02. QUÁ TRÌNH TRUYỀN THỪA CỦA PHẬT GIÁO NAM TÔNG KHMER Ở VIỆT NAM

Thứ bảy - 08/09/2018 11:56
QUÁ TRÌNH TRUYỀN THỪA CỦA PHẬT GIÁO NAM TÔNG KHMER Ở VIỆT NAM của Đào Chuông*
Phật giáo Nam tông Khmer hiện nay đưc cho là Hệ phái Theravada, truyền vào từ Sri Lanka qua Miến Điện, Thái Lan, Campuchia rồi vào Vit Nam. Nhận định nêu trên của nhiu nhà nghiên cu xem ra là rất logic, vì con đưng đến Việt Nam phải qua nhng đoạn đưng như vy. Nhưng nếu nghiên cu sâu xa hơn, sẽ thy, nhng điều tưng chng như logic đó vẫn còn nhiều vấn đề phải tranh luận.

Trưc hết nguồn gốc truyền tha Pht giáo có đim xut phát là từ đâu và thi đim nào để vào Sri Lanka và các vùng khác? Nếu làm rõ việc này, sẽ tìm thy bối cnh hoàn toàn khác. Tôi xin nêu nhng vấn đề đó như sau:

Theo thông tin được nêu trong Pathamasamantappasàdika, Phật giáo truyền vào Sri Lanka từ Ấn Độ trong khoảng Phật lịch 234 (khoảng 309 năm trưc Công nguyên). Vào thi đim này, Phật giáo đã tổ chc va xong Đại hội lần thứ ba vi sự chủ trì của Sangitikacar, trong đó có trưng lão Moggaliputta Tissa Thera chủ tọa, dưi sự tài trợ của Quốc vương Dhamma Sokka ràja của Ấn Độ lúc bấy gi. Sau Đại hội, Trưng lão suy nghĩ rằng: “Phật giáo sẽ truyn bá đến nơi nào? Sẽ tồn tại nơi nào?”. Suy ngxong, ngài nói: “Pht giáo sẽ tồn ti ở nhng quốc gia lân cận ngoài Ấn Độ. Từ đó, ngài quyết đnh cử giáo sứ đến nhng nơi đó để truyn bá Phật giáo, đt truyn đạo vi quy mô

 
  •  
  • Nguyên Trưởng đoàn Văn công Khmer tnh Kiên Giang.
 
ln đã diễn ra. Theo cuốn Lịch sử Phật giáo Campuchia do Tỳ kheo Pang Khát làm chủ biên, danh sách tăng sĩ đưc cử đi truyền đạo trong đt này như sau:

Tên chư ng

Nơi cử đến
(địa danh xưa)

địa danh hiện tại

1.Majchhontika

Kasmira Kondhara

Kasmira Kondhara

2. Mahadeva

Mahisa Mondol

tỉnh Maysore

3. Rakkhita

Vanavasì Pades

bắc tnh Kanara

4. Yonaka Dhamarakkhita

Aparantapadesa

tỉnh Gujaràt

5. Maha Dhamarakkhita

Maharadha

tỉnh Marathe

6. Maha Rakkhita

Yonakapades

Hy Lạp (tây bắc Ấn Đ)

7. Majjhim

Hemavanapades

Himalaya (phía Bắc)

8. Mahamahinta

Tampapanni

Siri Lanka

9. Sona Uttara

Suvanaphumi

Đông Nam Á

Như vy, trong đt truyn đạo này không thể nói là Phật giáo chỉ truyền vào Sri Lanka, mà đến chín nơi được phân công. Theravada chỉ để gọi riêng cho Phật giáo Sri Lanka, không gọi cho cả tám nơi còn li. Phật giáo Nam tông Khmer không phi đưc truyền tha từ Sri Lanka mà gọi là Theravada thì còn nhiều vấn đề phải tranh luận.
    1. Theo cách giải thích của các tác giả trong cuốn Phật giáo Nguyên thủy từ truyền thống đến hiện đại (Nxb. Hồng Đc), thì Theravada là Phật giáo Nguyên thy, Phật giáo Nam truyn, Phật giáo Nam tông, Pht giáo Tiểu tha… Ở đây, tôi xin nêu ý kiến
 
riêng về từ Theravada như sau: Trong tiếng Pali, Thera có nghĩa là chư tăng cao tuổi tăng, còn từ Vada hay Vadi là li truyn. Theravada là li truyn của chư tăng (cao tuổi tăng). Ở đây có nghĩa là hệ phái thc hiện theo li truyền của các vị Thera.
    1. Có chín nơi đưc phân công đến truyền đạo, trong đó đim thứ chín là vùng Suvanaphumi do hai vị Sonathera và Utarathera đưc phân công. Suvanaphumi là “vùng đất vàng”, tên của ngưi Ấn gọi vùng Đông Nam Á lúc by gi. Đim dng chân của hai vị tăng nêu trên đến nay vẫn còn là điều bí ẩn mà các nhà nghiên cu chưa xác đnh thống nhất. Nhiều nhà sử học cho, Suvanaphumi là đảo Sumatra ca Indonesia, hoc Tamproling của Malaysia, hoặc Takolla của Myanmar. Một số ý kiến cho Suvanaphumi là cả vùng Đông Nam Á. Dưng như các nhà nghiên cu tập trung tìm nơi đưc cho là vùng đất vàng để xác đnh là Suvanaphumi, còn các yếu tố khác đã bỏ qua, nên đến nay vẫn không thể tìm ra đáp án. Còn ngưi Khmer, trong đó có tăng sĩ Pang Khát chưa đồng tình vi nhng ý kiến nêu trên. Bi vì, Suvanaphumi trong tiếng Pali là lục địa vàng, không phải là đảo vàng; nếu là đảo phải là Suvanatipa hay Suvanatvipa, cũng chưa dn chng đưc nhng vết tích xác đnh đim dng chân của hai vị tăng sĩ đã đến đó.

Quay lại sự kiện hai vị tăng đến Suvanaphumi, theo ghi chép của Phật giáo Sri Lanka như sau:

“Khi các vđến nơi đây, cư dân đa phương cho các vị là thy thn đến bắt con em của họ nên đnh tn công hai vtăng nêu trên. Bất ngờ vào lúc đó thy thần cũng xuất hiện, hai vị A La Hán đã dùng phép thần thông khống chế bọn chúng ri trừ kh, không để thy thần đến uy hiếp ngưi dân ở nơi đây nữa.
 
Khi trừ đưc thy thần xong, ngưi dân nơi đó hết sc thán phục hai vị tăng rồi quy phc hai vhoàn toàn, hai vị đã truyn bá Phật giáo tại nơi đó. Cũng trong lúc đó, một vị tăng đã dùng phép thần thông bay lên đnh núi đạp để lại du chân trên đnh núi và dấu chân đó còn cho đến nay”.

Như vy, sự kiện truyn đạo vào vùng Suvanaphumi đã nêu là ở đâu, nhng nơi đó chắc hẳn còn để lại dấu tích. Chúng ta thử quay lại xem các đa danh có liên hệ đến nhng sự kin va nêu. Theo sử liệu ghi chép thì hai vtăng đến truyn đạo tại vùng Suvanaphumi đi bằng thuyền buôn và dng chân ở hải cảng, sau đó xy ra sự kiện nêu trên. Trong cuốn Lch sử Phật giáo Campuchia, trang 13 có nêu năm quốc gia có hải cảng lúc by gi, nhng nơi có khả năng hai vị A La Hán dng chân: Ở Méco Myanmar có ba hải cng là Takkola, Ténassarim và Vésonga. Ở mũi Malésia (Malaysia) có hải cảng Tamproling. Đảo Sumatra (Indonesia) có hải cảng Banga. Vùng đất vàng Chrisés của Greca (Chrisés des Greca) hay Thành lũy vàng Kin Lin của Trung Quốc. Hải cảng Óc Eo ven biển của Vương quốc Phù Nam.

Nhng hải cảng có đa danh cổ trên đều có khả năng là nơi hai vị tăng sĩ đến truyn đạo. Các nhà nghiên cu dưng như tập trung vào các vùng đất của Myanmar, Indonesia, Malaysia và tìm vùng đất vàng, cho đó là đim dng chân của hai vị tăng trên. Tuy vy, đến nay chưa xác đnh cụ thể nơi nào là vùng đất vàng, là bến đỗ của Phật giáo đầu tiên ở vùng Suvanaphumi, vì đây là tên người Ấn gi, còn ở vùng này kng có đa danh như vy. Cũng trong cuốn sách này, ở trang 15, Tỳ kheo Pang Khát viết: “Rất tiếc, vì không đưc tiếp cận để tìm hiểu đa danh cổ của hải cảng (Óc Eo), nhưng đây chính là hải cảng ln của
 
Vương quốc Phù Nam xưa. Hải cảng này rất quan trọng, vì nó nm ở gia Trung Hoa và Ấn Độ, trên tuyến giao thương đưng thy đi khp nơi xa….

Ở trang 16, Tỳ kheo Pang Khát viết: Ở hải cảng này, ngưi ta tìm thy cvật rất cổ có tuổi thọ tthế kỷ I sau Công nguyên gm các tưng cư dân, tưng Thần, tưng Phật, đng tiền La Mã, đồng tin Ấn Độ và chữ Brahmi… Có một đầu tưng Phật rất đẹp làm bằng đồng đen rất cổ, rất tiếc là đã mất hết phần mình. Theo báo cáo của ông Malleret, có thể hiểu, đầu tưng Pht này có tđầu Công nguyên. Ông cho rằng, tưng này cổ lm, kiểu Kondhara, tthế kỷ II hoặc đầu thế kỷ III. Như vy, hải cảng Óc Eo nên liệt vào hải cảng cổ xưa. Nơi đây đã tiếp nhận nền văn minh n Độ là Bà La Môn giáo và Phật giáo từ trưc Công nguyên”.

Ngưi ta biết đến đa danh Óc Eo khi ngưi Pháp khai quật vùng đất này, còn đa danh cổ của nó là gì? Tôi xin mo muội quay li đa danh mà ngưi Khmer, ngưi Việt đã gọi tên vùng đất này đã từ lâu lm, thm chí còn sáng tác thêm nhng truyn thuyết về đa danh này làm cho ngưi ta khi đến đây luôn ghi nhớ đó là Ba Thê. Hiện nay, tên gi này đã đặt cho xã Vọng Thê, huyện Thoại Sơn, tnh An Giang. Còn tên Óc Eo nay là đa danh của thị trấn Óc Eo, huyn Thoại Sơn, tnh An Giang (xưa kia là đa phận của tnh Rạch Giá).

Các vị tăng sĩ Phật go Nam tông Khmer thưng đặt trọng tâm nghi vấn vào vùng đất thiêng và đa danh xưa nay đáng quan tâm nhất là Ba Thê. Theo họ, Phật giáo truyền vào Suvanaphumi nhiều khả năng là đa đim này. Bi vì, nơi đây có rất nhiều vết tích cổ mà người Pháp đã khai quật trưc đây và sau này nhưng
 
chưa đưc đy đủ. Do chưa có nhiều chng tích ghi nhận là Phật giáo đã truyền tại đây nên chưa thể khẳng đnh. Đối vi các tăng sĩ Phật giáo Nam tông Khmer, vì không có điều kiện để sưu tm, khai quật tìm ra chng tích cổ về nguồn gốc truyền tha, chỉ thm khẳng đnh Phật giáo Nam tông Khmer không phải đưc truyền tha từ Sri Lanka mà từ hai vị Sonathera và Uttarathera.

Việc Hoàng tử Tam Linta đưc vua cha cử đi học ở Sri Lanka ri thọ gii Tỳ kheo ở chùa Maha Vihara, sau 10 năm đã mang Tạng kinh từ Sri Lanka về vào cuối thế kỷ XII rồi cho là Phật giáo Nam tông Khmer đưc truyền từ Sri Lanka là không có cơ s. Đây chỉ là giao lưu văn hóa Phật giáo để bổ sung cho cái đã có, vì nơi đây đã có Phật giáo từ lâu lm. Xem ra để tìm nguồn gc bến đcủa hai vị A La Hán là không đơn giản. Hãy tìm ngun gốc của từ Ba Thê, xem nó có ý nghĩa gì đối vi ngưi Khmer ở đây.

Theo truyền thuyết mà người ở đây kể lại, có một vị Sa di tu ở chùa. Một hôm, Sa di đi lên đnh núi rồi đột nhiên biến mt. Ngưi dân mi nói là Bát Thê, nghĩa là mất Thera. Từ này sau gọi trại thành Ba Tcho đến nay.

Truyền thuyết trên đây có một số điểm không hp lý: Sa di là ngưi tu chưa tròn 20 tui; không ai gọi Sa di là Thera. Do vy, truyền thuyết này thiếu thuyết phục, nên thử phân tích ý nghĩa từ Ba Thê theo tiếng Khmer.

Ba Thê là danh từ ghép gia tiếng Khmer và tiếng Pali. Ba, theo tiếng Khmer, là cha, là tổ tiên. Trong lch s, ngưi Khmer thưng dùng từ Ba cho nhng nơi quan trng như: Ba Phnom (núi tổ), Ba Kôông (cn tổ),v.v… Từ này cũng thưng sử dụng trong tập quán cưi hi của ngưi Khmer như: Mê Ba (Mê là tổ
 
tiên n, Ba là tổ tiên nam). Còn từ Thê, tiếng Pali là Thera, như phần trên đã trình bày, nhưng ngưi Khmer thường chỉ gọi là Thê, đến nay vẫn gọi như vy, ví dụ: chư tăng có tuổi tăng cao gọi là Maha Thê. Thera là chư tăng có nhiều tuổi tăng. Như vy, Ba Thê nghĩa là chư tăng tổ tiên. Theo nghĩa này, đây là nơi tổ tiên của Phật giáo vùng này. Bi vì, từ Thera chỉ dùng riêng cho Phật giáo. Như vy, phải chăng đây là đim dng chân của hai vị A La Hán mà Phật giáo sử ở Sri Lanka đã ghi chép, nhưng đến nay chúng ta vẫn chưa tìm ra vết tích của vùng Suvanaphumi.

Nếu từ Ba Thê đúng như suy luận va nêu, thì có thể việc truyền tha của hai vị A La Hán vào Suvanaphumi là tại đây, nơi có cảng Óc Eo sm uất, giao thương rộng rãi vi một vùng rộng ln nm gia Ấn Độ và Trung Hoa. Mt điều thắc mc là tại sao Phật giáo truyền vào đây trong thi gian rất sm mà lại không phát triển đưc, hầu hết vết tích còn lại ở vùng này là của Bà La n giáo? Giải thích vấn đề này, chúng ta phải quay lại lch sử giai đoạn hình thành Vương quốc Phù Nam.

Vào đầu Công nguyên, Hun Tien (Hỗn Điền) đến đây truyền bá Bà La Môn giáo tại vùng này, khi gặp nàng Liễu Diệp, hai ngưi đã kết duyên phu thê rồi lập nên Vương quốc Phù Nam. Hn Đin là vvua đầu tiên của Vương quốc Phù Nam, là ngưi theo Bà La Môn giáo, nên tôn giáo y có cơ hội phát triển rất nhanh trên một vùng rộng ln trong thi gian khá dài. Tuy Bà La Môn giáo phát triển như vy, nhưng không đồng nghĩa vi Phật giáo li tàn từ lúc đó. Mặc dù không phát triển mnh lên, nhưng Phật giáo vẫn tồn ti trong công chúng. Khi Châu Đạt Quan đến đây vào cui thế kỷ XIII cũng ghi nhận điều
 
này, ông cũng thy là Phật giáo tồn tại đan xen với Bà La Môn giáo, hai tôn giáo vẫn tồn tại song song.

Ngưi cao tuổi kể li, đến cuối thế kỷ XIV, Bà La Môn giáo đã suy gim dần. Các Ban Đíta đặt yêu cầu vi các Achar là: Nếu các vị chấp nhận hai điều kiện, chúng tôi stừ bỏ Bà La n giáo về vi Phật giáo: một là, gilại đầu thn Brahma trong chùa Phật giáo Khmer; hai là, trưc khi thc hiện nghi lễ Phật giáo phải cúng thn Peali (thn kh).

Achar chấp nhận hai điều kiện này và tín đồ Bà La Môn giáo đã quay về vi Phật giáo, từ đó không còn tín đồ của Bà La Môn giáo na. Cho đến nay, vào thi đim Giao tha, ngưi Khmer thưng mang đầu thần Brahma ra diu hành xung quanh chánh đin ba vòng đthc hiện li ha của mình. Trong kiến trúc Phật giáo Khmer vẫn còn trang trí đầu thn Brahma. Ở Kiên Giang, trưc khi thc hiện nghi lPhật giáo, nhiều nơi vẫn còn tổ chc nghi thc cúng thần Peali. Đây là vic thc hin li ha trưc Bà La Môn giáo của ngưi theo Phật giáo thuở xưa.

Quay lại việc đi tìm bến đỗ của hai vị A La Hán đến truyn đạo, cho đến nay, chúng ta chưa xác đnh đưc nơi nào khác ngoài Ba Thê. Như vy, Ba Thê có nhiều khả năng nht cho việc xác đnh là bến đỗ của Phật giáo cách nay 2.323 năm, bi vì:
  • Về đa đim, đây là nơi có hải cảng sm ut từ cổ xưa, nơi giao thương nm gia Ấn Độ và Trung Hoa, rất có khả năng là đim dng chân của hai vị A La Hán.
 
  • Nơi đây có di chỉ kho cổ lâu đi về Phật giáo như: tưng Phật bằng đồng đen, bằng đá, bng g… có bia ở Võ Cạnh đề cập đến Pht giáo đưc cho là sm nhất ở vùng Đông Nam Á.
 
  • Dấu chân tiên trên đnh núi Ba Thê, nhiều khả năng là dấu chân của hai vị A La Hán đạp còn để li, là vết tích mà các vị muốn để lại cho đi sau, là nơi đặt nền móng đầu tiên cho Phật giáo Nam tông Khmer.
 
  • Địa danh Ba Thê còn lại cho đến nay là yếu tố quan trọng để xác đnh đim dng chân của hai vị A La Hán.
 
  • Đến nay, Khmer đưc xem là tộc ngưi có truyền thống Phật giáo lâu đời nhất. Mặc dù trong lch sử ngưi Khmer có sự đan xen tôn go, nhưng đến nay họ chỉ tôn thờ duy nht Phật giáo.

Cuối thế kỷ XIX và thế kỷ XX, nhiều nhà nghiên cu cố gắng tìm ra bến đỗ đu tiên của Phật giáo vùng Suvanaphumi (tc khu vc Đông Nam Á), nhưng cho đến nay chưa có đáp án chính thc về việc này. Hầu hết các nhà nghiên cu đoán đnh nơi này, nơi kia chứ không khẳng đnh chính xác, do chưa có cứ liệu lch sử cụ thể. Mặt khác, một số nhà nghiên cu phương Tây chưa am hiểu truyền thống ngôn ngữ của cư dân địa phương nên cũng hạn chế trong vic sưu tm cứ liu, nên đến nay vẫn chưa m ra.

Ở phần kết luận cuốn sách Lịch sử Phật go Campuchia, Tỳ kheo Pang Khát viết: “Giáo sứ đến truyn đạo ở nưc ta có lẽ đã ghé vào hải cảng Óc Eo là hải cảng cổ xưa thời Vương quốc Phù Nam. Ở nơi đây có nhiều cổ vật của Phật giáo và Bà La Môn giáo của văn hóa Ấn Độ, cùng vi cổ vật có nguồn gốc từ các nơi xa xôi như Iran và các nước ven biển Méditérané na”.

Như vy, Tỳ kheo Pang Khát nhận đnh là Phật giáo truyền vào Suvanaphumi là vào hải cảng Óc Eo, nhưng chưa có cứ liệu

hoặc chng tích chắc chắn nên mi nói như thế. Hiện nay, Ba Thê là địa danh cổ xưa, phù hp vi nhng gì chúng ta đang tìm và phù hp vi bối cảnh Phật giáo truyền vào vùng này. Nếu chúng ta chưa tìm ra nơi nào hp lý hơn, thì tạm chấp nhận Ba Thê là bến đỗ của Pht giáo Nam tông Khmer. Nếu như vy thì hãy xem lại Phật giáo Nam tông Khmer có phải là Hệ phái Theravada. Tuy nhiên, tên hệ phái không quan trọng bằng nguồn gốc truyền tha ca Phật giáo Nam tông Khmer, điều mà gii tu hành Phật giáo và nhiu nhà nghiên cu mun biết.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây