04 - Thích Phương Đạt - LƯỢC KHẢO PHẬT GIÁO QUẢNG BÌNH TỪ KHI DU NHẬP CHO ĐẾN HIỆN NAY

Thứ hai - 16/12/2019 02:20

LƯỢC KHẢO PHẬT GIÁO QUẢNG BÌNH T KHI DU NHẬP CHO ĐẾN HIN NAY

 

Thích Phương Đạt


Phật giáo ra đời ở Ấn Độ cách đây trên 26 thế kỷ. Vi một nền triết lý, đạo đức và đuòng lối tu tp chứng ngộ siêu việt, Phật giáo đã truyền bá ra khắp thế gii. Phật giáo cũng được truyền bá vào Việt Nam khá sớm. Theo những cứ liu lch sử, thì Phật giáo đến với nước ta khoảng đầu k nguyên Tây lch và Quảng Bình vùng đất cực nam nước Âu lạc thi bấy giờ cũng có thời gian du nhập như vậy, chúng ta có th suy luận ra điều đó vì Phật giáo đến Việt Nam đầu tiên bằng đường biển, và Quảng Bình là vùng đất địa đầu nước ta tính theo đường biển thi bấy gi,
Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một tài liệu chuyên biệt, một nghiên cứu tng thể v Pht giáo Quảng Bình. Các bài viết về Pht giáo Quảng Bình thường chỉ mang tính chuyên khảo về một số di tích, hoặc từng lĩnh vực cụ thể mà thôi. Trong tương lai, cần phải có một cuc nghiên cứu để viết lại lịch sử Pht giáo Quảng Bình .
Hôm nay, nhân dịp kỷ niệm 10 năm ngày thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Quảng Bình tôi xin có tham luận “ Lược khảo Phật giáo Quảng Bình từ khi du nhập cho đến hiện nay”. Vì thời gian tìm hiểu nghiên cứu thực địa còn ít, nên bài viết chỉ dựa vào các bài viết của các nhà nghiên cu khác, nên bài viết gọi là lược kho mà thôi.
  1. Vị trí địa ca Quảng Bình qua cá thời k lch s.
Quảng Bình là một vùng đất đầy biến động trong lịch sử dựng nước Việt Nam. Qung Bình là một dải đát hẹp thuộc miền Trung nước ta là một tỉnh có nhiều thi k chia ra rồi sát nhập vào nước Việt Nam. Theo “ Đại Nam nhất thống chí” của Quốc s quán triều Nguyễn, thì xưa là đất Việt Thường, Đời Tần thuộc Tượng Quận, đời Hán thuộc quận Nhật Nam. Năm 192, Khu Liên một người bản địa nổi lên giết quan đô hộ, xưng làm vua, gọi tên nước Sinhapara, sử nhà Hán gọi là nước Lâm Ấp, địa gii từ Hoành Sơn đến hết Bạch Mã, giáp với Đà Nẵng ngày nay. S cổ Trung quốc là Lương Thư cho biết khoảng thập niên 220-230 con cháu Khu Liên có gi phái bộ đến Quảng Đông triều cống.
Năm 248, khởi nghĩa Bà Triệu, Đông Ngô cho Lục Dận sang Giao Châu dẹp loạn, đánh tới Khu Lt ( Huế ngày nay), năm 260 Lâm Ấp, bị mất trở về li với T
ượng Quận, Năm 270, cháu ngoại Khu Liên là Phạm Hùng lên làm vua, lãnh thổ m rộng đến thành Khu Túc ( Bắc sông Gianh ngày nay),Nước Lâm p trải bốn triều đại là Khu Liên (192-336), triều đại Phạm Dật (336-420), triều đại Phạm Dương Mại (420-530), triều đại Rudravarm (529-605) thì bị nhà Tùy chinh phục, nước Lâm Ấp diệt vong. Lâm ấp trở về vi Nhật Nam. Điều đáng nói trong thời k này là Lâm Ấp ly chữ Phn ( Sanskrit) làm ngôn ngữ chính và cả ngôn ngữ ngoại giao mà Hán thư có nhắc đến. Thể chế chính trị, do sự cố vấn của người Ấn các sư Ấn nên theo chế độ Quân chủ phân quyền khác với chế độ Quân chủ tp m của Trung Quốc.
V vua cuối cùng của Lâm Ấp chạy về vùng Trà Kiệu lập một quốc ấp biệt lập và duy trì đến năm 757 thì vững mạnh, tiếp tục lập quốc mở rộng lãnh thổ, lập nên nước Champa ( Campapura) mà sử Trung hoa gọi là Chiêm Thành, lãnh thổ t Hoành Sơn đến Bình Thuận. Quảng Bình lại thuộc Chiêm Thành từ đó.
Năm 1069, Vua Lý Thánh Tông với bộ tướng Lý Thường Kiệt thân chinh đánh Chiêm Thành, bắt được vua nước đó là Chế C và nhiều tướng sĩ. Chế C xin dâng đất chuộc mạng, cắt ba châu là Bố chính, Địa Lý, Ma linh trả về cho Đại Việt, Quảng Bình lại thuộc Đại Việt. Sau đó Chiêm Thành chiếm lại đất ấy. Mãi đến năm 1301, nhân chuyến tuần du của Phật hoàng Trần Nhân Tông về phương Nam đòi lại ba châu đó. Mãi đến năm 1363, niên hiệu Đại Trị th tư vua Trần Duệ Tông mới có tri phủ của nước Đại Việt đầu tiên tại Quảng Bình , và Quảng Bình mới chính thức sát nhập vào nước Việt Nam cho đến ngày nay.
  1. Pht giáo du nhập vào Quảng Bình
Pht giáo du nhập vào Quảng Bình từ rất sớm, nhưng như trên đã nói, vùng đất Quảng Bình có nhiều biến động về lịch sử, cho nên Pht giáo ở Quảng Bình cũng có nhiều lần du nhập, trải qua nhiều thế kỷ, và cũng có nhiều con đường du nhập khác nhau. Theo nhà nghiên cu Nguyễn Ngọc Trai, thì có năm con đường du nhập của Pht giáo vào Quảng Bình, tuy nhiên theo tôi có bốn con đường chính Phật giáo du nhập vào Quảng Bình như sau:
  • Đầu tiên, Phật giáo du nhập vào đường biển vào đầu kỷ nguyên Tây lịch, mà hiện nay còn nhiều di chỉ còn tn ti.
  • Pht giáo du nhập vào Quảng Bình từ Trung Quốc, trong thời kỳ đô hộ nước ta, rồi tái du nhập vào thời kỳ đầu chúa Nguyễn
  • Pht giáo từ Đại Vit do vua Trần Nhân Tông truyền bá
  • Và cuối cùng là Phật giáo du nhập từ Lào cho các vùng núi phía Tây Quảng Bình mà hiện nay còn di tích.
    1. Pht giáo du nhập bng dường biển
Các nhà sử học Phật giáo đều thống nhất là Phật giáo du nhập vào Việt Nam đầu tiên là từ Ấn Độ theo đường biển. Trong những chuyến hải hành của các thuyền buôn từ Ấn Độ đến Trung Quốc, những chủ thuyền buôn này thường mời các nhà sư đi theo thuyền để cầu nguyện. Trên đường đi, suốt cả một năm dài các nhà sư Ấn thường dừng chân và truyền bá Phật giáo. Từ đó, các trung tâm Phật giáo hình thành. Sm nhất là trung tâm Phật giáo Luy Lâu ( Thuận Thành, Bắc Ninh). Từ đây chúng ta cũng có thể suy ra, Phật giáo Quảng Bình cũng có thời gian du nhập như thế, vì ít ra Quảng Bình là địa đầu của nước ta tính theo l trình hải hành. Niên đại cụ th thì ít ra trước năm 192, vì lúc Khu Liên lập quốc năm đó thì lấy chữ Phạn làm ngôn ngữ chính, và tổ chức chính quyền theo Ấn Độ, chứng tỏ văn hóa Ấn Độ ảnh hưởng sâu rng tại nơi này. Phật giáo cũng là tôn giáo chính ở đây.
    1. Pht giáo du nhập vào Quảng Bình từ Trung Quốc
Do những biến động lịch sử, Quảng Bình là nơi giao thoa của hai nền văn hóa ln là Ấn Độ và Trung Quốc cho nên Phật giáo từ Trung Quốc cũng lan truyền đến Qung Bình trong thời kỳ đô hộ Đại Việt, cụ th là vùng Nhật Nam, nơi có lúc Qung Bình là trực thuộc qun này.
    1. Dòng thiền Trúc Lâm: theo ngài Phật hoàng Trần Nhân Tông cũng được truyn rộng rãi và trải dài cho đến thời Trung Hưng, mà những chùa chiền ở phía Bc Quảng Bình còn lưu dấu
    2. Pht giáo du nhập từ Lào
Vùng đất phía Tây Qung Bình là vùng núi non hiểm trở, đây là vùng đất cư trú của người Nguồn ( người Việt cổ), họ chống lại ách đô hộ của Trung Quốc nên lánh nạn lên đây. Vì ít chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc, lại gần gũi giao lưu với nước Lào thường xuyên, nên có những người sang Lào xuất gia về quê hương lp chùa tu tập và hoằng pháp, nên Phật giáo nơi đây chịu ảnh hưởng Phật giáo Lào. Tín ngưỡng thờ Pụt, thác Pụt, và chùa Bụt là những bằng chứng xác thực nht.
  1. Những giai đoạn phát triển của Phật giáo Quảng Bình
Từ khi du nhập cho đến ngày nay, Phật giáo Quảng Bình đã có những giai đoạn phát triển hoàng kim, có những giai đoạn trầm lắng, nhưng thời kỳ nào cũng xuất hiện nhiều vị danh tăng, những kiến trúc nổi tiếng mà đến nay còn lưu dấu. Phật giáo Quảng Bình thể chia ra 5 giai đoạn như sau:
  • Giai đoạn Phật giáo Lâm Ấp – Chăm pa: kéo dài tới 1171 năm (từ 192 1363)
  • Giai đoạn Phật giáo Trần – Lê
  • Giai đoạn Phật giáo thời kỳ Trnh Nguyễn phân tranh cho đến cuối triều Nguyn
- Giai đoạn 1954-2009
  • Giai đoạn 2009nay
    1. Giai đoạn Phật giáo Lâm p –Chăm pa
Thi kỳ này kéo dài hơn một thiên niên kỷ, nên cũng là thời kỳ có nhiều dấu tích nhất trong lch sử Pht giáo Quảng Bình. Như trên có nói, khi Khu Liên lập nên quốc gia Lâm Ấp, ông đã chịu ảnh hưởng sâu sắc văn hóa Ấn Độ, và nền văn hóa ấy được mang đến từ các thương gia và các nhà sư Ấn, cho nên Phật giáo cũng đã phát trin bên cạnh Saman giáo (Bái vật giáo) bản địa. Phật giáo thi k này là Phật giáo nguyên thủy ( Thevarada). Chúng ta có th khẳng định như vậy Phật giáo Đại thừa xuất hiện vào đầu kỷ nguyên Tây lịch, chưa có thời gian phát triển và truyền bá ra ngoài. Hơn nữa, những di chỉ còn lại như tượng Phật, bi kí còn lại tại Quảng Bình cũng còn dấu tích của Phật giáo nguyên thủy. Theo sử liệu, Phật giáo Đại thừa xuất hiện vào thời Chăm pa.
Thi kỳ Chăm pa, các vua đầu triều theo c Phật giáo nguyên thy lẫn Ấn Độ giáo, nhưng đến triều đại vua Indravarman II (năm 875) ông chính thức theo Phật giáo Đại thừa, xây dựng tu viện Đồng Dương ở Thăng Bình, Quảng Nam. Phật giáo Đại thừa ( Mahayana) cũng phát triển rực r ở Quảng Bình .
Theo những nghiên cu mới đây của các tác giả trong tạp chí Liễu Quán, thì Pht giáo từ Lào truyền vào phía Tây Quảng Bình cũng vào thời kỳ này.
Pht giáo Trung Quốc cũng truyền bá mạnh trong thi kỳ này, ở Quảng Bình xuất hiện nhiều vị danh tăng xuất hiện, vừa đi sang Ấn Độ học tập, chiêm bái, vừa được mời sang cung vua nhà Đường thuyết pháp, chứng tỏ Phật giáo Quảng Bình phát triển rực r như thế nào.
Mc dù trải qua nhiều cuộc can qua trong suốt chiều dài lch sử mà Quảng Bình là chiến trường chính, nhưng những biến động đó cũng không xóa nhòa hết tất cả mhwmgx di tích lịch sử, chùa chiền, và những vị danh tăng của Phật giáo Quảng Bình trong thời kỳ này. Chúng ta có thể ghi lại những di chỉ đó qua quá trình khảo cứu của các nhà nghiên cứu nổi tiếng.
  1. Những di tích còn sót lại:
Theo nhà nghiên cứu lch s Nguyễn Ngọc Trai, Quảng Bình hiện còn hai trung tâm Phật giáo ln ở Quảng Bình mà ông gọi là hai thành ph chùa tháp gm: nhiều chùa tháp,hang động chùa ở phía bắc Quảng Bình và khu tháp chùa ở khu vc hai huyn Quảng Ninh - Lệ Thủy.
-  Những di chỉ còn tồn tại ở phía bắc Quảng Bình:
Tượng Phật ở Quảng Khê ( Bố trch), với y che kín hai vai, phía sau có hào quang, giống với tượng Phật Ấn Độ thế k IV-VI.
Tấm bia ở Ròon (sông Di Luân), còn 41 ch Phn, tán thán Bồ tát Quán Thế Âm ( Avalokitesvara) và khu đất mà vua Indravarman II cúng cho mt Phật viện, chứng t có một Pht viện ln ở gần đó.
Đặc biệt, chùa hang Phong Nha là mt di tích Phật giáo ln ở Quảng Bình, năm 1899, linh mục Cadirier người Pháp khi thám hiểm hang động Phong Nha đã phát hiện ba bệ th bằng gạch Chăm, và 97 tự chữ Phn – Chăm cổ, một số tượng Pht nhỏ bằng đất nung. Ông chỉ đọc được chữ namo carada arahart. Theo c giáo sư Trần Quốc Vượng thì carada là đệ t của ngài Xá Lợi Phất. Câu trên có nghĩa “ Quy ngưỡng bậc A la hán Carada”. Một học giả người Pháp khác tên Favi, vào đầu thế kỷ XX đã đọc thêm chữ Capimala, mà Capimala là t th 13 của Thiền tông, là bổn sư ca ngài Long Th.
Bi kí Lạc Sơn (thuộc Thuận Hóa, Tuyên Hóa) trong động Lạc Sơn khắc tới 40 kí t nhưng chưa đọc được.
Bi ở Bắc Hà ( Quảng Trach) có 41 ký tự chưa đọc được.
Cng chùa làng Lý Hòa còn ba chữ Phạn dịch nghã là Vĩnh Sơn tự.
Người Nguồn ở Tây Quảng Bình cũng tiếp nhận Phật giáo nguyên thủy từ Lào sang từ đầu k nguyên Tây lịch, duy trì thờ Pụt cho đến thế k thVI sau Tây lch, họ cũng xây chùa Hoằng Pháp tại Dân Hóa, Minh Hóa lèn th Bt ở lèn Bụt, các l hội ở lèn Bụt vẫn duy trì cho đến nay.
-     Những di tích tháp ở phía nam Quảng Bình :
Phía nam Quảng Bình còn mt quần thể tháp Phật khá nhiều, năm 1927, các nhà nghiên cứu người Pháp ở viện Viễn Đông Bác cổ đã ghi nhận như sau:
Tháp Trung Quán, ở huyện Quảng Ninh, được xây bằng gạch, mỗi cạnh đáy rộng 7,1 mét. Dưới đáy có đặt con rùa vàng dài 4cm, hai mảnh vàng hình hoa sen, và 10 viên đá quý.
Cách đó 5km, có tháp Đại Hữu thuộc xã An Ninh, huyện Quảng Ninh cũng có cm 3 tháp nhỏ. Mi cạnh tháp rộng 5,5 m, xây bằng gạch Chăm trét bằng nhựa cây. Đặc bit, ở tháp Đại Hữu phát hiện tượng Avalokitesvara ( Quán Thế Âm) rất 
sắc nét, hiện trưng bày ở vin bảo tàng Chăm, Đà Nẵng, được thủ tướng công nhận là bảo vật quốc gia đợt 2 năm 2013.
Cm tháp M Đức ( Sơ Thủy, huyện Lệ Thủy) cũng có 3 tháp nhỏ, chiều rộng mỗi cạnh đáy là 5,5 mét. Khai quật ở đây có nhiều tượng Phật, Bồ tát. Nhưng chỉ có một tương Phật bằng đồng thau cao 0,44m là có giá trị nghệ thut còn các tượng nh thì thô xấu.
  1. Những vị danh Tăng Quảng Bình trong thời k này.
Phật giáo đã đến Quảng Bình từ rất sớm, hệ thống chùa tháp xuất hiện khá dày đặc so vi mật độ dân cư thời đó. Như vậy suốt chiu dài lch sử các số liu về chùa chiền, tín đồ, tu sĩ không có một ghi chép nào. Với những li thế riêng biệt của vùng đất Quảng Bình như là điểm giao lư hai nền văn hóa lơn là Trung Quốc và Ấn Độ, lại ly ngôn ngữ chính là Phạn văn, nên chắc chắn ở đây xuất hiện nhiều vị danh tăng trong thời k đầu. Tuy nhiên, vì không có s liu riêng biệt, việc tìm ra tên tui những vị này là việc vô cùng khó khăn. Ngay như việc nơi này dùng Phạn văn để giao dịch, địa giới của quốc gia cũng chỉ dựa vào sử cổ Trung Quốc như: Thủy kinh chú thi Tam Quốc , Lương Thư để biết.
May mắn là có những vị danh Tăng sức học uyên thâm, có sự chứng ngộ đặc sắc được mi sang cung vua ca Trung Quốc giảng kinh, có giao lưu với các thi nhân nổi tiếng đời Đường nên họ có thơ ca tụng. Từ nguồn này chúng ta biết được một số v.
Ngun thứ hai mà chúng ta có được là qua tác phẩm “ Đại Đường cầu pháp cao tăng truyện” của Nghĩa Tịnh. Nghĩa Tịnh đã ghi chép một số vị Tăng Sĩ Nhật Nam mà Ngài gặp trên đường đi sang Ấn Độ.
Qua tác phẩm “ Việt Nam Phật giáo sử luận” của Nguyễn Lang, chúng ta có th nêu tên một số vị sau:
Những vị cao Tăng chịu ảnh hưởng Phật giáo Trung Quốc, mà Nguyễn Lang đã dẫn ở thì có :
  • Pháp sư Phụng Đình, người được thi sĩ Dương Cự Nguyên, sống cuối thế kỷ th bảy có bài thơ tiễn Pháp sư về nước sau khi được vua Đương mời sang giảng kinh cho vua. Vị này chúng ta chỉ biết là người Giao Châu
  • Pháp sư Duy Giám, giảng kinh xong về nước, thi Giả Đảo cũng có bài thơ tin
  • Thiền Ngại, ở quận Nhật Nam, khi thi sĩ Thẩm Thuyên Kỳ đầu thế kỷ th tám, có qua Việt Nam chơi có gặp Ngài. Ông xưng là Vô Ngại thượng sĩ, là hóa thân của Phật, xin làm đệ t và tỏ ý tiếc vì chưa hiểu sâu Phật pháp để đàm đạo vi Ngài.
 
    • Còn một vị thiền sư không tên mà thi sĩ Trương Tịch đời Đường, gọi là Nhật Nam tăng, tu ở núi quận Nhật Nam, mà không biết núi nào.
Trong bốn vị ở trên, không có vị nào được ghi trong cuốn Thiền Uyển tập anh, mt cuốn sử Pht giáo Việt Nam thời kỳ đó, cho nên chúng ta có thể đặt nghi vấn rằng các Ngài này không thuộc hệ thống truyền thừa ở min Bắc, cho nên chắc rằng họ ở vùng miền Trung và có thể hoằng pháp tại Qung Bình .
Mt nguồn tư liệu có tư ngài Nghĩa Tịnh ghi lại, khi ở Ấn Độ, Ngàigp mt số vị Tăng Việt Nam. Các vị này giỏi Phạn ngữ lẫn Hán ng, ngoài tên bằng tiếng Việt các Ngài có Pháp hiu tiếng Phạn, lại không có tên trong Thiền Uyển tập anh, cho nên chúng ta có thể coi các Ngài là người ở Quảng Bình cũng được. Sáu vị Tăng qua du học n cuối thế kỷ thứ bảy đầu thế kỷ th tám. Đó là các vị:
    • Pháp sư Vận Kỳ gii cả Phn lẫn Hán, ngài Nghĩa Tịnh có gặp ở Ấn, lúc đó ngài Vân Kỳ khoảng 30 tuổi, sau đó được thiền sư Hội Ninh người Trung Quốc nhờ mang bộ kinh Đại Niết Bàn đã dịch sang tiếng Hán về cho vua Đường. ngài Vận Kỳ có mang đến.
    • Pháp sư Giải Thoát Thiên dịch nghĩa của tên Moksadeva, từng tham bái Bồ Đề đạo tràng. Ngài mất khoảng 25 tuổi
    • Pháp sư Đại Thừa Đăng tên này cũng dịch nghìa pháp hiệu tiêng Phạn là Mahayanapradipa, cũng vân du học đạo, đi qua Trung Quốc xin th gii vi ngài Huyn Trang sau đó đi Srilanka, Ấn Độhc tập không ngừng và Ngài có thể chú gii các luận thư bằng Phạn ngữ. Ngài mất ở chùa Panirvana, Ấn Độ lúc hơn 60 tuổi.
Ngoài ra còn có hai v nữa mà chúng ta chắc chắn không phải ở Quảng Bình . đó là những vị danh Tăng mà chúng ta có th biết qua các sử liu ghi chép , còn nhiều vị nữa chúng ta chưa biết. Như trong Kiến văn tiểu lục, Quý Đôn có viết: “ Các bậc cao Tăng nước ta không phải it, trong khoảng thuộc Tấn, thuộc Đường, tất nhiên có nhiều điều đáng ghi chép, nhưng ghi chép còn thiếu sót”
    1. Giai đoạn Phật giáo Quảng Bình thời Trần- Lê
Như chúng ta đã biết trước, năm 1069, vua Lý Thánh Tông đánh Chăm pa bắt vua Chế C nước ấy, Chế C phải dâng 3 châu là Địa lý, B chính và Ma linh để chuc mạng, vua Lý chuẩn y cho. Mặc nhận được ba châu ấy, nhưng nhà Lý vẫn chưa di đan vào vùng Quảng Bình. Chỉ có ba người di dân vào làng Pháp Kệ, xã Quảng Phương, Quảng Trạch con cháu nhà Lý sau này đổi thành h Nguyễn là còn được ghi chép vào thần phả của làng. Họ cũng lập chùa thờ Phật gọi là chùa Linh Tiên. Còn phần đất ba châu cũng bị Chăm pa chiếm li.
Sau chuyến tuần du phương Nam của Phật hoàng Trần Nhân Tông, năm 1301, ba châu sau đó được trả về cho Đại Việt vào năm 1305. Dù chuyến đi của Phật hoàng khá ngắn ngủi (8 tháng) nhưng Ngài đã lập nên am Tri Kiến ở M Thủy, Lệ Thủy. Và tư tưởng “ Hòa quang đồng trần” (Ở đời vui Đạo) của Phật giáo Trúc Lâm ảnh hưởng cực sâu rng trong Phật giáo Quảng Bình.
Phải đến năm 1471, khi vua Lê Thánh Tông kéo quân vào đánh Chăm pa, chiếm lại phần lớn phần đất phía bắc của nước này, Chăm pa suy yếu thì vùng đất này mới thưc thụ tr thành đất Đại Việt. Để gi đất vùng ấy, nhà di dân ồ ạt vào vùng đất mi. Lập ấp, xây làng, tạo chùa, khắc tượng, người Việt định hình trên đất Quảng Bình .
Đa số các nhà Nho học như Lê Quát, Trương Hán Siêu đều lên tiếng phê phán Pht giáo, vì Nho hc gần như giữ v thế độc tôn trong giai đoạn này. Từ đó, nhiều học giả cho rằng Phật giáo đã suy đồi thời Lê. Tuy nhiên, sự tht không phải thế, mà Pht giáo Việt Nam đi từ chỗ Pht giáo tri thc chuyển sang Phật giáo đại chúng, đi t nghiên cứu tu tập sang tín ngưỡng và nghi lễ. Do cần một số lượng lớn nhân đinh di dân vào vùng đất mới, mà số lượng tăng chúng quá đông, ít học nên nhà Lê phi tổ chức nhiều cuộc thi v Phật giáo để thanh lọc và bắt hoàn tục những vị sư tu tập vì hoàn cảnh.
Vì những lí do trên, Pht giáo Quảng Bình thời nhà Lê phát triển rc rỡ nhất- phát triển đến độ có thể thay thế Phật giáo trong thời Chăm pa. Việc di dân lp ấp,sau khi định cư người dân lập chùa để phục vụ nhu cầu tín ngưỡng, rồi rước sư ở phía Bắc vào trú trì. Hàng lot ngôi chùa mc lên ở phía bắc Quảng Bình. Chúng ta chưa th thng kê hết những ngôi chùa thời kỳ này, vì một số đã bị phá hủy trong các cuộc chiến, nhưng thể kể ra các ngôi chùa còn sót lại cho đến ngày nay như:
Ở huyện Quảng Trạch có các ngôi chùa: chùa Cảnh Phúc ở Cảnh Dương xây dựng đầu thế kỷ XVII, chùa Thọ Sơn ở xã Quảng Đông xây dựng đầu triều Lê, chùa Phúc Kiều ở Quảng Tùng xây dựng thế k XV, chùa Phúc Sơn ở xã Quảng Phú xây dựng 1549.
Ở huyện Tuyên Hóa có các chùa : chùa Linh Sơn ở xã Tiến Hóa xây dựng năm 1471, chùa Ngọa Cương ở xã Cảnh Hóa xây dựng đầu thế kỷ XVI, chùa An Quốc ở xã Mai Hóa xây dựng năm 1633 
th xã Ba Đồn có các chùa: chùa Cảnh Tiên ở phường Quảng Thuận xây dựng năm 1472, chùa Vĩnh Tu ở phường Quảng Minh xây dựng năm 1475, chùa Xuân Thy ở xã Quảng Thủy xây dựng đầu thời Lê.
Ở huyện Bố Trạch các ngôi chùa: chùa Quan Âm ở xã Thanh Trạch xây dựng năm 1473, chùa Thanh Quan ở xã Thanh Trạch xây dựng năm 1556
nhiu chùa chỉ còn là phế tích chưa thống kê được.
Thi kỳ này các di dân cũng về lại quê hương mời các nhà sư vào trú trì. Chúng ta chỉ biết được các vị sư còn được thờ ở các chùa còn nguyên vẹn, và từ đó chúng ta biết được dòng thiền Trí Bản Đột Không đi vào trú trì được 10 đời còn bài vị th ở chùa An Quốc, xã Mai Hóa gm:
Đời 34, ngài Chánh Quang Đà Lâm, đời 35 có hai ngài: Như Quý, Như Bá, đời 36 có Tính Lương, Tính Minh, đời 37 có Hải Lưu, Hải Long và kéo dài đến đời thứ 44.
Cho nên có thể nói là Phật giáo Quảng Bình thời này phát trin rực r.
    1. Pht giáo Quảng Bình thời Trịnh Nguyễn phân tranh thời Nguyễn
S dĩ chúng tôi không gom giai đoạn lch sử Trnh Nguyễn phân tranh vào thời Lê vì hoàn cảnh đặc biệt của Quảng Bình. Đây là ranh giới chia cắt đất nước ra hai min Nam Bắc suốt gần 200 năm. Đây cũng bãi chiến trường khốc liệt nhất, xảy ra liên miên của sự giành giật đất đai của hai thế lực Trịnh – Nguyễn. Nhưng nhìn chung, Quảng Bình gần như là vùng đất của chúa Nguyễn nên chúng tôi gom giai đoạn này vào thi nhà Nguyễn sau này.
Không phải kể t khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ đât Thuận Hóa (1558) thì githi Trnh Nguyn phân tranh, mà thật ra đến năm 1627 khi Trịnh Tráng dn binh vào đánh chúa Nguyễn Phúc Nguyên thì thế cục Trịnh Nguyễn phân tranh xảy ra. Hai bên lấy sông Gianh ( Linh Giang) làm ranh giới chia cắt đất nước.
Sau thi kỳ xây dựng chùa chiền thi k đầu nhà Lê, mà các chùa chiền của Pht giáo Quảng Bình xây dựng dọc hai b sông Gianh, thì sau khi chia ranh gii, Pht giáo lại tiếp tục phát triển về phía Nam Quảng Bình. Do nhu cu tâm linh, cùng các lễ cầu an cho gia đình đồng bào vào định cư, cũng như cầu siêu cho các chiến sĩ trn vong các ngôi chùa lại được tiếp tục xây dựng. Các v công thần đời đầu của Chúa Nguyễn như Nguyễn Hữu Tiến,Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Hu Cảnh tiếp tục xây chùa ở phía nam sông Gianh, nhất là vùng sông Nht Lệ. Các ngôi chùa lnth kể tên như: Chùa Cảnh Tiên, tại ấp Tráng Tiệp, xã Võ Ninh (nay là xã Gia Ninh, huyn Quảng Ninh) do Nguyễn Hữu Dật xây nửa cuối thế kỷ XVII. Chùa Kim Phong trên núi Đầu Mâu, xây dựng năm 1701. Chùa Linh Sơn ở thôn Đại Phúc, xã Vạn 
Ninh do Nguyễn Hữu Cảnh xây cuối thế kỷ XVII, và các chùa như chùa Kim Nại, chùa Tân Ninh, chùa Quảng Xá…
Phi nói rằng, chùa chiền được xây dựng thời Trnh Nguyễn phân tranh khá nhiều, được sắc phong dưới triều vua Lê cũng khá nhiều.
Tuy nhiên, phải nói thật rằng, vì cách trở giang sơn, vì đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng là chủ yếu, nên Phật giáo Quảng Bình ở giai đoạn này mang tính quần chúng là chủ yếu, hình như vắng hẳn Phật giáo trí thức. Như Nguyễn Hữu Dật được xưng là Bồ tát trong dân gian và c trong các văn bản! Các vị sư thời kỳ này cũng đa phần theo li hiệu triệu của Nguyễn Hữu Cảnh di dân vào miền Nam để theo di dân vào khai phá vùng đất mới. Số ở li Quảng Bình phần nhiều là nửa tăng nửa tục, chỉ có một vị Sư tên Ân Khả sáng lập chùa Kim Phong là được nhc tên.
Đến thi vua Quang Trung, chùa chiền bị tàn phá rất nhiều.
Sau khi Nguyễn Ánh đánh đổ triều Tây Sơn, lên ngôi lấy hiệu là Gia Long ( 1802), thống nhất đất nước, đóng đô ở Huế, thì Phật giáo Quảng Bình tiếp tục duy trì như cũ. Các chùa chiền được trùng tu to lớn hơn, có ba ngôi chùa được gọi là quốc t là Chùa Kính Thiên (sau đổi là Hoằng Phúc), chùa Cảnh Tiên, chùa Linh Quang ở Dinh Ngói, Lý Trạch, Bố Trạch (hiện nay không còn). Ngoài ra các ngôi chùa nh cũng được xây thêm, gần như làng nào cũng có chùa trên đất Quảng Bình .
Các vị Tăng cũng được phân bổ vào Nam theo vùng đất mi, nên Quảng Bình cũng vắng hẳn Tăng. Danh Tăng thời này có các vị như ngài Đắc Ân làm Tăng cang chùa Quc Ân ở Huế, ngài Đắc Quang làm tr trì quốc tự Linh M. Các thiền phái Nguyên Thiều, Liễu Quán cũng được truyền thừa ở đây. Nhiều giới đàn, các trường Hạ cũng tiếp tc duy trì.
Khi phong trào chấn hưng Phật giáo khoảng đầu thập niên 30 thế k XX, Phật giáo Quảng Bình cũng được chấn hưng. Trường Bồ Đề được thành lp tại chùa Phật Học tại Đồng Hới, Tăng sĩ cũng khá đông, chương trình học bài bản, và chỉ đào to cấp học trung đẳng sau đó gửi vào Huế học Đại học và đào tạo được một số danh Tăng như Ngài Trí Quang cũng học ở trường này.
    1. Pht giáo Quảng Bình giai đoạn 1954-2009
Giai đoạn này Phật giáo Quảng Bình là thành viên của Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam. Ngài Hồng Tuyên là ủy viên trung ương hội, và là chi hội trưởng Phật giáo Quảng Bình. Còn nhiều v Tăng trẻ, sau khi chia cắt đất nước đãli miền Nam và trở thanh rường cột của Phật giáo. Có thể kể mt vài vị nổi tiếng như : ngài Trí Quang, ngài Tuệ Sỹ, ngài Minh Tuệ, ngài Thiện Hạnh…
    1. Pht giáo Quảng Bình t 2009 đến nay
 
Từ khi giáo hội Phật giáo tỉnh thành lập đến nay đã 10 năm từ con số 0 đến nay đang phát triển mạnh đúng chánh pháp.
Phật giáo Quảng Bình đi lên từ con số 0, gần 60 năm vắng bóng Phật giáo, chỉ 10 Phật giáo phát triển như hiện nay là thành quả lớn. Văn phòng giáo hội, chùa Đại Giác xây trên vùng đất trũng sâu từ 2,8 đến 3, 5m, tiền bạc thiếu, phật tử chỉ vào chục người mà xây thành ngôi chùa lớn như hiện nay sự nổ lực của Phật giáo Quảng nh.
Giáo hội Phật giáo các huyện thành lập như huyện Lệ Thủy, Huyện Quảng Ninh, huyện Bố Trạch
Phật tử quy y tại chùa Đại Giác các chùa huyên rất đông nói lên sự Phát triển Phật giáo Quảng Bình
Phật giáo Quảng Bình đang đi đúng chánh pháp: Giáo hội Phật giáo tỉnh, huyện quan tâm đến thiền, quan tâm cầu siêu.. Quan tâm đến thế hệ tuôi trẻ ở các trường. Các ngôi chùa Văn phòng một số các Giáo hội có lư hương trước chùa thắp chung là chủ yêu.
Các ngôi chùa quan tâm về sinh thái. Ngôi chùa Quảng Xá sẻ là trung tâm du lịch tâm linh sinh thái lý tưởng trên diện tích có thể lên 6 ha có rừng bần 13 ha, rất nhiều cây xanh, mới 4 năm mà ngôi chùa phủ trùm cây xanh bên dòng sông và nhánh sông Kiến Giang.
  1. Thay lời kết
Bài lược khảo dựa vào nững sử liệu từ nhiều nguồn khác nhau, và những sử liệu này được những nhà sử học có uy tín từ xưa đến nay ghi chép lại. Mặc dù chưa đầy đủ nhưng ít nhất đã phác thảo những đường nét bản về Phật giáo Quảng Bình từ thời du nhập cho đến ngày nay. Bức tranh về Phật giáo tại Quảng Bình thật là phong phú về màu sắc. Phật giáo tại Quảng Bình không những đặc sắc về con đường du nhập, đặc sắc về hệ phái tu tập, đặc sắc về truyền thừa mà còn đăc sắc về văn hóa vật thể Phật giáo nữa. Dù địa giới hành chính biến động từ chủ thể này sang chủ thể quóc gia khác nhưng dòng chẩy Phật giáo vẫn tuôn trào gần hai thiên niên kỷ .
Với những thành tựu của mười năm thành lập GHPGVN tỉnh Quảng Bình, chúng ta hy vọng sẽ tiếp tục kế thừa và phát huy truyền thống hai ngàn năm của Phật giáo Quảng Bình nói riêng và Phật giáo Việt Nam nói chung.
Đại Giác, PL.2563- DL 2019




 

Tài liệu tham khảo

  1. Đại Nam Nhất Thống chí, Quốc sử quán triều Nguyễn, Hoàng Văn Lâu dịch, nxb Lao Động, 2012
  2. Việt Nam Phật giáo sử luận, Nguyễn Lang, nxb Văn Học, 2010.
  3. Ô châu cận lục, Dương Văn An, Nguyễn Khắc Thuần dịch, nxb Giáo Dục Việt Nam, 2008
  4. Đại Việt sử ký toàn thư, Lê Văn Hưu, Phạm Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên, nhiều người dịch, nxb Văn Hóa.
  5. Kiến Văn tiểu lục, Lê Quý Đôn, Nguyễn Trọng Điềm dịch, nxb Trẻ 2012
  6. Thủy kinh chú sớ, nhiều tác giả thời Tam Quốc, Nguyễn Bá Mão dịch, nxb Thuận Hóa, 2005
  7. Phật giáo Quảng Bình xưa và nay, Nguyễn Ngọc Trai, nxb Nghệ An,2018.
  8. Nước Lâm Ấp, Wikipedia
  9. Nước Chăm pa, Wikipedia mở.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây