời tiền sử sử ở Quảng Nam - Đà Nẵng, Nxb. Đà Nẵng, tr.140); hay: “Bằng những phát hiện mới, phong phú của khảo cổ học các nhà khoa học Việt Nam có đầy đủ tài liệu để khẳng định người Lâm Ấp chính là người Sa Huỳnh...” (Ngô Văn Doanh [2002]:Văn hóa cổ Chăm-pa, Nxb.Văn Hóa Dân Tộc, tr.51-52).
  • Biên điểm lan tỏa cuối cùng của văn minh phương Bắc: Nút chặn cuối cùng của luồng ảnh hưởng văn hóa Hán theo hướng Nam phía lục địa chính là đèo Ngang, là sông Gianh của Quảng Bình hiện nay. Thứ khí chống lại sức lan tỏa ấy chính là Ấn Độ giáo, Phật giáo mô hình nhà nước thương nghiệp trong vùng ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ (Năm 192, Khu Liên nổi lên đánh nhà Hán, chiếm Tượng Lâmthành lập Lâm Ấp. Thời nhà Ngô (220-279) quận Nhật Nam có 5 huyện: Tượng Lâm, Lư Dung, Châu Ngô, Tây QuyểnBắc Cảnh; hai huyện Tây Quyển và Bắc Cảnh tương ứng với tỉnh Quảng Bình [Nguyễn Đức Cung (2006), Sđd, tr.21]).
 
những điểm khác biệt về nhóm ngôn ngữ, không gian phân bố khảo cổ, vùng nhận diện ảnh hưởng của văn minh Trung-Ấn, ranh giới của quốc gia/vùng/miền trong nhiều giai đoạn lch sử… Tuy nhiên, nhìn trên bản đồ phân b tộc người, nếu không bị chi phối bởi địa giới hành chính Việt - Lào trong thời kỳ hiện đại, thì vùng Tây Quảng Bình là giao lộ đáng lưu ý trong bức tranh văn hóa của các tộc người, vi nhiều nét tương tiếp quan trọng, hàm chứa những vấn đề liên quan đến việc lý giải nhiều câu hỏi, vượt khi phm vi của mt tỉnh, thậm chí là một vùng...
Phía Tây Quảng Bình là nơi cư trú của những tộc người [ethnic] Bru nói ngôn ngữ Mon-Khmer (gồm các nhóm địa phương [local group]: Bru Khùa, Bru Trì, Bru Macoong), mối quan hệ không tách ri vi các tộc người nằm sâu trong đất Lào và tc Chứt thuộc gia đình ngôn ngữ Vit-Mường (vi nhiều nhóm địa phương khác nhau như Sách, Mày, Rục, Arem, Mã Liềng…); thấp hơn về phía Đông là vùng cư trú của người Nguồn, mà nguồn gốc của họ vẫn đang thảo luận chưa ngã ngũ trong giới khoa học. Ở đây, chúng ta cũng thể nhận ra không khó dấu ấn văn hóa của người Kinh, hoặc trước đó, là người bản địa của vương quốc Chăm-pa từ phía Đông, lan tỏa ảnh hưởng của mình khá đậm từ nhiu thế kỷ trước; cũng như sự tiếp nối có tính liên tc trong cả thi gian lẫn không gian của các nhóm nói ngôn ng Vit-Mường trên tuyến thượng đạo từ phía Bắc như Thổ, Pọong, Đan Lai, Ly Hà... Đó là những cng đồng gần gũi thân thuộc với người Mường, có vùng cư trú phân bố kéo dài từ Thanh Hóa đến Hòa Bình.
Nói một cách khác, những tộc người nói ngôn ngữ Vit-Mường đã tạo nên một vệt cư trú khá rõ nét trên tuyến thượng đạo, kéo dài từ Hòa Bình đến Quảng Bình. H đã từng cùng chung mt gốc ngôn ngữ với người Kinh cư trú dọc dải duyên hải. Do vậy, chúng ta sẽ không ngạc nhiên, nếu những dấu ấn văn hóa thân thuộc, hay ảnh hưởng một cách chồng chéo, vào những thi kỳ lch sử khác nhau, diễn ra trên vùng đất này. Tất nhiên, trong lịch sử họ đã từng cùng chung một nền văn hóa với những tín ngưỡng, phong tục, ngôn ngữ, và ý thức tộc người…, trước khi tách khỏi nhau từ n
hững thế kỷ đầu Công nguyên, bi ảnh hưởng của người Hán trong quá trình xâm lược và cai tr vùng đất này.
Quảng Bình trong bối cảnh vi những cơ duyên và đặc điểm như chúng tôi đã đề cập ở trên, qua thời gian, đã tích tụ và hình thành nên một dạng biên lực thâm hậu, có điểm khởi đầu rất sâu xa trong quá khứ. Sức mạnh của những người sống ở vùng biên, dù muốn hay không cũng phải thường xuyên đối mặt với sự va chạm, thậm chí va đập theo hai hướng: tôi rèn thử thách trong sinh tồn như một cách khẳng định sự tn tại của bản ngã, lại vừa bồi đắp bằng sự trải nghiệm trong quá trình thích ứng và hóa gii những khó khăn, trở ngại của người mang sứ mnh khai mở.
Họ đã chứng kiến điều gì khi tồn tại trong điểm giao thoa ca truyền thống Sa Hunh - Đông Sơn thời sơ sử? Họ đã trải qua chuyện gì khi phải sống trong vùng giao tranh triền miên ca hai quốc gia phong kiến Việt - Chăm? Họ gi được điều gì về cội nguồn tối cổ của những nhóm người nói ngôn ngữ Vit - Mường tổ tiên, khi đến đây thì dừng lại?75. Những cửa ngõ thông thoáng không có ngăn cản từ phía Lào đã tạo nên những gì trên con đường giao lưu văn hóa?...
Rõ ràng, con người với tư cách chủ thể, sống và tồn tại trên đất Qung Bình là mt cộng đồng nguồn gốc tích hợp đặc biệt của lch sử. Đó là sự chồng lên, hòa trn của nhiều lớp cư dân từ thời tối c đến hiện đại: Cộng đồng Proto - Việt Mường
+ Mon-Khmer cổ + Người Chăm + người Lào + người Việt cắm mốc chủ quyền + người bản địa sinh trưởng trên vùng đất này + người từ nhiều nơi khác tụ cư vì trách vụ trước nhu cầu ổn định biên giới + người nhập cư bởi sinh kế và nhiều lý do khác… Tt cả đặt ra cho chúng ta khi đối diện với những vấn đề khác nhau trong nghiên cứu văn hóa một sự thn trọng cần thiết, trong việc bóc tách những gì thuộc nội hàm biểu tầng tầng, trong quan sát và x lý hiện tượng lẫn tư liệu, thông tin, mà mình tiếp cận.
  1. Người Nguồn ở Quảng Bình
Người Nguồn một cộng đồng có trên 4 vạn người, cư trú ở miền Tây Quảng Bình, chủ yếu tập trung ở huyện Minh Hóa. Đây là một trong những cộng đồng nhiu ý kiến khác nhau trong việc xác định thành phần tộc người76. Dựa trên những


75 Đọc thêm Nguyễn Hữu Thông (2014): Biên lực trong sinh tồn, Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường Thừa Thiên Huế, Số 6 [113].

76 “Về tên gọi Nguồn, trong báo cáo tham luận tại Hội thảo Khoa học xác định dân tộc Nguồn, tổ chức ngày 19-10-2004 tại Đồng Hới, nhà Dân tộc học Khổng Diễn cho rằng: Cho đến nay, cũng chưa có nghiên cứu nào xác định tên gọi Nguồn có tự bao giờ. Lê Quý Đôn trong Phủ biên tạp lục ghi: Ở thượng lưu gọi là nguồn, cũng như hạ bạn gọi là tổng, châu Bố Chính có nguồn Sa và nguồn Kim Linh.
 




tiêu chí về ý thức tự giác dân tộc, ngôn ngữ và đặc trưng văn hóa để định danh người Nguồn, thì đến nay vẫn tn tại nhiều lập luận không thống nhất. Tựu trung có 3 nhóm ý kiến:
    • Người Nguồn là bộ phận lớn của người Việt ở đồng bằng Nghệ Tĩnh di cư o min Tây Quảng Bình hồi đầu thế k XV (các nhà nghiên cu Nhân học: Mạc Đường, Khổng Diễn, Nguyễn Dương Bình, Bùi Minh Đạo…).
    • Xếp người Nguồn vào dân tộc Mường, Th hoặc Chứt (Hội nghị xác định thành phn dân tộc Nguồn ngày 19 tháng 10 năm 2004 tại Đồng Hi, Quảng Bình).
    • Người Nguồn là một tộc người riêng (nguyện vọng của một số cán bộ và nhân dân Nguồn). Ngày 142-1998, UBND huyện Minh Hóa có Văn bản số 02/TTHMH xin công nhận dân tộc Nguồn. Hội đồng Nhân dân huyện Minh Hóa (khóa XV) ti kỳ họp thứ 8 đã ra Nghị quyết số 03/NQHĐ đề nghị tỉnh và Trung ương nghiên cứu và công nhn tộc danh cho người Nguồn ở huyện Minh Hóa77.
Chính vì trong các tư liệu văn bản lẫn trong thực tế liên quan đến người Nguồn, chúng ta có thể nhận ra ở đây nhiều thông tin đa chiều, hoặc những chi tiết tương đồng lẫn dị bit giữa người Nguồn với những tộc người cận cư ở nhiều mức độ khác nhau, cho nên, mọi lập luận đều khó đi đến kết luận.


Phần lớn đất đai ở huyện Minh Hóa ngày nay thuộc hai huyện Sa và Kim Linh xưa, về sau đổi hai nguyên thành tổng, mà âm Hán Việt nguyên phiên ra tiếng Việt gọi là nguồn. Như vậy, từ tên gọi chỉ đơn vị hành chính chuyển sang tên gọi nhóm dân cư tương tự như Sách, Mường vậy; hoặc như thổ là đất (người ở địa phương) trở thành tên dân tộc (dân tộc Thổ). Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Dương Bình thì Nguồn chủ yếu do những người dân ở vùng đồng bằng gọi nhóm cư dân sinh sống ở thượng lưu sông Gianh. Ở đó những nhánh sông được gọi như nguồn Sâu, nguồn Nặm, nguồn Nậy.
Người Nguồn khai trong các loại hồ lý lịch, chứng minh nhân dân và một số giấy tờ quan trọng khác đều ghi là dân tộc Kinh, không có trường hợp nào ghi dân tộc hoặc tộc người Nguồn. Theo nhà nghiên cứu Bùi Minh Đạo, vào thập niên 1970 về trước, đa số người Nguồn nhất là những người già đều tự nhận mình là dân tộc Kinh (Việt). Nhưng gia phả văn hóa đã chứng minh thêm ý thức tự giác tộc người của nhóm người này. Tác giả cho rằng có hai lý do dẫn đến ý thức tự nhận là dân tộc Kinh thời điểm đó: người Nguồn ý thức rõ ràng về nguồn gốc Kinh của mình, tuy đang là Nguồn, tiếng nói và văn hóa đã khác Kinh nhưng về bản chất chỉ là một nhóm của người Kinh; và họ muốn được ghép vào người Kinh mà không muốn trở thành một dân tộc thiểu số hay ghép vào một dân tộc thiểu số khác vì muốn được bình đẳng với người Kinh, không muốn bị kỳ thị dân tộc.
Tuy vậy, hơn 10 năm trở lại đây, ý thức tự giác tộc người trong người Nguồn có sự thay đổi theo hướng phân hóa. Một số vẫn bảo lưu ý thức là một nhóm của dân tộc Kinh. Một số cán bộ, giáo viên đề nghị xếp người Nguồn vào dân tộc Mường, Thổ hoặc Chứt. Cũng có ý kiến tách người Nguồn thành một dân tộc thiểu số riêng. Khá đông ý kiến phân vân và thận trọng khi đề nghị không xếp người Nguồn vào dân tộc Kinh nhưng có sự xem xét để người Nguồn được coi là một dân tộc thiểu số” (Trương Quang Nam: [thanhnien.vn/vanhoa/di-tim- nguoi-nguon-can-som-dinh-danh-320865.html]).
77 Một trong những người bảo vệ kiên trì ý kiến người Nguồn là một tộc người độc lập là ông Đinh Thanh Dự, một trong những nhà nghiên cứu có nhiều tác phẩm đề cập đến mọi mặt về nguồn gốc và đời sống văn hóa người Nguồn.


Theo chúng tôi, những gì có th nói về người Nguồn có thể tựu trung trong những chi tiết như sau:
  • Mặc dù có nơi, người Nguồn cư trú đan xen với người Sách, người Rục (thuộc tộc người Chứt)78, người Bru, thậm chí ở tận đất Lào [khoảng 1.300 người, với tên gi là Nguane]79, nhưng, họ vẫn có điểm cư trú mật tập ở huyện Minh Hóa, ở vị trí mang tính khu đệm giữa người Việt phía biển và người Chứt phía núi. Có thể gọi đó vùng đồng cư liền khoảnh tính theo chiều Đông Tây.
  • Nếu tính theo chiều Nam Bắc tuyến thượng đạo, thì người Nguồn có mối quan hệ gần gũi với một dải những tộc người nói ngôn ngữ Vit Mường như Chứt, Pong, Thổ, Đan Lai, Ly Hà, Mường... kéo dài từ Quảng Bình ra đến Hòa Bình ở phía Bc.
  • Vì người ta có thể bắt gặp trong tư liệu văn bản lẫn thực tế khi đến với người Ngun, những yếu tố liên quan đến người Việt, người Chứt, người Mường, người Bru, Lào... (ngôn ngữ, phong tục, gia phả…), cho nên, vị trí cư trú người Nguồn, vô hình trung tr thành mt giao lộ, sẵn sàng tiếp nhận nhiều luồng văn hóa, theo hướng Đông Tây lẫn Bc Nam tính theo tuyến ven biển lẫn thượng đạo.
Chính vì những đặc điểm nêu trên, khi chúng tôi tìm hiu những sắc thái văn hóa đặc trưng của người Nguồn, không thể không đặt họ trong tọa độ có trục tung theo chiều Nam Bắc, đó là mối quan hệ thân thuộc vi những nhóm tộc người nói ngôn ngữ Vit - Mường phân bố dọc theo tuyến thượng đạo, và trục hoành nối kết phía Tây là những tộc người Bru, Chứt, Lào... phía Đông người Chăm, Việt...
  1. Tín ngưỡng thờ “Pụt” trong văn hóa người Ngun
    1. Bàn v từ “Pụt” trong ngôn ngữ Việt Mường
Nếu trở lại vi diễn trình của ngôn ngữ học lch sử, thì “gia đình” những tộc người nói ngôn ngữ Proto-Việt Mường hay Việt Mường bao gồm người  Việt, Mường, Nguồn, Chứt, Pọong, Thổ, Đan Lai, Ly Hà… Theo H. Maspero, Thomas A. Sebeok, Andre G. Haudricourt,...80 thì khoảng 6.000 năm về trước họ đều có chung ngun gốc từ một “đại gia đình” ngôn ngữ lớn hơn đó là Nam Á (Austroasitic), bao gm nhiều thành viên cư trú trải rộng từ miền Đông bắc Ấn Độ cho đến một phần


78 Người Nguồn cư trú đan xen với nhóm Sách, Rục (thuộc tộc người Chứt) ở Thượng Hóa, Hóa Sơn, hay với người Mày, Arem (Chứt) hay người Khùa (Bru) ở xã Dân Hóa và Trọng Hóa, cũng như với người Kinh ở nhiều điểm trong huyện Minh Hóa.
79 Theo tài liệu điều tra dân số của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào năm 1995.
80 - Henri Maspero (1912): Etudes sur la phonestique historique de la langue Anamite. BEFEO. p.1-126.
  • Andre. G. Haudricourt (1953): La place du Vietnamien dans les langues Austroasiatique. BSLP 49 (1). p.122-128.
Myanmar, Malaysia,vùng Nam Trung Quốc, Campuchia và Việt Nam. Sau đó “đại gia đình” Nam Á dần dần tách ra thành từng nhánh ngôn ngữ riêng.
Tiếng Việt được tách ra từ dòng Mon-Khmer là mt trong 3 dòng chính có nguồn gc từ ngôn ngữ Nam Á81.
Theo Văn Tấn82 thì người Phùng Nguyên cái lõi đầu tiên trong quá trình hình thành dân tộc Việt (Vit - Mường). Cách đây khoảng 4.000 năm một số bộ lc nói tiếng tin Việt Mường (Proto - Viet Muong) từ phía Tây Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và Tây Trường Sơn, đã di chuyển lên phía Bắc qua Hà-Sơn-Bình hoặc qua vùng Tây bắc xuống định cư ở trung du83.
S hình thành hệ ngôn ngữ Việt Mường bắt nguồn từ Proto - Việt Mường được các nhà ngôn ng học đoán định vào khoảng trên dưới 500 năm trước Công nguyên. Và, dưới tác động của tiếng Hán từ s xâm lược của phương Bắc, đã là nguyên nhân cho sự phân chia từ ngôn ngữ Việt Mường thành tiếng Việt (Kinh) và tiếng Mường, được đoán định diễn ra từ thế kỷ th V đến thế kỷ X sau Công nguyên.


81 Do đó tiếng Việt vốn xuất phát từ gốc Mon-Khmer, bao gồm hàng trăm ngôn ngữ khác nhau phân bố trên 3 dòng lớn:
  • Bắc Mon-Khmer
  • Nam Mon-Khmer
  • Đông Mon-Khmer
Từ dòng Đông Mon-Khmer, một nhánh được hình thành là Proto Việt-Katu và sau đó Proto Việt-Katu lại tách ra làm hai: Katu và Proto Việt-Chứt.
“Các cư dân nói tiếng Proto Việt-Chứt lúc đầu (hơn 4.000 năm trước) sống ở vùng trung du và sơn cước (vùng Thượng Lào và phía Bắc khu IV cũ), về sau di chuyển xuống vùng đồng bằng Bắc Bộ ngày nay. Do sự tiếp xúc với ngôn ngữ Tày-Thái, tiếng Proto Việt-Chứt thay đổi để trở thành tiếng Việt-Chứt với cơ tầng Mon-Khmer và có sự phỏngchế vận hành Tày-Thái. Quá trình này diễn ra ở thời đại sử Việt Nam vẫn gọi là thời đại các vua Hùng. Dần dần về sau, tiếng tiền Việt-Chứt đi sâu vào quá trình đơn tiết hóa, thanh điệu hóa rụng dần các phụ tố để trở thành tiếng Việt-Mường chung (khoảng 2.700-2.800 năm trước).
Do quá trình tiếp xúc lâu dài với tiếng Hán dưới thời Bắc thuộc, vào khoảng thế kỷ VIII đến thế kỷ XII, tiếng Việt-Mường chung ở phía Bắc tách ra làm hai: Bộ phận nằm sâu ở vùng núi các tỉnh Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh ít bị ảnh hưởng của tiếng Hán hơn nên bảo lưu yếu tố cũ và trở thành tiếng Mường, còn bộ phận ở vùng đồng bằng Bắc Bộ thì do ảnh hưởng của tiếng Hán mà dần dần tách thành tiếng Kinh (tiếng Việt). Quá trình tách đôi này bắt đầu khoảng 1.000 năm trước. Kể từ đó, tiếng Việt mới thực sự trở thành một ngôn ngữ độc lập (Lê Đình Tư. Posted by tuldvhloc on tháng Hai 21/2010).
82 Hà Văn Tấn (1997): Theo dấu các văn hóa cổ: Văn hóa Phùng Nguyên nguồn gốc dân tộc Việt, Nxb.Khoa Học Xã Hội, Hà Nội.
83 Địa bàn cư trú của những tộc người nói tiếng Mường (rộng hơn là Mường-Chứt) phía Bắc trải dài từ Yên Bái (không vượt qua sông Hồng) đến Quảng Bình ở cực nam (không vượt quá đèo Mụ Giạ). Ngôn ngữ cực Nam thuộc nhóm Việt-Mường là tiếng Sách (nhóm địa phương của người Chứt ở Quảng Bình) được L. Cadiere nhắc đến năm 1905; tiếng Mày và Rục do Vương Hoàng Tuyên phát hiện năm 1963 [Vương Hoàng Tuyên (1963): Các dân tộc nguồn gốc Nam Á ở miền Bắc Việt Nam, Nxb.Giáo Dục, Hà Nội], tuy người Rục đã được J. Cuisinier nêu lên trong công trình của bà từ năm 1948 [J. Cuisinier (1848): Les Mương Géographie huimaine et Sociologie, Paris, Institut d’Ethnologie].
Trong những năm gần đây, M. Ferlus cũng đã xác định vấn đề này trong tham luận của mình (M.Ferlus [2001]: The Origin of Tones in Viet-Muong. Sotheast Asian Linguistic Society XIth. Conference, Bangkok, Thailand, May 16-18/2001).
 
Các phương ngữ của tiếng Việt (Kinh) ngày nay chúng đều phản ánh những đặc điểm không có gì khác hiện tượng cùng bước ra từ mt gốc. Trong đó, việc biến âm P thành B là một ví dụ84. Chính vì điều này mà cách phát âm t Buddha (Phật) có khác nhau giữa tiếng Việt và nhóm Chứt - Mường - Nguồn. Trong lúc người Mường, Ngun, Chứt gọi Pụt, thì người Việt gọi Bụt (trong quy luật P B)85.
Như vậy có thể nói rằng từ Pụt mà người Nguồn gọi trong tc thờ Pụt của mình là do đặc điểm phát âm trong nhóm ngôn ng Mường từ chữ Buddha, mà trong tiếng Vit khi tách khi dòng Việt Mường đã gọi Bụt.

3. 2. Tín ngưỡng thờ phụng “Pụt” ở người Nguồn

Người Nguồn thờ phụng Pụt từ lâu đời, họ xem ông Pụt như một v phúc thần luôn quan tâm đến những nguyện vọng của con người, và sẵn sàng cứu giúp khi kêu cứu đến ngài. Theo truyn thuyết của người Nguồn, Pụt vốn ở trên trời, luôn nghe tiếng cầu xin khẩn thiết và thường xuyên của con người nên quyết địnhli trần gian để gần gũi con người cho tiện bề cứu giúp. “Sau đó Pụt hóa thành tượng đá ở lèn Gieo thuộc Kim Linh nguyên 12 ông và ở lèn Ông Ngoi thuộc Sa nguyên 12 ông”86.
“Rồi một ngày, hai anh em trai người Nguồn đi lên lèn Ông Ngoi lấy mật ong, đã mang đi hai ông Pụt xuống đến thác nước Dác Dòn, đặt lên bàn đá trên bờ khe, xuống khe tắm; tắm xong trở lại để mang hai ông Pụt đi về thì không nhấc lên


84 “Các phương ngữ “Kinh” ngày nay đều có chung những đặc điểm tiến hóa cho thấy chúng bước ra từ cùng một tổ tiên. Ví dụ: biến âm “explosive” thành âm “implosive” (p b; t đ. Ví dụ: pa ba; tao đao; biến âm “implosive” thành âm “nasal” (b m; d n. Ví dụ: băng măng, đắng nắng) v..v. Dù là phương ngữ Nghệ, Huế, Bắc, Nam đều có chung những đặc điểm tiến hóa này, phân biệt rõ với các tiếng Mường.
Trong khi đó các tiếng Mường không cho thấy những đặc điểm tiến hóa chung nào. Những điểm tiến hóa chung giữa chúng cũng là những điểm có thể thấy trong tiếng Kinh. Điều này cho thấy tổ tiên chung của chúngtổ tiên chung với tiếng Kinh [Đại Việt Cổ Phong, Về sự hình thành tiếng Việt. https:/www.facebook.com/Vietnam.ancient/permalink/9041943332120].
85 Các cách đọc của từ Bụt ở một số tộc người trong khu vực: Việt Nam: Bụt (dân gian); Phật (Hán-Việt)
Mường: Pụt, Phât (Phật) [ Lienh chua mà ngỏ Put: Lên chùa mà xem Phật) Jarai: Mơnuih Pơsêh (Phật)
Khmer: Pút (kêu trời như “Phật ơi” là “Pút thô” (so với trời ơi, chúa ơi, mẹ ơi trong tiếng Việt). Kơho: Phợk – tượng Phật: rùp Phợk
Thái: Póot; tượng Phật là Prá- póot-tá-tá- rôop
Myanmar: Buđa
Lào: Phuth Phuthô/Phuđô (Phù Đồ/Phật Đà) Nùng: Pụt
Chăm: Bhik, Phik (có tài liệu ghi là But)
(Nguyễn Cung Thông: Bụt hay Phật [thuvienhoasen.org/a5101/but-hay-phat-phan1].

86 Võ Xuân Trang, Đinh Thanh Dự (2011): Văn hóa dân gian của người Nguồn ở Việt Nam, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr.222.
 

được nữa, đành để lại đó. Pụt nổi giận, quở phạt dân làng làm cho dân làng ốm đau la liệt. Dân làng bèn đến thác nước Dác Dòn đó lập bàn thờ th Pụt, cầu xin Pụt tha thứ li lầm, phù hộ dân làng bình yên, làm ăn thịnh vượng. Từ đó thác nước Dác Dòn được gi là thác Pụt”87.
Từ khi có thác Pụt, hàng năm người Nguồn t chức lễ hội Rằm tháng Ba ở cả quy mô nhà riêng lẫn cộng đồng. Mọi người chuẩn bị chu đáo từ l vật cho đến y phục, cũng như thánh tẩy giữ mình. Họ cúng viếng và hành hương ở thác Pụt và cầu đảo ở thác Rèm. Lễ vật tuyệt đối là đồ chay, bao gồm 12 con oản, 12 dĩa hạt nổ, 12 quả cam, 12 lá trầu, 12 quả cau. Mọi người từ hương chức và nam giới trong làng thay nhau đến cầu cúng ở thác Pụt và chùa Pụt (ở phía đồi cao phía hữu ngạn khe Púng). Ngoài việc cầu xin gia đạo xứ s bình yên, họ còn kết hợp với lễ cầu đảo để mưa thuận gió hòa, dân làng làm ăn thịnh vượng có nhiều tài lộc. Sau lễ, cả cộng đồng nô nức t chức hội Rằm tháng Ba, cũng có thể gọi đây là cái Tết của người Nguồn.
Người Nguồn trong dp này tổ chức họp chợ, đua thuyền, các hội vui chơi hát sắc bùa, hát nhà trò, đàn đúm giao duyên. Chợ Rằm tháng Ba chính là ngày hội vi nhiều sắc thái sinh hoạt cộng đồng. Rằm tháng Ba cũng là dịp để mọi người thể hiện lòng hiếu đạo với bậc sinh thành, với tình làng nghĩa xóm, thầy trò bạn bè, tình yêu lứa đôi…
“Chẳng thà tâu ốm má nằm Không ai má lác chợ Rằm tháng Pa”.
(Chẳng thà đau ốm mà nằm Không ai mà bỏ chợ Rằm tháng Ba).

3.3. Mi quan h giữa tc th “Pụt” của người Ngun với Phật giáo

Cho đến hiện nay, có không ít người Nguồn, kể cả tác giả có những nghiên cứu về người Nguồn dày công như Đinh Thanh Dự vẫn cho rằng tục thờ Pt không hề có mối liên quan nào đến Phật giáo, và đó chỉ là tín ngưỡng riêng của người Nguồn. Nhưng thật ra, trên thc tế tìm hiểu, chúng tôi thấy rằng, tục thờ Pụt có nguồn gốc Pht giáo từ rất sớm, và, qua thời gian, trong điều kiện sống cô lập trong môi trường, địa hình phức tạp của hệ núi đá vôi sườn dựng và vực sâu của phía Tây Quảng Bình, mà một khoảng dài trong quá khứ, khi điều kiện giao thông chưa thuận li, họ đã không có nhiều nguồn giao lưu với bên ngoài, những yếu t nguyên gốc trong con đường truyền giáo Phật giáo từ rất sớm, đã hòa tan vào đức tin dân gian, để t đó hình thành nên một dạng tín ngưỡng bản địa, mang cốt lõi Phật giáo với những nét căn bản được nhận diện như sau:
    • Pt hay Bụt đều là cách phiên âm t chữ Buddha (Phật) theo đặc trưng ngôn ng của từng tộc người. Do trong tiếng Nguồn không thông dụng vần B, hay nói đúng hơn là không có vần B, nên, từ Buddha, thay vì phát âm là Bụt thì người Nguồn gi Pt.
    • Hình tượng Pụt trong đời sống tinh thần người Nguồn gắn liền với phong tục l nghi và tượng thờ c th (tượng đá trong tự nhiên có hình người). Lễ vật cúng Pụt thường phải đồ chay .
    • Có chùa để th Pt tại một đồi cao phía hữu ngạn khe Púng ở Minh Hóa. Lại có ông Sại (Sãi) do Pt chọn (qua lễ cầm keo) để chăm sóc nhà chùa và thác Pụt “Ngày rằm, mùng một hàng tháng quét tước bàn thờ, thay nước, dâng hương cho Pụt”88.
Từ những chi tiết trên, chúng ta thấy dấu vết Phật giáo còn lại trong đời sống tín ngưỡng người Nguồn gần như đã hòa tan trong phong tục dân gian đó là dạng Phật giáo gần với Đại thừa, gắn vi nghi lễ trai tịnh và vi cả 12 ông Bụt như những vị B-tát đảm trách và đáp ứng nhiều nguyện ước và nhu cầu của con người trong cuộc sng.
  1. Nhng dấu n Phật giáo đáng quan tâm ghi nhận ở tây Quảng Bình
Nếu tiếp cận với không gian cư trú của những cộng đồng tộc người phía Tây Qung Bình, chúng ta có thể nhận thấy ở đây là nơi sinh sống của những nhóm bản địa nói ngôn ngữ Việt Mường (Sách, Mày, Rục, Arem, Mã Liềng...), trong đó, người Nguồn và người Kinh cũng đã có mặt chính thc ít nhất là từ thế kỷ XI89. Bên cạnh đó, những nhóm tộc người Bru (Trì, Khùa, Macoong...) cư trú dọc biên giới Việt Lào ở vùng này là những cộng đồng cận cư từ lâu đời.
Trên thực tế, bản đồ phân bố tộc người ở vùng này hoàn toàn vượt ra khỏi hình dung v biên giới hành chính mà chúng ta thường quan niệm, bi họ cư trú liên tục và lin khoảnh không hề bị ngăn cách bởi những lằn ranh ấn định trong bản đồ. Một l
àng, mt dòng họ, thậm chí là một gia đình..., có khi một nửa bên này một nửa bên kia trên vùng biên gii.
Trong nhiều lần điền ở khu vực này, chúng tôi đã may mắn phát hiện được những văn bản quý và hiếm hoi. Đó chính những gi ý giúp chúng tôi hình thành những giả thiết quan trọng, góp phần tái hiện quá trình lan tỏa ảnh hưởng của Phật giáo ở vùng đất này. Một nơi mà chúng ta khó hình dung Phật giáo đã có mặt sm, và để li những dấu ấn đáng quan tâm và ghi nhận như vậy:
  • Văn bản viết bằng ch Pali/Lào cổ/Thái cổ? trên lá thốtnốt (có người gọi là lá cọ/lá bối), người Nguồn gọi Pôộc năng xừ: sách viết trên giấy Pan Thên). Đây là văn bản được viết bằng cách dùng vật nhọn khắc trên lá, sau đó dùng mủ cây chà vào mặt lá để chữ nổi lên90. Người xưa khắc văn tự trên lá, chui lỗ và xuyên chỉ để kết nối chúng thành tập. Tài liệu này được phát hiện ở thôn Y Lung, xã Dân Hóa do ông H Quý Bôn (tên thường gọi là Bắc Bun) đang cất giữ91. Ông Hồ Quý Bôn đã ghi lại và phiên âm toàn b văn bản này trong cuốn s tay của mình, tuy ông không đọc và dịch được tất cả nhưng ông bảo rằng đây là những tài liệu của những vị sư người Bru Khùa sống ở đây, sang Lào đi tu và trở về khc lại những điều mình đã học, chung quanh những lời Pah Phụth (Đức Phật) dy92. Ông Hồ Quý Bôn còn kể rằng, trong quá khứ không ít người Khùa đã sang Lào học Phật sau đó trở v lập chùa để thờ Phật và hoằng pháp trong cộng đồng của mình93. Vào trước thi Pháp thuộc, trong vùng trú của người Khùa có 2 ngôi chùa nổi tiếng Ka Óoc (ở Trọng Hóa) và Dộ (dốc vào bản Loòm, Dân Hóa) do các vị sư người Khùa chủ trì94.
Có lẽ, đây không phải là văn bản duy nhất hiện được người Khùa cất giữ mà còn nhiều địa chỉ khác trong cộng đồng này, đang được người dân cất giữ và bảo tồn. Chúng tôi đã từng tiếp cận ít nhất là 2 nơi còn u giữ dạng hiện vật này, nhưng vì nhiều lý do, nên chưa được trực tiếp nhìn thấy95.
  • Văn bản cúng “Phụng thừa Thích ca Như Lai di giáo” (thời Tự Đức) được viết bằng Hán tự và đang lưu hành trong cộng đồng người Nguồn (mt bản đang được Ông Đinh Thanh Dự ở Minh Hóa cất giữ). Đây là một tập tài liệu mà nội dung đã phn ánh khá rõ sự có mặt của hình tượng Phật Thích Ca và tín ngưỡng thờ Pht, ảnh hưởng từ s lan tỏa của Phật giáo từ phía người Việt tràn lên chồng lên tín ngưỡng th Pt (một dạng Phật giáo có mặt từ sớm trước đó), đã hòa tan vào tín ngưỡng dân gian của người Nguồn. Văn bản này đã cho ta nhận ra sự gián cách theo thời gian đã làm cho Đức Phật Thích Ca và ông Pụt (Buddha) không còn mi quan hệ nào, mà phân thân tr thành hai cá th độc lp. Nếu mười hai ông Pụt đảm nhận phần đáp ứng cụ th và sát với những niềm tín mộ ước vọng mi mặt trong cuộc sng vật chất và tinh thần của người Nguồn, thì qua văn bản này, Đức Phật Thích Ca tồn tại như một biểu tượng hay một hình tượng phiếm ch, làm nhiệm vụ giám sát và quyền chứng minh tối cao cho những quyền năng giáng phúc gieo họa của những vị Pt, bên cạnh các vị thần khác được thờ trong hàng “Thánh thướng” của tín ngưỡng người Nguồn như: Tề Thiên Đại Thánh, Tam Thánh Chí Tôn, Táo quân, Hưng Đạo đại vương, Tổ sư giám đàn,...
Qua tài liệu “Thích Ca Như Lai di giáo”, chúng ta thấy sự hin hữu và lan tỏa ảnh hưởng của Phật giáo và Đạo giáo thông qua tiếp xúc với người Việt, đã xâm nhập mun nhất là từ thi Nguyễn, can thiệp và làm biến tướng tục thờ Pụt vốn gốc gác Pht giáo từng lan tỏa ảnh hưởng t rất sớm trên vùng đất này.
  • Văn bản “Tân soạn Tiểu thừa sám pháp Phật môn công văn”96 mà chúng tôi đã tiếp cận được ở chùa Quan Âm (Đức Trạch) là một dạng tài liệu hiếm hoi và độc đáo, chính đã phá vỡ một truyn thống bấy lâu nay không ai có th quan niệm, hình dung hay liên tưởng đến. Đó là một dạng văn bản cúng tế được tiếp thu và thích ứng t truyn thống Đại thừa nhưng lại dành cho các đối tượng thuộc vùng ảnh hưởng của Pht giáo Tiểu thừa, vì vậy ngôn ngữ thường dùng trong kinh sách Tiu thừa đã được vận dụng linh hoạt trong văn bản cúng tế này. Sự gặp gỡ ở đây cụm tThích Ca Như Lai di giáo trong “Tân soạn Tiểu thừa sám pháp Phật môn công văn” (do các vị sư người Kinh thuộc phái Đại thừa biên soạn) văn bản cúng mà người Nguồn đang lưu giữ, đã cho ta thấy mối liên hệ và vùng ảnh hưởng của Phật giáo Tiểu thừa có thể không chỉ khu trú trong cộng đồng Bru Khùa hay người Nguồn tại miền sơn cước Minh Hóa, mà rất có th nó còn lan tỏa xung tận cộng đồng người Kinh ở Tuyên Hóa nơi mà chúng tôi cho rằng văn bản “Tân soạn Tiểu thừa sám pháp Phật môn công văn” đã ra đời (bởi qua khảo sát văn bản học cho thấy, rất có thể các vị sư tại Chùa An Quốc, thôn Xuân Mai, xã Mai Hóa, huyện Tuyên Hóa chính là chủ nhân của văn bản này).
Qua những tư liệu vừa nêu, chúng ta có thể nhận ra sự hin hữu khá cụ th của Pht giáo ở phía Tây Quảng Bình, nằm trong địa bàn cư trú của nhiều tộc người thiểu số. Trong đó, nhóm Bru Khùa (thuộc ngữ hệ Mon-Khmer) có mi quan hệ chặt chẽ với người đồng tộc và các cộng đồng láng giềng trên đất Lào, đã làm chiếc cầu nối kết lưu chuyển ảnh hưởng Phật giáo trên đất Lào sang miền Tây Quảng Bình, làm nên những ngôi chùa và tầng lớp sư tăng dấu vết vẫn tồn tại ràng và cụ thể trong trí nhớ người Khùa.
Tục thờ Pt ở người Nguồn từ thực tế cho đến những tư liệu văn bản còn tồn tại cho đến ngày nay, đã giúp ta hình dung sự gián cách và tái tiếp nối dòng chảy của Pht giáo ở nhóm người này, đã diễn ra theo một trình tự khá thú vị. Chính vì điều này mà đã có 2 lớp Phật giáo sớm với tục thờ Pụt, và sau đó, Phật giáo, Đạo giáo thời Lê- Nguyễn, theo con đường di cư của người Việt từ ven duyên hải đã chồng lên, tạo thành tầng Thích Ca Như Lai và tầng Pụt không trùng khớp nhau, mặc dù, chúng cùng nguồn gốc, thậm chí gốc xut phát chỉ là một hình tượng Đức Phật.
  1. Nhng cảm nhn t một vùng đất
Khi bàn đến lch sử và tiến trình du nhập Phật giáo vào đất Việt, hầu hết các nhà nghiên cứu đều tập trung thảo luận về hai con đường Nam truyền và Bắc truyền. Nhiều tác giả xem vị thế của Việt Nam như là “Bề lưng của bán đảo Ấn - Trung…, vị trí của bán đảo này nằm giữa Ấn Độ và Trung Hoa. Vì địa thế nằm giữa 2 nước ln có nền văn hóa cổ xưa nhất của nhân loại, nên đương nhiên Việt Nam có ảnh hưởng cả hai nền văn hóa đó, kể cả tôn giáo”97.
Con đường Nam truyền từ đất Ấn khởi đầu từ nhu cầu giao thương giữa Ấn - Trung và đã hoạt động từ những thế kỷ đầu Công nguyên bằng đường thủy lẫn đường bộ98. Bên cạnh đó, sự truyền bá ảnh hưởng Phật giáo còn bằng con đường hoằng pháp chính thống từ Ấn Độ đến Tích Lan (Sri Lanka), rồi từ đây đã theo đường biển đến các nước lân cận99.


97 “Từ phương Bắc, Trung Quốc tràn xuống chiếm cứ đất đai với âm mưu đồng hóa dân Việt, biến Việt Nam thành một phần lãnh thổ của họ. Do đó, dân Việt chiến đấu không ngừng để sống còn giữ gìn độc lập của mình” (Lâm Như Tạng: Phật giáo từ Ấn Độ trực tiếp truyền vào Việt Nam như thế nào. [daophatngaynay.com.vn/phatgiao-vn/lichsu/14107]).
98 Ban đầu các thương thuyền Ấn không đi qua eo biển Mallaca xa xôi và bất ổn, mà họ trung chuyển qua eo Kra vào bán đảo Mã Lai (thế kỷ I-V). Bằng con đường này họ cũng đã tiếp cận bằng đường thủy lẫn đường bộ để đến Thái Lan, Campuchia, Phù Nam, Lào và Việt Nam. Điều này chứng tỏ rằng Phật giáo trong thời kỳ đầu được truyền trực tiếp từ Ấn Độ sang chứ chưa liên quan đến con đường Bắc truyền của Trung Hoa.
99 “Từ phong trào chấn hưng Phật giáo dưới thời vua Asoka (A Dục), Phật giáo có đầy đủ năng lực, nhiều nhân tài trí thức kể cả Phật tử tại gia và nhiều trí thức lỗi lạc thuộc hàng tăng lữ nên đã là thuận duyên cho việc
 




Có một con đường truyền bá Phật giáo khác được nhắc ti, không hình thành t những hải vụ của thương nhân Ấn đến Trung Hoa và các nước trong khu vực Đông Nam Á, được xác định căn cứ vào những di tích khảo cổ liên quan đến văn minh, văn hóa Ấn “xuất phát từ Trung Ấn, dùng tuyến đường bộ ngang qua đèo Hasse des Trois Pagodes, theo sống Kanburi xuống châu thổ sông Menam, từ đó đến sông Mekong qua đất Lào rồi vào Thanh Hóa, Nghệ An và đến Luy Lâu của Giao Châu”100.
Như vậy ngoài tuyến Phật giáo Nam truyền được theo các thương thuyền từ vùng Nam Ấn có mặt trên các nước Đông Nam Á cũng như đến Phù Nam, Lâm Ấp, Cham-pa, Đại Việt... t những thế kỷ trước và sau Công nguyên101, chúng ta có thể nhn din một con đường khác tạm gọi là “Tây truyền” theo lộ trình vừa nêu.
Từ đó, chúng ta có thể nhận thấy Phật giáo đã đi vào cương vực đất Việt hôm nay từ rất sm, khi ảnh hưởng của Trung Hoa chưa từng hiện diện trên khu vực này, ít nht bằng 3 con đường:
  • Từ Nam Ấn qua Eo Kra tiến vào Phù Nam, sau đó lan tỏa lên phía Bắc và Tây tây bắc đến Campuchia, Lào, Lâm Ấp, Chămpa, Đại Việt.
- Từ Nam Ấn vượt qua eo biển Java tiến vào vùng ven duyên hi và các cửa cảng trên vùng đất Nam Trung B đến Bắc Trung Bộ lẫn Bc B Việt Nam bây gi.
  • Từ Trung Ấn đến Menam, Mekong qua Lào rồi vào Trung và Bc Bộ Vit Nam.




truyền bá đạo Phật ra nước ngoài. Nối tiếp từ thời A Dục, theo nhiều sử liệu được kiểm chứng cho thấy rằng vào thế kỷ thứ II trước Công nguyên tại Ấn Độ có tư trào Phật giáo Đại thừa rất phóng khoáng, rất năng động và rất hăng say hoạt động truyền giáo trong nước và truyền sang nước ngoài.
Sự truyền bá đao Phật từ Ấn Độ cùng trong tư trào truyền bá văn minh Ấn ra các nước xung quanh. Trong tập Anh hùng ca Ramayana của Ấn Độ có nói đến tên các xứ như Sumatra, xứ của vàng (Suvana Bhumi), Java… Theo tư liệu của W. Cohn trong Buddha in der Kunst des Ostens, Leipzig, 1925; F.M Schnitger trong The Archaeology of Hindu Sumatra, Leyde, 1937; và G.Ferrand trong Journal Asiatique, Juillet-1919..., người ta tìm thấy các dòng chữ Sanskrit của Purnavarman ở Tây Java. Các tượng Phật thuộc trường phái Amarravati được tìm thấy ở Sampaga (Celèbes) phía Nam tỉnh Giember (Đông Java) trên đồi Se Guntang ở Pelembang (Sumatra) là xưa nhất, có thể trước Công nguyên. Do đó người ta kết luận rằng những bước đầu văn minh và tôn giáo Ấn Độ đã truyền qua Indonesia phải xảy ra trước Công nguyên. Do đó hệ luận đương nhiên là nền văn minh và tôn giáo Ấn Độ xuôi buồm đến Giao Châu cũng cùng thời điểm và cùng theo đường biển lên phương Bắc” (Lâm Như Tạng: Phật giáo từ Ấn Độ trực tiếp truyền vào Việt Nam như thế nào. Tlđd, tr.2).
100 Lâm Như Tạng: Tlđd, tr.2.
101 Từ những thế kỷ đầu Công nguyên, trước khi chính thức chọn con đường qua eo Java, vào thời đó cướp biển và những bãi đá cạn như là mối đe dọa nguy hiểm, các thương nhân Ấn kể các quốc gia khác đã chọn con đường trung chuyển qua eo Kra để đến với vùng biển Tây nam Việt Nam bây giờ, chính vì vậy Vương quốc Phù Nam từ thế kỷ I đến thế kỷ VI đã rất hưng thịnh, làm nên nền văn minh Óc Eo nổi tiếng. Sau đó, việc chuyển đổi hải trình của các thương nhân Ấn, bằng cách vượt qua eo biển Java để vào Chăm-pa, Đại Việt và Trung Hoa... đã là một trong những nguyên nhân khiến Vương quốc Phù Nam lụi tàn, mở đầu cho sự phát triển của vương quốc Chăm-pa. Như vậy, chúng ta có thể nhận thấy Phật giáo đã đi vào cương vực đất Việt hôm nay.

Các thương nhân n trên hải trình đầy nguy hiểm, tiếp cận vi những thương trường hấp dẫn như Chăm-pa, Giao Châu, Trung Hoa từ những thế kỷ đầu Công nguyên, họ đã mang theo nhiều vị tăng lữ Hindu, và tu sĩ Phật giáo chủ yếu thuộc dòng Đại thừa102 không ch để có người đủ trình độ giao dịch các thương vụ ở vùng đất mi, mà chính yếu là để có đội ngũ cầu an để tai qua nạn khỏi t những mối đe dọa trên những chuyến hải trình dài ngày.
Phc dựng lch sử và tiến trình du nhập của Phật giáo vào vùng đất Chăm-pa – Đại Việt, chúng tôi muốn co lại sự kin này trên một vùng đất nhỏ hơn đó là miền Tây Quảng Bình. Lý giải những sự kin xảy ra ở đây, không nhằm vào việc gii thiệu sự du nhập Phật giáo vào một tnh cụ thể, mà chúng tôi xem đây như là một tiến trình mang tính đặc trưng cho cả vùng thượng đạo dọc theo miền Trung cho đến vùng Tây bắc Vit Nam.
S có mặt cũng như sức lan ta ảnh hưởng của Phật giáo trên phạm vi Đông Nam Á cũng như Việt Nam nói riêng, lần theo dấu vết khảo cổ học có thể đã xuất hiện t thế kỷ thứ II trước Công nguyên103.
Nếu chúng ta hình dung bối cảnh đất Việt vào giai đoạn này, thì người Việt đương thời đang còn là một thành viên gn kết trong gia đình ngôn ngữ Vit - Mường, thế, Phật giáo buổi đầu đến đây chỉ có thể được tiếp nhận bằng tín ngưỡng thPụt (cách gọi Buddha trong ngôn ngữ Việt Mường). Và, tín ngưỡng thờ Pụt được duy trì rất lâu dài ở đây, ít nhất là 500-600 năm104, từ đầu Công nguyên cho đến thế kỷ thV, thời điểm mà nhóm người thuộc ngôn ngữ Vit - Mường sống ở vùng trung du và châu th sông Hồng bắt đầu tiếp nhận và ảnh hưởng sâu đậm văn hóa Hán, tự tách ra để hình thành nên cộng đồng người Việt ngày nay.

102 Việc cầu an trên biển, các thương nhân Ấn đều ủy thác cho các tu Phật giáo và họ nhất tâm cầu nguyện Avalokitesvara (Bồ-tát Quan Thế Âm) và Dipankara (Đức Phật Nhiên Đăng) để được cứu giúp những lúc bất trắc hoạn nạn.
Chính trong kinh Phổ Môn của Phật giáo Đại thừa đã đề cập đến việc “niệm bỉ Quan Âm lực”, là không chỉ thoát được thủy ách mà còn thể vượt qua nhiều tai ương khác nữa.
103 Những vùng nằm trong vị trí Đông nam Ấn Dộ như Amravati, hay Nagarjunakonda... thời bấy giờ đã là những trung tâm Phật giáo Đại thừa phát triển, những thương thuyền của Ấn đến buôn bán ở vùng ven biển Việt Nam bây giờ (Lâm Ấp, Cửu Chân, Giao Chỉ…) cũng như đến tận các thương cảng Trung Hoa đều có mang theo những Tăng Đại thừa đề cầu nguyện đến ngài Avalokitesvara vốn là một vị Bồ-tát cứu nạn trên biển. Trung tâm Luy Lâu ở Giao Chỉ chính là một vị trí đã giúp chúng ta có những cứ liệu cần thiết để hình dung được sự kiện này.
Và đó cũng chínhđiểm gợi mở để chúng ta có thể nhận ra “Phật giáo từ Ấn Độ được truyền trực tiếp qua Việt Nam chứ không phải Phật giáo từ Trung Quốc truyền qua Việt Nam như một số tài liệu đã ghi (Nguyễn Lang (1994): Việt Nam Phật giáo sử luận, q.1).
104 Đây là con số tương đối, bởi theo các nhà ngôn ngữ học lịch sử thì thời điểm người Việt tách khỏi khối Việt- Mường được đoán định khoảng từ thế kỷ thứ V đến thế kỷ X sau Công nguyên.

Khi tách khỏi ngôn ng Vit - Mường gốc, giao lưu với văn hóa ngôn ngữ Hán, vần “P” trong cách phát âm của nhóm Việt đã mất dần và thay vào đó thành vần “B”, chính vì lý do này khiến người Việt từ đó về sau gọi Pụt Bụt, trong khi, nhóm Vit - Mường sống ở vùng thượng đạo (Mường, Chứt...) vẫn duy trì cách phát âm t Pụt cho đến bây gi105.
Như vậy, trong lúc nhng nhóm tộc người nói ngôn ng Mường tiếp tục thờ Pt bằng những nghi l và tượng thờ đá có hình người một cách cụ th, thì nhóm cộng đồng Việt từ khi tiếp xúc với văn hóa Hán đã chuyển dần tục thờ Pt vốn sang vi những nghi thc th Bt gần gũi với những ảnh hưởng Bắc truyền.
“Sự có mặt của từ Bt dùng Bột khá rõ nét trong các tài liu chữ Nôm xưa như Phú Dạy con (Mạc Đỉnh Chi 1280-1350), Cư trần lạc đạo (Vua Trần Nhân Tôn 1258-1308), Vịnh Vân Yên tự phú (Hòa thượng Huyền Quang, 1300)... Cho tới “Tự điển Việt-Bồ-La” (Alexandre de Rhodes, 1651) vẫn còn thông dụng như chữ Bụt, nhưng càng ngày càng ít dùng đi và thay bằng chữ Phật. Điều này cho ta cơ sở đặt ra gi thuyết Bụt đã từng được dùng (phổ thông) ở Vit Nam thời đầu Công nguyên. Ảnh hưởng sâu đậm v sau từ văn hóa ngôn ngữ Hán (nhất là từ đời Đường Tống phn ánh qua âm trung c Pht còn duy trì trong tiếng Việt) làm m nhạt tuy không th xóa hẳn...”106.
Theo chúng tôi, trong tiếng Việt, sau khi tách khỏi ngữ hệ mẹ Việt - Mường, sau đó ảnh hưởng ngôn ngữ Hán đã dần chuyển từ thường dùng là Pụt sang Bụt, từ Bt tiếp tục duy trì cho đến khi người Việt tiếp nhận kinh sách Phật giáo từ phương Bắc để mt lần nữa chuyển thành Phật (chủ yếu vào thời Đường Tống). Tuy nhiên, do cách dùng trong văn tự chỉ lưu hành trong giới có chữ nghĩa, nên dân gian vẫn tiếp tc duy trì từ Bụt, nhưng, theo thời gian vi sự truyn bá của Phật giáo lan tỏa trong đại chúng, ông Bụt đã nhường chỗ cho ông Phật và tiếp nối cuộc sống của mình trong cổ tích. Đó chính là ông Bụt/ông Tiên với tóc bạc, râu dài tay cm chiếc phất trần chuyên cứu giúp người nghèo khó cô thế.
Riêng trong dòng ngôn ngữ Mường sau khi phân chia ra 2 nhánh Việt và Mường (gốc Việt - Mường) từ thế kỷ V, cộng đồng này không hề tiếp xúc vi ngôn ng và văn hóa Hán, nên vẫn tiếp tục duy trì hình tượng, nghi lễ cũng như cách phát âm từ Pt gắn với Pht giáo phi Hán. Bộ phận người Mường sống ở Hòa Bình, Tây Thanh Hóa vẫn tiếp tục thờ Pt gắn với nhiều lớp áo dân gian cho đến ngày nay;

105 Hiện nay ở người Mường vẫn duy trì tục thờ Pụt, bằng những nghi lễ cụ thể và có những ngẫu tượng Pụt bằng đá có hình người. Ông Pụt là điểm tựa tinh thầncùng quan trọng của những người nói ngôn ngữ Mường trải dài trên tuyến thượng đạo từ Hòa Bình phía bắc đến Quảng Bình phía Nam.
106 Nguyễn Cung Thông (2012): Bụt hay Phật (phần 1) [thuvienhoasen.org/a5101/but-hay-phat-phan1].

những nhóm tộc người cùng nói ngôn ngữ Vit - Mường như một bộ phận người Sách, Arem... cũng bảo lưu đây đó tín ngưỡng thờ Pt. Riêng cộng đồng người Nguồn ở Tây Quảng Bình, tín ngưỡng thờ Pụt nổi trội và cho đến nay, vẫn gần gũi vi cách thờ phụng Pt của người Mường nhất.
Điều đáng lưu ý, là do người Nguồn sống cậnvới người Kinh ở đồng bằng Quảng Bình, cũng như không ít người Kinh ở Hà Tĩnh, Nghệ An... đã cộng cư từ sm vi họ, nên ở đây đã xuất hiện trong tín ngưỡng thờ Pt yếu tố Phật giáo, Đạo giáo, kể cả Khổng giáo, mang tính khoa nghi t đồng bằng, ảnh hưởng không nh trong quan niệm cũng như cách thiết trí nghi lễ cúng Pụt, mà tài liệu Thích Ca Như Lai di giáo” như đã đề cập ở trên là một thực chứng. Tuy nhiên, cũng một thời, do dòng ảnh hưởng Tiểu thừa, mà chúng tôi ng rằng đã ảnh hưởng theo đường hoằng pháp Pht giáo từ Lào sang và dừng chân ở vùng đất này, cho nên về sau, có th những vị sư người Việt thuộc dòng Đại thừa từ min xuôi khi lên hoằng đạo tại đây, đã thích ứng sáng tạo nên tập “Tân soạn Tiểu thừa sám pháp Phật môn công văn” như là một cách tiếp cận và thích ứng vi tập quán của đại chúng của cư dân vùng này trên con đường truyn pháp của mình.
Riêng bộ phận sống lan tỏa băng qua lằn ranh biên giới Việt - Lào là nhóm Bru Trì, Bru Khùa, Bru Macoong, thuc ngữ hệ Mon-Khmer, h đã tiếp nhận Phật giáo từ Lào107 nên đã từng xây dng chùa chiền và sư sãi được đào tạo cũng từ Lào, mà trong ký ức khá rành mạch ở những người già thuộc nhóm tộc người Bru Khùa được thu lại qua quá trình phỏng vấn điền dã, cũng như những dạng kinh sách trên lá thốt-nốt đang được lưu giữ trong những cộng đồng này như đã trình bày ở trên là một minh chứng cụ th. Dòng Phật giáo này tất nhiên cũng có những ảnh hưởng nhất định đối vi những tộc người Việt - Mường cận cư, và có thể lan tỏa đến người Việt góp phần cho chúng tôi có thể liên kết để lý giải sự ra đời của những văn bản độc đáo ít thấy như tập “Tân soạn Tiu thừa sám pháp Phật môn công văn” vừa nêu.
Mc dù những tài liệu điền dã cũng như văn bản mà chúng tôi va trình bày chưa đủ sức thuyết phục để thể kết luận, tuy nhiên, ở đây đã gợi mở cho chúng tôi có niềm tin, để tiếp tục làm sáng tỏ mt vấn đề quan trọng về con đường ảnh hưởng Pht giáo ở vùng thượng đạo Việt Nam. Đây, rõ ràng không chỉ là chuyện của miền 
Tây Quảng Bình, mà liên quan đến Phật giáo Chăm-pa, Đại Việt và thậm chí là khu vực, nếu có được điều kiện nối kết một cách sâu rộng hơn bằng con đường điền dã và các văn bản tư liệu liên quan.


107 Từ những thế kỷ đầu Công nguyên, người Môn di chuyển, cùng những tu Sri Lanka sang vùng Tây Lào và truyền bá Phật giáo ở đây. Tuy nhiên rõ ràng nhất là từ thế kỷ XVI, khi tình hình vương quốc Lạng Xạn (Lào) ổn định, cũng chính là thời điểm mà Phật giáo ở Lào hưng thịnh nhất. “Dưới triều Visunlarat (1502- 1520) Tam tạng kinh đã được chính nhà vua cho dịch từ tiếng Pali, Sanskrit sang tiếng Lào… Để nâng cao hơn nữa vai trò của Phật giáo, năm 1527, vua Phothixararat đã ra một sắc lệnh cấm thần dân không được thờ Phỉ [Linh hồn vạn vật. tg] nữa mà chỉ được phép thờ Phật. Với sắc lệnh trên, việc thờ Phỉ từ xa xưa của nhân dân Lào bị bãi bỏ. Các đền xưa miếu cũ bị đập đi để xây chùa. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Lào, Phật giáo được đưa lên địa vị độc tôn và hoàn toàn thắng thế đối với các tôn giáo khác ở Lào. (Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia - Viện Đông Nam Á (1998): Lịch sử Lào, Nxb.Văn Hóa Thông Tin, Nội, tr.137-138).






 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây