XÂY DỰNG NIỀM TIN VỮNG CHẮC CHO CƯ SĨ PHẬT TỬ VÀ CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN

Chủ nhật - 01/12/2019 22:36
XÂY DỰNG NIỀM TIN VỮNG CHẮC CHO CƯ SĨ PHẬT TỬ VÀ CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
 
THAM LUẬN
HỘI THẢO HOẰNG PHÁP TẠI LÂM ĐỒNG 2019

XÂY DỰNG NIỀM TIN VỮNG CHẮC
CHO CƯ SĨ PHẬT TỬ VÀ CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
Đại Đức Thích Giác Nhẫn
Phó Ban Hoằng Pháp Phật Giáo tỉnh Quảng Nam
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Kính bạch ……..
Kính thưa ……..
Con xin được thay lời chư Tôn đức Tăng Ni Ban Hoằng Pháp Phật giáo tỉnh Quảng Nam thuyết trình chủ đề tham luận: “Xây Dựng Niềm Tin Vững Chắc Cho Cư Sĩ Phật Tử Và Các Giải Pháp Thực Hiện”.
Kính bạch chư Tôn Thiền đức
Kính thưa toàn thể quý vị
Trong kinh Hoa Nghiêm, Đức Phật dạy: “Tín là căn nguyên của đạo, là mẹ của mọi công đức, nuôi lớn hết thảy thiện pháp, đoạn trừ lưới nghi, đưa vượt qua dòng sông ái dục, khai thị con đường tối thượng dẫn đến Niết-bàn.” 
Tín là chi đầu tiên trong Ngũ căn  và Ngũ lực. Tín căn là gốc của niềm tin. Tín lực là sức mạnh của niềm tin. Khi niềm tin được xác lập thì có sức mạnh vượt trội, có thể công phá được tất cả mọi thành trì chướng duyên, phiền não.
Thật vậy, niềm tin là chất liệu cần thiết cho sự sống và có sức mạnh tiềm tàng vô tận, thôi thúc con người vươn tới mục đích cao xa để thực hiện hoài bão cao đẹp. Niềm tin có thể đưa con người từ vực thẳm tối tăm tiến lên phía trước, có thể cứu họ từ gục ngã vươn lên đỉnh cao của vinh quang. Niềm tin mang một sức mạnh vô biên mà con người luôn cần tới.
Tuy nhiên, để có được niềm tin chân chánh là việc làm không đơn giản bởi niềm tin phải có cơ sở dựa trên sự quán chiếu, suy xét. Chính sự trải nghiệm giúp niềm tin được củng cố và bền vững. Trong Phật giáo, niềm tin vô cùng quan trọng, con đường giáo dục luôn bắt đầu từ Chánh kiến, Chánh tư duy. Cho nên, việc xây dựng niềm tin vững chắc cho cư sĩ Phật tử là việc làm vô cùng quan trọng và cần thiết.
1. Khái niệm về niềm tin tôn giáo
GS. Minh Chi viết về niềm tin tôn giáo như sau: “Niềm tin tôn giáo hay trong hợp từ tín ngưỡng tôn giáo hàm ý một niềm tin ở những cái siêu nhiên, nhưng đối với tôn giáo vẫn rất hiện thực, thậm chí còn hiện thực hơn cả thế giới hiện tượng, nhưng vẫn ở ngoài tầm nắm bắt của giác quan và tri thức của con người bình thường”.
Như vậy, niềm tin tôn giáo là niềm tin trong đời thường đã được thăng hoa, thiêng hướng vào cái siêu nhiên ngoài tầm nắm bắt của cảm quan và tri giác của con người, giúp con người hướng thượng, hướng đến chân, thiện, mỹ.
Đạo Phật lấy trí tuệ làm sự nghiệp. Niềm tin của Đạo Phật không dựa vào sự mặc khải của thượng đế…mà dựa trên cơ sở trí tuệ, của hiểu biết đúng đắn. Đức Phật đã từng tuyên bố rằng: “Ai tin ta mà không hiểu ta là phỉ báng ta”. Như vậy, trong Đạo Phật không có giáo điều. Đạo Phật rất tôn trọng tinh thần tự giác, không bắt buộc để Phật tử tin theo một cách mù quáng.
2. Niềm tin của người cư sĩ  Phật tử
Niềm tin rất quan trọng đối với một người bước chân vào Đạo và là một trong những vấn đề quan trọng mà mỗi người con Phật phải thành tựu để làm cơ sở cho việc tu học. Vậy niềm tin đó là gì? Đó là niềm tin Tam bảo, niềm tin nhân quả và niềm tin chính mình.
2.1. Niềm tin Tam bảo
Đức Phật dạy: “Đối với Tam bảo Phật-Pháp-Tăng, Phật tử phải kính tin trọn vẹn.” Đây chính là lòng tin của người Phật tử chân chánh.
Tin Phật: Tin Phật là tin như thế nào? Lâu nay, mọi người cứ ngỡ tin vào Đức Phật là tin Ngài có đủ tất cả các năng lực nhiệm mầu, huyền bí, sẽ đem đến an vui, hạnh phúc như bao nhiêu người thường lầm tưởng. Đức Phật cũng là một người như bao nhiêu người khác, nhưng Ngài đã nhận chân được thực trạng khổ đau của cuộc đời và Ngài xuất gia tu tập thành tựu đạo quả. Vì Giác ngộ viên mãn nên những gì Ngài chỉ dạy đều là đúng chân lý, đúng với lẽ thật. Vậy chúng ta tin Phật là tin vào bậc giác ngộ hoàn toàn, giúp chúng ta thoát khỏi mê lầm từ muôn kiếp để được thanh tịnh, sáng suốt, chớ không phải tin Ngài có khả năng ban phước, giáng hoạ giúp cho ta được mọi điều như ý muốn.
          Tin Pháp: Pháp là những lời dạy vàng ngọc của Đức Phật do Ngài tu chứng mà thuyết giảng, được kiết tập trong Tam tạng kinh điển, hướng dẫn mọi người biết được con đường tu tập chuyển hóa khổ đau. Đức Phật dạy rằng, niềm tin là mẹ sinh ra tất cả công đức lành, người không có niềm tin chân chính không tạo được công đức lâu dài. Do đó, chúng ta tin như thế nào để không rơi vào tà tín.
Vì thế, Đức Phật khuyên chúng ta đừng nghe những gì người khác nói dù đó là truyền thuyết có từ nhiều đời, phải nên suy nghĩ, quán xét, xem sự việc đó có thiết thực, lợi ích hay không. Niềm tin là căn bản của sự thành công và là nguồn gốc để phát sinh muôn hạnh lành nhưng lòng tin của người Phật Tử không phải là tin cuồng nhiệt, sôi nổi, bốc đồng, mà phải có suy xét, kiểm chứng qua sự thực hành; bởi một tín ngưỡng mù quáng không xây dựng trên lý trí xét đoán sẽ là một nguy hại lớn cho đời sống của mỗi con người.
Tin Tăng: Tăng tức những vị vừa học, vừa tu, vừa hướng dẫn cho mọi người cùng tu học. Tăng là những vị hiến trọn đời mình cho mục đích trên cầu thành Phật, dưới cứu độ tất cả chúng sinh. Nhờ có chư Tăng Ni thay Phật truyền đạt lời dạy của Ngài, khiến Chánh pháp được lưu truyền. Vì vậy, cần tôn kính đối với những vị xuất gia chân chánh, các bậc thầy về tinh thần, là những thiện hữu tri thức đối với những người cư sĩ Phật tử, những vị ấy sẽ truyền đạt những lời dạy, những phương pháp đúng đắn đã được trải nghiệm và đạt được qua quá trình tu tập để chỉ dạy cho mọi người con đường chân chính đưa đến an lạc, giải thoát.
2.2. Niềm tin Nhân quả
Người xưa có câu: “Thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo” cho thấy tư tưởng nhân quả đã trở thành một bộ phận vô cùng quan trọng trong văn hóa truyền thống bao gồm cả Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo. Cổ đức có dạy: “Họa phúc vô môn, duy nhân tự triệu; thiện ác chi báo, như ảnh tùy hình” ý nói họa phúc của một người đều không có cửa mà là do bản thân người ấy tự gây ra. Làm ác thì gặp họa, làm lành thì được phúc, sự báo ứng như hình với bóng. Vũ trụ, vạn vật tuần hoàn, biến dịch tuân theo quy luật chung, đó là luật Nhân quả. Quy luật này không do một đấng sáng tạo, hoặc xã hội nào đặt ra, mà là một quy luật tự nhiên nhưng đúng đắn vô cùng.
Vì vậy, Đức Phật rất chú trọng xây dựng niềm tin đúng với chân lý Nhân quả, làm lành được hưởng phước, làm ác chịu khổ đau, không ai có quyền ban phước giáng họa, phúc hay họa đều do mình tạo lấy. Đức Phật dạy: Ta là chủ nhân của nghiệp, là kẻ thừa tự của nghiệp. Phàm nghiệp nào đã làm, thiện hay ác ta sẽ thừa tự nghiệp ấy”. Người biết tu và tin sâu Nhân quả sẽ hiểu được giáo lý Nhân quả, nhận rõ được quả báo nơi hành vi, ngôn ngữ và ý niệm của chính mình thì sẽ không phiền muộn oán trách bất cứ ai và sẵn sàng chịu nhận quả xấu mà không tạo thêm ân oán, hận thù. Từ đó, biết tu tâm dưỡng tánh làm sao cho mỗi ngày càng tốt đẹp, hạnh phúc, an vui hơn. Tuy gieo nhân thì phải gặt quả, nhưng nhân quả không cố định mà có thể thay đổi được. Vì vậy, là người Phật tử chân chính phải biết vươn lên làm mới lại chính mình, thay đổi hoàn cảnh tùy theo năng lực và sự tu tập của bản thân. Khi làm một việc gì, nói một lời gì, cũng nên nghĩ trước kết quả tốt hay xấu thì sẽ luôn ý thức và có trách nhiệm với mỗi hành động của mình; biết được quả khổ để tìm ra nguyên nhân và tìm cách chuyển hóa thành an vui hạnh phúc không chỉ cho riêng mình mà còn làm lan toả hạnh phúc và lợi ích tới những người xung quanh.
Sự vận hành của luật Nhân quả và Nghiệp của chúng sinh không phải là điều mà một người phàm phu có thể biết hết được, cho nên người Phật tử chân chính phải có niềm tin sâu sắc vào nhân quả mới không bị lung lay bởi những gì xảy ra trước mắt, những cái tưởng chừng như trái với quy luật. Điều mà chúng ta có thể làm và nên làm là tin rằng: Làm ác thì không bao giờ có kết quả hạnh phúc an vui và làm thiện thì không bao giờ có thể đưa đến kết quả khổ đau, đó là chân lý muôn đời.
Vậy, cần giúp người Cư sĩ Phật tử hiểu biết luật nhân quả mà Đức Phật đã chỉ dạy để rồi hành động đúng đắn, hầu đem lại hạnh phúc chân thật, lâu bền cho chính mình và cho mọi người chung quanh.
2.3. Niềm tin chính mình
Có được niềm tin Tam bảo, thấm nhuần giáo lý của Đức Phật chỉ mới là điều kiện cần nhưng chưa đủ. Đức Phật tuyên bố: “Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành” đồng nghĩa tất cả chúng sanh đều có Phật tánh. Vậy người Cư sĩ Phật tử phải có niềm tin nơi chính mình, tin vào sức mạnh tiềm tàng cũng như khả năng giác ngộ của tự thân.
Theo Đại Thừa Khởi Tín Luận, niềm tin chân chính phải được xác lập từ nơi tâm thức của chính mình, vì chỉ tâm ấy mới có khả năng thành Phật, chứ không phải tìm vào một tâm nào khác. “Phát khởi lòng tin vào chính cái Tâm bình thường ở ngay nơi mình. Từ cái tâm bình thường đó, chúng ta sẽ đi đến đất Phật, như Chư Bồ-tát đang đi và sẽ đến như Chư Phật đã đến”. Bộ luận này cũng khẳng định rằng: Tín căn của Đại thừa là chỉ cho Phật tánh đầy đủ trong mỗi chúng sanh. Phật tánh là nhân thì Phật quả mới là Niết bàn thực sự.
          Đức Phật dạy: “Chiến thắng vạn quân không bằng thắng chính mình. Thắng mình mới là chiến công oanh liệt nhất”.  Khi có được niềm tin nơi chính mình giúp ta làm chủ được mình.Vì thế, người Cư sĩ Phật tử cần cố gắng, nỗ lực, quyết tâm chuyển hóa từ ý nghĩ cho đến lời nói, hành động làm sao chuyển hóa nghiệp xấu, quấy, ác trở thành an vui, hạnh phúc ngay bây giờ và tại đây.
Tóm lại, niềm tin căn bản trong đạo Phật đó là niềm tin Tam bảo Phật-Pháp-Tăng, tin Nhân quả và tin vào chính mình. Một khi có niềm tin nơi Tam bảo là những gì được xem là chân lý, là thánh thiện và có được niềm tin vào khả năng của mình cũng như con thuyền đã xác định được phương hướng, biết nơi đâu là bến đỗ. Tuy nhiên, bến đỗ có bình an hay không còn phụ thuộc vào niềm tin nhân quả để biết hóa giải những chướng duyên trên bước đường tu tập. Được như vậy, người Phật tử mới có thể vượt qua mọi trở ngại hướng về phía  trước, siêng năng tinh tấn hướng đến những gì tốt đẹp nhất để đoạn trừ những khổ đau, phiền não; đạt được mục tiêu an lạc, hạnh phúc trong hiện tại và tương lai.
3. Thực trạng về niềm tin Phật giáo hiện nay
Phật giáo là nền giáo lý cao sâu, nếu không phải người có thiện căn phước đức thì không sao thấu đạt. Vì thế, việc chưa hiểu đúng về tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng sẽ khó tránh khỏi những tin hiểu sai lầm.
Trong các hình thức sinh hoạt Phật giáo hiện nay, một số Phật tử đến với Đạo phật thường chú trọng nhiều về hình thức nghi lễ để cầu phước, cầu nguyện hơn là tìm con đường giác ngộ bởi họ nghĩ rằng: Có tai nạn cầu Phật, Phật sẽ cứu độ. Trong quan niệm một số Phật tử, đến chùa để cúng dường, lễ bái Phật nhưng cúng dường Phật là để cầu Phật ban ơn, chứ không nhằm cúng dường để phát thiện tâm, lễ bái Phật là tỏ lòng khát khao giải thoát giác ngộ. Phần vì họ nghĩ Phật là đấng tối cao có thể ban phước, che chở, phù hộ để được như sở nguyện, được tai qua nạn khỏi mà không tin sâu chân lý nhân quả “Gieo nhân gì thì gặt quả ấy” nên cứ tạo tác nghiệp rồi lại đến chùa xin Phật phù hộ, độ trì. Phần vì họ không nhận ra chân giá trị của bản thân nên không có niềm tin nơi chính mình, không tin vào khả năng giác ngộ của mình có thể chuyển hóa khổ đau thành an vui hạnh phúc nên cứ mãi nương tựa vào tha lực hay đấng tối cao mà không biết tự mình nổ lực. Vì vậy, cần phải giúp người cư sĩ Phật tử tu tập đúng với tinh thần tự độ, độ tha, tự giác, giác tha.
Bên cạnh đó, ngày nay, nhân loại đang chứng kiến sự phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học, kỹ thụât và công nghệ. Những thành tựu kỳ diệu đã làm thay đổi bộ mặt thế giới, góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần con người. Nhưng, mặt trái của nó cũng đã đem đến những hậu quả nặng nề mà nhân loại đang phải gánh chịu: Từ sự suy thoái môi sinh đến huỷ hoại các nền văn hoá cũng như sự xuống cấp của đạo đức và lối sống; từ sự bất an của cá thể đến nguy cơ tan vỡ kết cấu gia đình; bản năng ích kỷ trong con người dễ có cơ hội nảy sinh và phát triển, những dục vọng và đam mê đồng tiền, sùng bái vật chất, làm giàu với mọi giá, thậm chí sẵn sàng chà đạp lên nhân phẩm của người khác ở một số người đang có cơ trỗi dậy. 
Trong bối cảnh đó, Phật giáo không tránh khỏi những tác động tiêu cực làm vẩn đục bầu không khí sinh hoạt văn hóa tâm linh và ảnh hưởng đến nền đạo đức minh triết của Phật giáo.
4. Tầm quan trọng của việc xây dựng niềm tin chân chánh cho Cư sĩ Phật tử
Trong bất kỳ sự nỗ lực nào của con người thì niềm tin đều đóng vai trò rất quan trọng. Người không có đủ niềm tin chân chính thì không có hướng đi tốt đẹp trong cuộc đời. Nếu người Phật tử không đủ niềm tin đối với Tam bảo sẽ nghi ngờ các giá trị về nhân cách đạo đức, chạy theo nhu cầu vật chất thái quá sẽ dễ dàng đánh mất đi niềm tin tâm linh của chính mình.Vì vậy, người cư sĩ Phật tử cần phải được thiết lập niềm tin đối với Tam bảo bởi chỉ có ánh sáng của Tam bảo mới đủ năng lực xua tan bóng tối vô minh mê mờ từ muôn kiếp, dập tắt tham ái do chấp ngã mà ra và dứt trừ được tất cả phiền não, khổ đau. 
Nhìn lại thực trạng Phật giáo ngày nay, với những sự cố đáng tiếc đã xảy ra làm cho Chánh pháp bị hiểu sai, bị xuyên tạc phần nào đã làm mất đi niềm tin nơi người Cư sĩ Phật tử và tạo nên dư luận không tốt trong xã hội.
Chính vì vậy, việc xây dựng niềm tin vững chắc cho cư sĩ Phật tử là vô cùng quan trọng. Đặc biệt trong giai đoạn xã hội hiện nay.
5. Các giải pháp thực hiện
5.1. Bồi dưỡng giáo lý cho cư sĩ Phật tử

Việc bồi dưỡng giáo lý cho cư sĩ Phật tử là việc làm thiết thực trong việc xây dựng niềm tin chánh Pháp. Làm thế nào để những buổi thuyết giảng phát huy được niềm tin, nguồn cảm hứng và ý thức tự giác cho mọi người? Làm thế nào để ngôi chùa trở thành chỗ nương tựa mỗi khi Phật tử mất niềm tin vào cuộc sống? Đây là nguồn tham chiếu cần thiết cho các bậc Tăng Ni trong định hướng phát triển của mình. Vì vậy, tùy vào điều kiện thực tế về nhân lực, các phương tiện hiện có mà tổ chức việc bồi dưỡng giáo lý ở những cấp độ khác nhau nhưng không bỏ qua ý nghĩa “Tùy duyên bất biến” của Phật giáo, nghĩa là không thể đánh mất tinh thần trí tuệ, giải thoát của đạo Phật. Cần xác định và phát huy những nét đặc thù của giáo lý Phật giáo và văn hóa dân tộc; những thức ăn tinh thần nào mà cư sĩ Phật tử đang cần với sự khác biệt về tuổi tác trình độ, sở thích, môi trường sống khác nhau trong bối cảnh xã hội ngày nay, nhằm trang bị những giá trị thực tiễn của giáo lý Đạo phật, có thể giúp người Phật tử lấy lại sự quân bình trong cuộc sống nhiều cạm bẫy, cảm nhận được sự an lạc nội tại giữa muôn vàn cám dỗ của thế giới vật chất, định hướng được tương lai, xây dựng nhân cách lối sống đạo đức lành mạnh, an lạc cho mọi người.
5.2. Thuyết giảng tại các đạo tràng
Một trong những phương thức giúp giáo lý Đức Phật được chuyển tải một cách trực tiếp đến các cư sĩ Phật tử, đó là tổ chức các buổi thuyết giảng tại các Đạo tràng. Các buổi thuyết giảng cần làm sao thu hút Phật tử tham dự càng đông càng tốt và trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu trong đời sống tu học của người cư sĩ Phật tử. Vì vậy, thời gian tổ chức thuyết giảng cần được sắp xếp hợp lý như vào các ngày Rằm, ngày Mồng 1, ngày chủ nhật…Đây là khoảng thời gian thuận lợi nhất để thu hút nhiều Phật tử tham dự. Để hoàn thành sứ mệnh này, bản thân các giảng Sư phải tu tập, phải trau dồi đức hạnh và am hiểu về Giáo lý đạo Phật bởi sự lan tỏa đạo đức và triết lý Phật giáo một phần chủ yếu là do các hành giả Phật giáo có nhân cách đạo đức, có trí  tuệ; phải là những nhà mô phạm có tâm hồn cao đẹp, những vị thầy tâm linh có khả năng hướng dẫn con người xa rời tội lỗi. Chính nhân cách này có thể cảm hóa mọi người. Đó là điều kiện quan trọng giúp cho Phật giáo truyền bá sâu rộng, tạo được niềm tin nơi người Phật tử.
5.3.Tổ chức các khóa tu theo từng lứa tuổi
Từ thời Đức Phật còn tại thế, Ngài đã thành lập các đạo tràng để cho chư Tăng Ni tu học, vừa là nơi để cho người cư sĩ Phật tử có thể đến để tu tập dưới sự dẫn dắt của Đức Phật và chư Tăng như: Tịnh xá Trúc Lâm, Tịnh xá Kỳ Viên, giảng đường Lộc Mẫu. Ngày nay, đã có rất nhiều chương trình, nhiều khóa tu học dành cho người cư sĩ Phật tử tại gia, các khóa tu Một ngày an lạc, Bát quan trai…được tổ chức định kỳ hằng tháng, các đạo tràng trì tụng kinh Dược Sư, trì tụng chú Đại Bi…; Ngoài ra còn có chương trình tu học của Gia đình Phật tử…
Bên cạnh đó, cần tổ chức khoá tu dành cho Thanh thiếu niên vào mùa hè, khóa tu dành cho người bệnh, cho trẻ em lang thang cơ nhỡ và khóa tu dành cho người bận rộn như viên chức, giáo viên, công nhân…Làm được như vậy thì hầu như mọi tầng lớp xã hội đều được tạo điều kiện tu tập và tham dự đầy đủ.
Chính việc tu tập cùng nhau trong đoàn thể sẽ mang lại nhiều lợi ích như:
- Tạo nên sức mạnh tập thể đồng thời có thể tổ chức các hoạt động xã hội như từ thiện, bảo trợ …
- Tạo nên từ trường tâm linh có khả năng cảm hóa, trưởng dưỡng đạo tâm, nuôi lớn niềm tin chánh pháp cho những người được tiếp xúc.
5.4. Chú trọng việc tổ chức các lễ hội, các hoạt động
Cần tổ chức chu đáo các lễ hội trong năm như đại lễ Phật đản, đại lễ Vu Lan…tổ chức những tuần văn hóa Phật giáo để những hoạt động giáo dục này được mở rộng ra toàn xã hội để nhiều người được biết. Đây là dịp để Phật tử được bồi đắp thêm niềm tin thiêng liêng, cao cả trong đời sống tâm linh hướng đến tự trau dồi, rèn luyện bản thân, lòng cảm thông chia sẻ và niềm tin tốt đẹp vào cuộc sống.
Thông qua tấm lòng từ bi, không nề hà việc cưu mang, cứu vớt những số phận bất hạnh mà Phật giáo đã cảm hóa được con người, dẫn dắt họ làm điều thiện, tránh xa điều ác, buông bỏ lối sống vị kỷ lạnh lùng để quan tâm đến người khác bởi ngoài những món quà được trao bằng vật chất, sự quan tâm về tinh thần, chúng ta còn trao đến người thọ nhận những giá trị đạo đức, những giá trị tâm linh cao thượng với nguồn năng lượng từ bi hình thành nên sự yêu thương, lòng cảm thông chia sẻ với nhau trong xã hội. Ngoài ra, cần chú trọng việc giữ gìn sự tôn nghiêm nơi chốn già lam bởi chính bản thân vẻ đẹp, sự trang nghiêm thanh tịnh của ngôi chùa, đời sống từ bi hỷ xả của các Tăng Ni cũng là nội dung thông điệp nhằm xây dựng niềm tin cho cư sĩ Phật tử.
5.5.Chú trọng việc rèn luyện, trau dồi đạo hạnh các bậc xuất gia
Có thể nói rằng, trong sứ mệnh hoằng pháp, bên cạnh những kiến thức được trang bị thì kinh nghiệm tâm linh là yếu tố thiết yếu của người hành đạo. Đây là phẩm chất quan trọng nhất, là hành trang cần và đủ đối với một tu sĩ Phật giáo. Nội lực này không phải do nghiên cứu thuần túy mà có được mà là thành quả của một quá trình tu tập và ứng dụng giáo lý của đức Phật vào đời sống hằng ngày thông qua ba nghiệp thân, khẩu, ý. Đó chính là chất liệu từ bi trí tuệ của Đạo Phật được thẩm thấu vào thân tâm tạo nên tư cách của một tu sĩ Phật giáo kiểu mẫu về đạo đức và trí tuệ. Chính sự biểu hiện tinh thần tri hành hợp nhất từ cuộc sống của những nhân cách này là một minh chứng cụ thể khiến cho niềm tin của người Phật tử trở nên kiên cố đối với Phật pháp, như Kinh Pháp cú đã dạy: “Hương thơm các loại hoa, Không ngược bay chiều gió, Nhưng hương người đức hạnh, Ngược gió khắp tung bay, Chỉ có bậc chân nhân, Tỏa khắp mọi phương trời”.
6. Những việc cần thực hiện trong thời gian đến
- Chú trọng và đẩy mạnh hơn nữa công tác đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho công cuộc hoằng pháp, hướng dẫn cư sĩ Phật tử tu học.
- Đẩy nhanh công tác biên soạn một bộ sách Phật pháp căn bản và thống nhất trên phạm vi toàn quốc, nhắm đến đối tượng cư sĩ Phật tử, dùng để giảng dạy cho người Phật tử và để người Phật tử nghiên cứu, tu học.
- Thiết lập mối liên kết chặt chẽ hơn nữa giữa các đạo tràng với nhau, nhất là khi cùng sinh hoạt trong một phạm vi địa lý nhất định, thể hiện cụ thể qua việc liên kết tổ chức các chương trình tu học dành cho cư sĩ Phật tử.
- Đẩy mạnh sự liên kết, phối hợp giữa các ban ngành trong Giáo hội, như là giữa Ban hoằng pháp, Ban hướng dẫn Phật tử, Ban từ thiện, Ban văn hóa,… nhằm tạo thuận lợi và nâng cao hiệu quả, tạo ra sự phong phú, đa dạng trong việc tổ chức, hướng dẫn các chương trình tu học cho cư sĩ Phật tử.
- Chú trọng hơn nữa đến việc hoằng pháp, tổ chức các đạo tràng tu học ở các vùng khó khăn, tạo điều kiện giúp đỡ trong việc xây dựng các cơ sở tu học cho cư sĩ ở những nơi này.
- Thường xuyên tổ chức các cuộc hội thảo về hoạt động hoằng pháp và tu học của cư sĩ Phật tử theo định kỳ để từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm quý giá trong công tác hoằng pháp. Đồng thời cần tổ chức các cuộc thi về giáo lý, về kinh nghiệm tu học dành cho người cư sĩ Phật tử theo định kỳ, thích ứng với nhiều độ tuổi, quy mô và phạm vi khác nhau, có sự đánh giá minh bạch và khen thưởng chính đáng cho người dự thi, nhằm khích lệ tinh thần tu học của người Phật tử.
- Các cấp lãnh đạo của Ban hướng dẫn Phật tử cần tổ chức nhiều hơn nữa những chuyến viếng thăm các đạo tràng tu học theo định kỳ, đặc biệt là đối với các đạo tràng ở vùng khó khăn nhằm khích lệ tinh thần tu học của Phật tử địa phương, nắm bắt tình hình và có biện pháp hỗ trợ thích ứng, kịp thời.
Tóm lại: Đạo Phật có mặt trên thế giới cách đây hơn 26 thế kỷ, nhưng tư tưởng của Phật giáo không hề lạc hậu mà ngược lại rất hiện đại. Nhà vật lý học người Đức Albert Einstein đã nói rằng: “Nếu có một tôn giáo nào đáp ứng những nhu cầu khoa học hiện đại thì đó là Phật giáo. Phật giáo không đòi hỏi phải xét lại mình để cập nhật những khám phá mới của khoa học. Phật giáo cũng không cần phải từ bỏ bất cứ quan điểm nào của mình để đi theo khoa học. Bởi, Phật giáo bao gồm khoa học và vượt xa khoa học”. Đó là vì những vấn đề mà Đức Phật đặt ra gần ba thiên niên kỷ trước vẫn không hề bị lỗi thời trong thời đại ngày nay. Đó là vấn đề khổ đau và phương pháp diệt trừ khổ đau, vấn đề tà kiến và chánh kiến, từ bi và trí huệ, yêu thương và hiểu biết và nhất là chủ trương con người phải dựa vào chính bản thân mình để giải quyết những vấn đề của con người trên tinh thần duyên sinh vô ngã mang tính toàn cầu như hiện nay.
Chư Tăng Ni là hiện thân những sứ giả của Như Lai, đại diện cho Đức Phật bảo vệ và truyền bá Chánh pháp. Các vị cư sĩ Phật tử là những người hộ pháp, không chỉ đóng góp về vật chất cho sự tồn tại và phát triển của Phật giáo, mà còn là những người trực tiếp đem đạo Phật đi vào cuộc đời, là những người Phật tử dấn thân, là những hình ảnh điển hình cho việc vận dụng lời Phật dạy vào hiện thực của cuộc sống để làm gương cho mọi người cùng noi theo. Vì vậy, cần thiết phải xây dựng niềm tin vững chắc cho người cư sĩ Phật tử bởi gốc ở sự tu hành chính là tin nơi khả năng giác ngộ của chính mình. Làm được như vậy là chúng ta đã góp phần xiển dương Phật pháp.
Bằng tấm lòng của người con Phật, nguyện đồng lòng chung sức quyết tâm phục vụ đạo pháp, xây dựng tăng đoàn hòa hợp thì mọi Phật sự đều được viên thành. Cuối cùng xin nguyện cầu: Phật pháp xương minh, Tăng già hòa hợp, tứ chúng đồng tu.
Trước khi dứt lời, con xin thành tâm kính chúc chư Tôn thiền đức cùng tất cả quý vị vô lượng an lạc, vô lượng cát tường. Kính chúc Hội thảo thành công tốt đẹp.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây