XÂY DỰNG LÒNG TIN – NỀN MÓNG CỦA CÔNG CUỘC HOẰNG PHÁP VỚI ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ

Thứ bảy - 30/11/2019 04:50
 
XÂY DỰNG LÒNG TIN – NỀN MÓNG CỦA CÔNG CUỘC HOẰNG PHÁP VỚI ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ
Thượng Tọa – Tiến Sĩ Thích Tâm Như
Phó PB Thông Tin Truyền Thông Ban Hoằng Pháp TƯ
Phó Ban Hoằng Pháp GHPGVN Tỉnh Khánh Hòa
Phó Ban TT-TT GHPGVN Tỉnh Khánh Hoà
A. MỞ ĐỀ:
            Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc. Trải dọc khắp dải đất hình chữ S là sự hiện diện của 54 dân tộc anh em. Mỗi dân tộc đều có nét văn hóa riêng, một bản sắc riêng tạo nên sự khác biệt không thể trộn lẫn thông qua ngôn ngữ, phong tục, trang phục, ẩm thực và âm nhạc… Có thể nói Việt Nam là sự tổng hòa các giá trị văn hóa của 54 dân tộc anh em. Có những dân tộc chỉ có dân số vài trăm người, cũng có những dân tộc có hàng triệu người nhưng tựu trung lại đều coi nhau như anh em một nhà, yêu thương và đùm bọc lẫn nhau.
            Bởi Việt Nam là một tổng thể hoàn chỉnh của 54 dân tộc nên đồng bào dân tộc thiểu số luôn là một mối quan tâm hàng đầu của Việt Nam. Ngày nay, trong hoàn cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra ngày càng nhanh và rộng rãi, sự phát triển của các đồng bào dân tộc vùng sâu vùng xa càng có ý nghĩa chiến lược và được chú trọng hơn bao giờ hết, và Phật giáo cũng không đứng ngoài xu hướng ấy. Trong những năm gần đây, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã, đang và ngày càng đầu tư cho công cuộc hoằng pháp với đồng bào dân tộc thiểu số, bắt đầu bằng việc xây dựng cho đồng bào một lòng tin đúng đắn và vững chắc vào Phật pháp.
 
B. NỘI DUNG CHÍNH
1. Khái niệm:
1.1 Dân tộc thiểu số là gì?
Khái niệm “dân tộc thiểu số” chỉ có ý nghĩa biểu thị tương quan về dân số trong một quốc gia đa dân tộc. Ở Việt Nam, khái niệm DTTS được sử dụng rộng rãi trong các văn bản pháp luật cũng như trong công tác nghiên cứu, học tập và trong hoạt động 7 thực tiễn. Thuật ngữ này cũng được sử dụng chính thức trong các bản hiến pháp. Nghị định 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ về công tác dân tộc đưa ra khái niệm tại K2- Đ4 "DTTS là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước CHXHCNVN"; K3- Điều 4: "Dân tộc đa số là dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng số dân của cả nước theo điều tra dân số quốc gia".
Căn cứ vào kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở quốc gia 2009, Việt Nam có 54 dân tộc sinh sống trên lãnh thổ của cả nước. Trong đó người Kinh là dân tộc đa số, sinh sống trên khắp các vùng lãnh thổ nhưng chủ yếu ở vùng đồng bằng, các hải đảo và tại các khu đô thị còn lại 53 dân tộc thiểu số với số dân 12,253 triệu người (chiếm 14,3%), sinh sống thành cộng đồng ở 52 tỉnh, thành phố, 458 huyện, 5.266 xã; chủ yếu ở vùng miền núi, biên giới, khu vực rừng phòng hộ xung yếu, nơi đầu nguồn sinh thủy; có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, môi trường sinh thái và đa dạng sinh học.
1.2 Những niềm tin nào về Phật giáo cần được xây dựng
Việc xây dựng lòng tin cho đồng bào DTTS cần có sự nghiên cứu và chọn lọc. Bước đầu chỉ nên hướng đồng bào tin vào những điều cơ bản và là nền tảng trong triết lý nhà Phật:
  • Thứ nhất: Tin Đức Phật không phải là nhân vật hư cấu.
Đức Phật không phải là sản phẩm của trí tưởng tượng mà Ngài là một con người có thật. Không phải tự nhiên mà chúng ta có khái niệm “Đức Phật lịch sử”. “Đức Phật lịch sử” là khái niệm chỉ đức Phật Thích Ca, một con người thật, từ các việc tu tập thật đã biến thân phàm của mình trở thành bậc tuệ giác đầu tiên trong lịch sử tư tưởng của nhân loại ở tuổi 35 và vào Niết-bàn ở tuổi 80. Lấy hành tinh mà chúng ta đang sống làm hệ quy chiếu, chỉ có một đức Phật lịch sử duy nhất là đức Phật Thích Ca. Không có đức Phật thứ hai. Chúng ta cũng như Phật, nếu quyết tâm tu hành đến nơi đến chốn thì cũng sẽ thành Phật trong tương lai, vì tất cả chúng sinh đều có tính biết sáng suốt hằng chiếu soi muôn sự vật.
“Ta không là Thượng Đế, cũng không phải là thần linh, mà chỉ là một con người, nhưng con người đã chiến thắng thế gian”. (Kinh A Hàm)
- Thứ hai: Tin Đức Phật là một người giác ngộ hoàn toàn.
Niềm tin đối với Phật không giống như thần linh thượng đế trong thời xa xưa, tin Phật ở đây có khả năng giác ngộ của một con người bằng xương bằng thịt giống như tất cả mọi người chúng ta. Chúng ta tin Phật vì Ngài là bậc giác ngộ viên mãn, từ một con người bình thường nhưng do quyết chí buông bỏ, tu hành mà Ngài thành tựu đạo pháp giác ngộ. Ngài tu hành thành Phật thì chúng ta cũng có thể thành Phật như Ngài, nên Phật nói: “Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành”. Chữ Phật nói cho đầy đủ là Phật đà, có nghĩa là người giác ngộ hoàn toàn, không còn bị các thứ ngũ dục ở thế gian chi phối. Vì giác ngộ viên mãn nên những gì Ngài chỉ dạy cho chúng ta đều là chân lý tối cao đúng với lẽ thật. Phật là danh từ chung chứ không phải của riêng chúng sinh nào, ta cũng là một chúng sinh nên cũng có thể thành Phật. Vậy chúng ta tin Phật là tin người giác ngộ hoàn toàn, một bậc giác ngộ sẽ giúp chúng ta thoát khỏi mê lầm từ muôn kiếp để được thanh tịnh, sáng suốt, chớ không phải tin Ngài có khả năng ban phước, giáng hoạ giúp cho ta được mọi điều như ý muốn. Tin Phật là Đấng giác ngộ đã thành không phải chỉ để tôn thờ, sùng kính, lễ lạy mà để thực hành tu tập theo Ngài, để mình cũng được thành Phật như Ngài, tức là tin vào khả năng thành Phật của chính mình. 
- Thứ ba: Tin những lời Phật dạy là chân lý.
Người Phật tử chúng ta nhờ tin lời Phật dạy nên quyết tâm ứng dụng và hành trì thì kết quả mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho cuộc sống. Qua đó, chúng ta mới thấy lời Phật dạy là chân lý nhiệm mầu luôn giúp cho mọi người biết sống yêu thương nhau bằng tình người trong cuộc sống. Nhưng Đức Phật cũng đã dạyTin ta mà không hiểu ta tức là phỉ báng ta.” Không giống các bậc thầy đương thời luôn dạy con người phải tin nhận tuyệt đối và trung thành với các đấng bề trên. Ở cương vị là một đạo sư, đức Phật lại khuyến hóa hàng đệ tử trước khi bắt đầu thực tập bất kỳ một phương pháp tu tập nào cũng cần hiểu biết sâu sắc về giá trị của nó, không nên bắt chước theo thói quen tập thể, theo truyền thống hay theo những tin đồn phao thất thiệt thì không những không lợi mà còn phản tác dụng.
Phật dạy: “Ai tin ta mà không hiểu ta tức phỉ báng ta”. Đó là Phật dạy chúng ta về lòng tự tin, tin vào năng lực của chính bản thân. Vì trong cuộc sống, tất cả mọi hạnh phúc hay khổ đau là tùy thuộc vào khả năng chuyển hóa phiền não của từng người, không thể đổ thừa vào sự gia bị hoặc không gia bị của đức Phật được.
Những gì cần làm, Phật đã làm xong. Những gì phải dạy, Phật đã dạy hết. Phần còn lại là của chúng ta tin theo và thực hành. Con đường Phật dạy cho chúng ta là con đường duy nhất đưa chúng sanh tới an lạc, giải thoát.

2. Xây dựng lòng tin ban đầu cho đồng bào dân tộc
2.1 Tầm quan trọng của việc xây dựng lòng tin
Niềm tin là nguồn năng lượng mạnh mẽ nhất trong việc tạo ra những điều tốt đẹp trong cuộc sống. Ngược lại, niềm tin bị giới hạn cũng sẽ hủy hoại hành động. Niềm tin mang lại tâm trạng tràn đầy sức sống sẽ khiến con người mạnh mẽ hẳn lên. Niềm tin giúp chúng ta khơi nguồn những năng lực phong phú nhất ẩn sâu trong con người, tạo ra và định hướng cho những nguồn năng lực ấy giúp thực hiện những mục tiêu mong muốn.
Trong Kinh Hoa Nghiêm, Đức Phật dạy: “Niềm tin là mẹ sinh ra các công đức”. Bởi vì, có niềm tin nơi đức Phật, có niềm tin nơi Chánh pháp, nơi Tăng già, các bậc đạo sư thì mới quy ngưỡng và tín thọ, phụng hành giáo pháp đưa đến thành tựu phạm hạnh, an lạc giải thoát. Đến với đạo Phật không phải để cầu đảo van xin, không phải để nương tựa thần quyền. Niềm tin trong đạo Phật là niềm tin trên cơ sở hiểu biết, trí tuệ. Niềm tin trong đạo Phật hướng về những điều mà đức Phật đã giác ngộ, đó là duyên sinh, nhân quả nghiệp báo, là vô thường, khổ, không, vô ngã… Nếu xây dựng niềm tin không vững chắc, hoặc niềm tin có được trên cơ sở nhận thức cảm tính mà không xuất phát từ lý trí, từ kinh nghiệm thực tiễn thì sớm muộn niềm tin ấy cũng bị đổ vỡ.
Mặc dù đức tin vào Phật giáo không bao hàm "niềm tin mù quáng", niềm tin vào Phật giáo được dự định để dẫn đến mục tiêu giác ngộ, Niết bàn. Niềm tin vào Phật giáo vẫn có một vai trò ở Châu Á hiện đại hoặc phương Tây. Và đặc biệt, đối với những người vừa tiếp xúc với Phật giáo, chưa có đủ thời gian để có được sự hiểu biết rốt ráo về giáo lý Phật đà thì việc có được một niềm tin đúng đắn và vững chắc sẽ giống như đang đi giữa đại dương thăm thẳm nhìn thấy ngọn hải đăng, được sự soi đường, dẫn lỗi tránh được những gian nguy, hiểm trở trên đường. Do đó, có thể nói, việc xây dựng lòng tin cho đồng bào dân tộc thiểu số chính là nền móng của công cuộc hoằng pháp tại vùng sâu vùng xa.
2.2 Những khó khăn trong quá trình xây dựng lòng tin với người dân tộc thiểu số:
- Phần lớn cộng đồng DTTS Việt Nam cư trú phân tán, xen kẽ nhau, không tập trung tại một địa bàn cụ thể, địa bàn cư trú chủ yếu là vùng sâu vùng xa, địa hình hiểm trở, khó tiếp cận. Điều này dẫn đến việc thiếu thông tin và cơ hội tiếp cận thông tin vẫn là tình trạng khá phổ biến ở vùng dân tộc. Những người tu sĩ muốn tiếp cận đồng bào nơi đây cũng là một thách thức rất lớn.
- Các DTTS có quy mô dân số và trình độ phát triển kinh tế- xã hội nhìn chung còn thấp và không đồng đều nhau. Đáng chú ý, người mù chữ ở nhiều dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ cao, đồng nghĩa với việc một số lượng lớn bà con không thể tiếp cận thông tin từ đọc. Vậy là thông tin chỉ đến với bà con qua phát thanh, truyền hình, và chủ yếu là qua truyền miệng. Theo số liệu thống kê được Ủy ban Dân tộc và Cơ quan Phát triển Liên hợp quốc công bố vào ngày 26/4/2017 tại Hội thảo “Thúc đẩy phát triển dân tộc thiểu số - Không để ai bị bỏ lại phía sau”, có tới 21,8% tỷ lệ người dân tộc thiểu số chưa biết đọc, viết tiếng phổ thông. Với điều kiện ngôn ngữ bất cập, họ không thể nghe được tiếng Kinh, mà đa số những hoằng pháp viên của Phật giáo sử dụng tiếng Kinh, vậy làm thế nào để hoằng pháp viên của chúng ta trao đổi, nối chuyện được với đồng bào?
- Nhiều DTTS có tín ngưỡng, tôn giáo đan xen, đa dạng. Vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo của các DTTS ở nước ta khá phức tạp. Đến nay đa số đồng bào DTTS vẫn theo tín ngưỡng truyền thống, thờ cúng tổ tiên, thờ đa thần, các hình thái tôn giáo sơ khai. Cùng với quá trình xâm lược, thống trị nước ta của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ từ cuối thế kỷ XIX đạo Thiên Chúa giáo và Tin Lành đã từng bước xâm nhập, phát triển ở nhiều vùng DTTS. Do đó, có thể nói, đối với các đồng bào DTTS, Phật giáo đã có bước khởi đầu chậm hơn rất nhiều so với các Tôn giáo khác. Điều này đòi hỏi những người hoằng pháp viên phải có được sự am hiểu nhất định về tình trạng tôn giáo tại địa phương và có những cách hoạt động uyển chuyển để tránh gây ra những đụng chạm và xung đột không đáng có.
- Đồng bào các DTTS có ý thức tộc người sâu sắc, luôn chịu sự chi phối của những người có uy tín, ảnh hưởng trong dân tộc. Hơn thế nữa, người dân tộc thiểu số thường có tâm lý tự ti, bảo thủ, mẫn cảm, không dễ tiếp nhận cái mới. Vì vậy, để tạo nên sự thay đổi về nhận thức và hành vi trong cộng đồng dân tộc thiểu số cần một khoảng thời gian nhất định, cần được tiến hành từng bước, tạo cơ hội để người dân kiểm chứng và học hỏi từ thực tế.
2.3 Biện pháp khắc phục:
Xây dựng thêm nhiều tự viện, tịnh thất, tịnh xá tại các vùng sâu vùng xa, đưa cơ sở Phật giáo và hoằng pháp viên đến gần hơn với đồng bào DTTS.
Khuyến khích, động viên lực lượng Tu sĩ, hoằng pháp viên tình nguyện đến với những vùng sâu, vùng xa. Tuy nhiên, cần có sự chọn lọc dựa trên những tiêu chuẩn nhất định. Bởi đối với những vùng đồng bào DTTS có nhận thức chưa cao thì vị Tu sĩ, Hoằng pháp viên chính là nguồn tri thức gần gũi để họ bước đầu tiếp cận với Phật giáo. Những vị này mang tính định hướng dư luận rất cao nên cần có đủ cả tài và đức.
Có chương trình đào tạo hoằng pháp viên dành riêng cho từng vùng , từng DTTS đặc biệt là về các phong tục, tập quán, tín ngưỡng, ngôn ngữ và chữ viết… Tốt nhất có thể gây dựng nên một đội ngũ hoằng pháp viên là người bản địa, có sự am hiểu và gắn bó nhất định với đồng bào địa phương.
Trong hoằng pháp ở vùng DTTS, việc phát huy vai trò của người có uy tín trong cộng đồng góp phần nâng cao hiệu quả hoằng pháp rõ rệt. Người có uy tín trong cộng đồng thiểu số có thể là già làng, trưởng bản, trưởng thôn. Việc xây dựng lòng tin hay nói rộng ra là hoằng pháp với đồng bào DTTS trước hết nên bắt đầu từ những đối tượng này. Đây là phương thức hoằng pháp trực tiếp có tiềm năng lớn trong việc thay đổi thái độ của người DTTS, giúp lan tỏa các thông điệp hoằng pháp.
Tăng cường tổ chức các chương trình từ thiện, khóa tu, chia sẻ pháp thoại đến với đồng bào DTTS. Cần lưu ý nội dung các chương trình phải dựa trên cơ sở phong tục, tập quán và mức độ nhận thức văn hóa của người dân để tạo cho người dân cảm giác gần gũi, dễ hiểu và dễ vận dụng trong cuộc sống. Đánh đúng vào những điểm đồng bào cần, đồng bào thiếu từ đó đưa Phật pháp đi sâu, đi rộng vào cộng đồng.
Tổ chức kỷ niệm những ngày lễ lớn của Phật giáo như Phật đản, Vu Lan… bằng các hình thức như treo pano, cờ phướn, tổ chức văn nghệ… để hình ảnh của Phật giáo trở nên quen thuộc đối với người đồng bào.
Thực tế cho thấy, bên cạnh những vùng dân tộc thiểu số còn thiếu thông tin và cơ hội tiếp nhận thông tin, hiện nay ở một số vùng dân tộc thiểu số, du lịch phát triển mạnh, Internet, mạng xã hội khá phổ biến. Đặc điểm này đặt ra yêu cầu đối với công tác hoằng pháp là bên cạnh các phương thức hoằng pháp trực tiếp, cần linh hoạt sử dụng các phương thức gián tiếp thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng như sách báo, băng đĩa, truyền thông... Đối với các vùng dân tộc thiểu số có sự phát triển cao về kinh tế, xã hội, phương thức này đóng vai trò khá quan trọng trong hoạt động hoằng pháp.

C. KẾT LUẬN
Như vậy, trên cơ sở đặc điểm của dân tộc thiểu số ở từng vùng, từng địa phương, công tác hoằng pháp cần có cách tiếp cận cũng như phương thức phù hợp với những đặc thù riêng trên cơ sở tôn trọng, vận dụng và phát huy đa dạng văn hóa, tri thức bản địa và giá trị đặc sắc của từng tộc người nhằm xây dựng niềm tin đúng đắn và vững chắc đối với Phật giáo. Tuy nhiên, vẫn cần ý thức rằng dù niềm tin rất quan trọng, nhưng đó chỉ là bước khởi đầu cho con đường dẫn đến trí tuệ và giác ngộ. Niềm tin sẽ là lỗi thời hoặc được xác định lại ở giai đoạn cuối của con đường đó. Cũng như thế, xây dựng lòng tin về Phật giáo cho đồng bào DTTS là bước khởi đầu quan trọng, mang tính định hướng nhưng để Phật giáo đứng vững trong lòng đồng bào thì còn cần cả một quá trình hoằng pháp được đầu tư và thực hiện bài bản ở phía sau./.

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây