XÂY DỰNG NIỀM TIN PHẬT TỬ BẰNG CON ĐƯỜNG NHÂN THỪA

Thứ bảy - 30/11/2019 05:06
XÂY DỰNG NIỀM TIN PHẬT TỬ
BẰNG CON ĐƯỜNG NHÂN THỪA

                                   
                                                                HT. THÍCH MINH THIỆN
PHÓ BAN HOẰNG PHÁP TRUNG ƯƠNG
  1. DẪN NHẬP
  Phật pháp là chân lý, là nguyên lý vận hành của mọi pháp ở thế gian. Khi người đời xây dựng hạnh phúc bằng sự thỏa mãn nhu cầu; bám víu vào những gì đang có cho là sở hữu; người đời bằng mọi cách để đạt được vật chất để thỏa mãn cho sáu giác quan; con người xây dựng tôn giáo bằng thần linh, lệ thuộc vào phán quyết của thần linh… .. thì đạo Phật lại hoàn toàn ngược lại. Chính vì ngược lại, đạo Phật đã đóng góp cho nhân loại giá trị to lớn trong nhiều lĩnh vực khoa học hiện đại, xây dựng đời sống tinh thần hạnh phúc trong bối cảnh xã hội ngày càng phát triển.
 Vậy nên, câu hỏi đặt ra là làm cách nào để Phật giáo tiếp tục có nhiều đóng góp, xây dựng niềm tin của đồng bào Phật tử, kể cả những người chưa là Phật tử, hay nói chính xác là, niềm tin của xã hội dành cho đạo Phật?  Trả lời cho câu hỏi lớn này, có hai phạm trù để xem xét, một là nội dung chân lý của Phật giáo, hai là phương pháp truyền đạt. Nội dung thì đã được đức Phật khẳng định trong Kinh A Hàm như sau: “Một chúng sinh duy nhất, một con người phi thường, xuất hiện trên thế gian này, vì an lạc cho số đông, vì hạnh phúc cho số đông, vì an lạc và hạnh phúc cho chư thiên và loài người, chúng sinh đó chính là con người lịch sử –  Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.
Gần đây, sự tiến bộ quá nhanh của khoa học kỹ thuật đã tạo ra những khủng hoảng xã hội, mất thăng bằng về sinh thái, về văn hóa, tâm lý, đạo đức ... Nhà Vật lý học Albert Einstein cho rằng : "Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo toàn cầu, vượt lên mọi thần linh, giáo điều và thần học. Tôn giáo ấy phải bao quát cả phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên, đặt trên căn bản của ý thức đạo lý, phát xuất từ kinh nghiệm tổng thể, gồm mọi phương diện trên, trong cái nhất thể đầy ý nghĩa. Chỉ có đạo Phật đáp ứng đủ các điều kiện ấy".
Vậy việc cần làm chỉ là phương pháp thực hiện, làm sao những giá trị tuyệt vời đó của đạo Phật đến với số đông; giá trị của đạo Phật được hiển lộ, hệ quả tất yếu là niềm tin, tình cảm của xã hội dành cho Phật giáo là điều hiển nhiên. Ở đây, mang tính chất một bài tham luận, đối tượng hướng đến là đồng bào Phật tử Việt Nam. Nên phương pháp đề ra của chúng tôi dựa trên cơ sở đối tượng văn hóa, xã hội, con người và đặc thù Phật giáo Việt Nam.
Có nhiều phương pháp, mang tính “tùy duyên hóa độ”, chúng tôi gợi ý phương pháp “ Trạch pháp nhân thừa
  1. NỘI DUNG
Để xây dựng niềm tin và tình cảm của đồng bào Phật tử và người chưa  phải Phật tử, trong tham luận này chúng tôi đưa ra hai nội dung chính:
 1) Tất nhiên – cốt lõi;
 2) Trạch pháp về nhân thừa.
  1. TẤT NHIÊN – CỐT LÕI
1.1 Quán triệt lời Phật dạy về cách hưng thịnh Tăng đoàn
Chúng tôi gọi nội dung này là “tất nhiên – cốt lõi” vì đây là lời Phật dạy về cách để Phật pháp hưng thịnh, xây dựng niềm tin kiên cố của người Phật tử đối với Tam Bảo, đồng thời thừa kế thành quả của Lịch đại Tổ sư. Làm thế nào phát huy được tinh thần Truyền đăng tục diệm, kế vãng khai lai, làm cho Tăng đoàn ngày càng hưng thịnh?
Về phạm trù xây dựng niềm tin cho mọi người đối với Phật giáo, đức Phật đã đề cập rất nhiều, trong cả ba tạng Kinh – Luật – Luận đều được Ngài nêu ra một cách rất chi tiết. Thậm chí, Ngài còn chỉ ra chiều ngược lại, nguyên nhân Phật pháp diệt vong.
Bảy yếu tố khiến Tăng đoàn hưng thịnh hay còn gọi là bảy pháp bất thối được đề cập trong bài kinh Đại bát Niết bàn, gồm: Có Tín tâm, có Tàm, có Quý, Đa văn, Tinh tấn, Chánh niệm và Trí tuệ. Đây là những yếu tố quan trọng được đức Phật đặc biệt nhấn mạnh như là nền tảng cho sự hưng thịnh của Tăng đoàn. Ở đây, xin được đề cập qua một số lời dạy của Ngài về cách hưng thịnh Tăng đoàn, củng cố niềm tin của Phật tử  như: “Bảy pháp Bất thối”, hãy “Lấy Giới luật làm Thầy”, “Tin Ta mà không hiểu Ta là phỉ báng Ta”, “Đến để mà thấy (trí)” “Chánh tín của người Phật tử là tin Phật, tin Pháp, tin Tăng và tin Giới”, hay “Giáo Pháp Ta như ngón tay chỉ mặt trăng, như chiếc bè đưa người sang bờ sanh tử,”… Đây là một trong vô số những lời dạy của Đức Phật về cách tạo nên sức mạnh của Tăng đoàn và thiết lập niềm tin cho mọi người hướng về tu tập để đạt được an lạc, tự tại.
Như vậy, đức Phật luôn đứng ở vị trí con người để giáo hóa chúng sanh và đặt lòng tin vào khả năng của con người có thể phân biệt thiện ác, chánh tà. Con người có khả năng tự giải thoát, tự giác ngộ như ngài đã tự mình giác ngộ giải thoát.
Vậy để thiết lập niềm tin của đồng bào Phật tử trước tiên phải luôn nội tâm hóa những lời dạy trên của đức Phật về cách để Phật pháp hưng thạnh, đặc biệt là những ai thực hiện hạnh nguyện Hoằng pháp lại càng tâm niệm sâu sắc hơn.
    1. Giữ gìn thành quả, chắc lọc tinh hoa của lịch đại Tổ Sư
Giá trị của đạo Phật trải qua hơn hai ngàn năm lịch sử đối với đất nước Việt Nam như: Văn hóa, tín ngưỡng, chính thể, lịch sử, văn học, cách nghĩ, tư duy… v.v của người Việt, chân lý của đạo Phật có mặt trong mọi lãnh vực sinh hoạt của người Việt. Từ những vị Quốc Sư cũng chính là những Thiền Sư giúp vua giữ yên bờ cõi, đến những Quân vương là những Phật tử ngày ngày áp dụng an bang, thái bình thịnh trị bằng cách thực hiện giáo lý Đạo Đức Nhân Thừa – nền tảng của Ngũ giới Phật giáo, của những lời Phật dạy.
Những thành quả tuyệt vời nêu trên là thành quả về phương pháp hoằng pháp của Lịch đại Tổ Sư. Thế hệ của chúng ta phải thật hiểu để trân quý và giữ gìn, tâm tâm niệm niệm kế thừa và phát triển
Có những giai đoạn Phật giáo nhập thế, trở thành sức chi phối chính của xã hội, tác động sâu sắc vào từng tế bào của xã hội, niềm tin mãnh liệt của nhân dân dành cho đạo Phật. Đặc biệt là thời kỳ Đinh Lê Lý Trần. Mỗi giai đoạn lịch sử đi qua, chư Tổ đã để lại nhiều bài học vận dụng Phật pháp vào cuộc sống thực tiễn của người dân. Từ đó tạo nên một Đạo Phật Việt Nam, không sai lời Phật nhưng cũng không rời xa xã hội. Nay thảo luận thiết lập niềm tin của người Phật tử đối với đạo Phật, chúng tôi thiết nghĩ, chúng ta cần nhiều công trình nghiên cứu hơn nữa trong các thời kỳ vàng son của đạo Phật Việt Nam để chắc lọc tinh hoa, vận dụng vào hoằng pháp đương đại.
Tại Trung tâm Hội nghị quốc gia Mỹ Đình Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết,  sáng ngày 14.5.2008 đã khẳng định:
Việt Nam là đất nước đa tôn giáo mà đạo Phật là tôn giáo có mặt rất sớm từ gần 2000 năm trước. Ngay từ buổi đầu tiên, với tư tưởng Từ bi, hỷ xã, Phật giáo đã được nhân dân Việt Nam đón nhận, luôn đồng hành cùng dân tộc với phương châm nhập thế, gắn bó giữa Đạo và Đời phấn đấu vì hạnh phúc an vui cho con người. Trong các thời đại, thời nào lịch sử Việt Nam cũng ghi nhận những nhà Sư đại đức, đại trí đứng ra giúp đời, hộ quốc, an dân. Đặc biệt lịch sử Việt Nam mãi mãi ghi nhớ công lao của vị vua anh minh Trần Nhân Tông có công lớn lãnh đạo nhân dân bảo vệ Tổ quốc. Khi đất nước thái bình, Người nhường ngôi từ bỏ giàu sang, quyền quý, tìm đến nơi non cao Yên Tử để học Phật tu hành, sáng lập nên Thiền phái Trúc Lâm, một dòng Thiền riêng của Việt Nam tồn tại mãi tới ngày nay.”
  1. TRẠCH PHÁP VỀ NHÂN THỪA
Chúng tôi dùng cụm từ “Trạch pháp nhân thừa” hàm nghĩa chúng ta nên thấu rõ con người, xã hội một cách chi tiết, sâu sắc từ nhãn quan đạo Phật.
Mỗi bài kinh đức Phật nói ra có năm cấp độ chứng ngộ và nhận thức (Nhân thừa, Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát và Phật thừa). Chỉ có một cấp là tục đế, bốn cấp còn lại là chân đế. Để thấu đạt chân đế, số lượng đó rất ít và thường là các vị tu sĩ. Vậy, để đạo Phật được phát triển rộng, sâu, người hoằng pháp cần trạch pháp nhân thừa trong sự nghiệp hạnh nguyện hoằng pháp của chính mình.
Trong Kinh Từ Bi thuộc Kinh tạng Pàli, đức Phật có dạy: “Nguyện cho mọi người và mọi loài được sống trong an toàn và hạnh phúc, tâm tư hiền hậu và thảnh thơi. Nguyện cho tất cả các loài sinh vật trên trái đất đều được sống an lành, những loài yếu, những loài mạnh, những loài cao, những loài thấp, những loài lớn, những loài nhỏ, những loài ta có thể nhìn thấy, những loài ta không thể nhìn thấy, những loài ở gần, những loài ở xa, những loài đã sinh và những loài sắp sinh. Nguyện cho đừng loài nào sát hại loài nào, đừng ai coi nhẹ tính mạng của ai, đừng ai vì giận hờn hoặc ác tâm mà mong cho ai bị đau khổ và khốn đốn”
Để thực hiện, về mặt tổ chức, chúng tôi thiết nghĩ, chúng ta cần lưu tâm:
2.1 Phân nhóm đối tượng
Tùy bệnh cho thuốc, tùy căn cơ mà hóa độ, làm thế nào để Khế Lý, Khế Cơ, Khế Thời và Khế Xứ để chuyển tải những lời dạy của Đức Phật nhằm xoa dịu những nổi khổ niềm đau của kiếp sống nhân sinh trong xã hội mà vật chất ngày càng leo thang, tinh thần dần dần xuống cấp, báo động một cách trầm trọng. Để có thể góp phần xây dựng niềm tin Đạo Đức của các đối tượng dù là Phật tử hay chưa phải tín đồ, ta cần phải phân nhóm để hiểu rõ và có biện pháp thực hiện. Trong bối cảnh xã hội hiện nay, có nhiều cách phân nhóm xã hội, tùy theo góc nhìn và nhu cầu tìm hiểu. Chúng ta có thể có ba cách thực hiện:
 1) Mở một hội thảo về phân nhóm xã hội;
2) Liên kết với các nhà xã hội học, các nhà chuyên môn để phân nhóm;
3) Kinh nghiệm, nhãn quan của chư Tôn đức ngồi lại với nhau để phân nhóm.
Chúng tôi xin gợi ý có các nhóm như sau: Chính trị, doanh nhân, nhân sĩ tri thức, công nhân, tuổi trẻ, người ở độ tuổi nghỉ hưu, dân tộc cao nguyên, người bất hạnh, phạm trù đạo đức, văn hóa, lịch sử, môi trường, bạo lực…
    1. Biết Họ cần gì ?– “Đêm về đỏ lửa”
Khi đã phân nhóm được đối tượng hướng đến. Bước tiếp theo, chúng ta lập một khảo sát khoa học, thiết kế bản hỏi thật chi tiết để hiểu họ, biết họ cần gì. Cho họ cái họ đang thiếu, chứ không phải cho họ cái ta có sẵn.
Mỗi đối tượng, mỗi phạm trù trong xã hội có những nhu cầu về tín ngưỡng, đạo Phật khác nhau, tiếp cận họ bằng sự “lắng nghe”, bằng Tứ Nhiếp Pháp.Từ lắng nghe sẽ cho họ cái “hiện thực nhu cầu”. Có hai ví dụ chúng tôi minh họa cho điều này:
Thí dụ thứ nhất câu chúc “Đêm về đỏ lửa” là câu chúc của đồng bào dân tộc Tây Bắc. Họ không cần những câu chúc của người Kinh, không cần sáo rỗng. Họ chỉ cần, mỗi ngày đi làm về có được bếp lửa thắp lên là no đủ. Khi đến với họ chúc họ bằng câu chúc đó sẽ được thiện cảm hơn nhiêu. Hiểu họ từ đời sống, văn hóa, nhu cầu thực như vậy thì đạo Phật chắc chắn sẽ chạm đến trái tim của đồng bào nhân dân.
Thứ hai, trải nghiệm bản thân tiếp xúc nhiều đối tượng, đi nhiều nơi. Chúng tôi nghe được sự quan tâm, đồng cảm và hy vọng về “Khóa tu mùa hè” của Phật giáo. Họ rất ghi nhận từ lãnh đạo, phụ huynh, con em. Đã có nhiều em thay đổi tích cực cuộc đời mình qua các “Khóa tu mùa hè”. Tại sao xã hội rất quan tâm và kỳ vọng vào điều này? Vì khóa tu đã cho xã hội cái họ đang cần, đó là sân chơi lành mạnh, rèn luyện đạo đức, định hướng tích cực con em của họ v.v. mà xã hội đang cần sự bổ sung vấn đề này, Phật giáo lại đáp ứng được.
Cuộc sống của người xuất gia khác với hoàn cảnh của cư sĩ, cho nên có những điều giải thoát đối với giới tu sĩ mà người tại gia không thể biết được và ngược lại, có những việc mà quý vị tại gia biết rõ hơn chúng tôi. Nếu nói về cuộc sống giải thoát thì chúng tôi có kinh nghiệm hơn cư sĩ, nhưng bước chân vào đời kiếm tiền, chắc chắn chúng tôi không biết bằng cư sĩ. Vì vậy, Phật giáo muốn tồn tại, phải sinh hoạt vừa thích hợp với xã hội vừa xây dựng được nếp sống giải thoát, nghĩa là kết hợp hài hòa cả hai giới tại gia và xuất gia. Chư Tổ có nói: “Phật Pháp xương minh do Tăng già hoằng hóa, Thiền môn hưng thịnh bi Đàn việt phát tâm”, Tăng Ni có trách nhiệm hoằng truyền Chánh pháp và hàng Phật tử tại gia với nhiệm vụ thiêng liêng hộ trì Chánh pháp, cùng nhau tu tập theo lời Phật dạy.
Người viết thấy Phật giáo hiện nay có thể mở các lớp kỹ năng xây dựng hạnh phúc gia đình; lớp định hướng sống lành mạnh; kỹ năng đạt được hạnh phúc trong công việc; tư vấn trước mùa thi, lớp thiền cho doanh nhân, doanh nghiệp, Thiền trà an lạc, Thiền trà tỉnh thức,… v.v. Rất nhiều việc đạo Phật cần làm về mặt đời sống tinh thần, đạo đức trong bối cảnh hiện tại của xã hội Việt Nam.
Cho nên, mỗi đối tượng, mỗi phạm trù xã hội, chúng ta có chính sách khảo sát tìm hiểu họ thật kỹ để hoằng pháp mang tính thực tiễn, sâu sắc “Tri hành hợp nhất”. Việc này cũng không mới qua hình ảnh Bồ tát “Nghìn mắt, nghìn tay” của Bồ tát Quán Thế Âm. Vấn đề là tổ chức Trung ương đứng ra làm để có chính sách chung, định hướng chung và làm đồng bộ; người giỏi sẽ dìu người khá, người khá sẽ dìu người kém và từ đó chúng ta có một tập thể vững mạnh hơn.
    1. Lập kịch bản chi tiết về nội dung chân lý đạo Phật cho từng đối tượng
Như đã trình bày ở phần mở đầu, triển khai lời Phật dạy theo hướng chân đế số lượng nghe hiểu được rất ít. Hãy cho họ cái họ đang cần họ sẽ trân trọng. Họ sẽ đến với đạo Phật. Và mỗi lời kinh Phật có rất nhiều nghĩa, đến năm tầng nhận thức. Đẩy mạnh ý nghĩa nhân thừa, phụng sự xã hội. Người tu sĩ ai cũng biết chân lý của đạo Phật phong phú về nội dung, bao quát nhiều phạm trù xã hội, có thể đáp ứng nhu cầu cấp thiết hiện nay của xã hội và mang tầm quốc tế.
Chính vì vậy, sau khi đã thấu hiểu được đối tượng hướng đến cần gì? tâm tư nguyện vọng là gì? Đạo Phật cho họ được điều gì? vai trò của đạo Phật trong lòng đồng bào nhân dân ở mức nào… v.v. chúng ta lập kịch bản chi tiết cho từng đối tượng và phạm trù xã hội.
Kịch bản này đáp ứng được hai nội dung cơ bản, một phương pháp tiếp cận họ, hai liệt kê các nội dung cơ bản đáp ứng đúng nhu cầu của đối tượng.
  1. Nhận xét hiện trạng và kết luận
Những điều chúng tôi trình bày không mới, từ biểu tượng  hình ảnh của chư Bồ tát, bài học lịch sử của Liệt vị Tổ sư, từ phương pháp khế Lý – Cơ – Thời - Xứ…Chư Tôn đức đã vận dụng trong sự nghiệp Hoằng pháp, nhưng điều chúng tôi thấy hiện trạng còn mang tính “khả năng cá nhân, lập dị, độc tôn...”. Thế nên để cho Phật pháp trường tồn, phổ tế chúng sanh; điều chúng ta cần nhất quán là “Làm cách nào để có thể Hoằng pháp một cách hiệu quả và rộng khắp, xây dựng Niềm tin người Phật tử bằng con đường Nhân Thừa_ nền tảng Đạo Đức Phật giáo trên tinh thần: Phụng sự chúng sanh là cúng dường 10 phương chư Phật”.
Kính chúc Hội Thảo thành công tốt đẹp./.

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây