VAI TRÒ CỦA VỊ GIẢNG SƯ VỚI VIỆC TẠO NIỀM TIN CHO PHẬT TỬ QUA NẾP SỐNG TRONG NGÔI CHÙA

Thứ bảy - 30/11/2019 05:20
THAM LUẬN
ĐỀ TÀI: VAI TRÒ CỦA VỊ GIẢNG SƯ VỚI VIỆC TẠO NIỀM TIN CHO PHẬT TỬ QUA NẾP SỐNG TRONG NGÔI CHÙA
Đại đức THÍCH ĐẠO TUỆ
Ủy viên BTS PBan Hoằng pháp  
GHPGVN tỉnh T
hừa Thiên Huế

A. Hình ảnh và tiến trình phát triển ngôi chùa trong lòng người Việt:
Là người Việt Nam ai lại không nhớ, không thuộc câu ca dao đã đi vào văn học:
Cho tôi lập miễu thờ vua
Xây lăng thờ mẹ lập chùa thờ cha.
Xây lăng thờ mẹ, xây chùa thờ cha, lập miễu thờ vua, đừng hiểu theo thời phong kiến mà phải hiểu lập miễu thờ vua là chữ trung, xây lăng thờ mẹ là chữ hiếu, xây chùa không chỉ là thờ Phật mà thờ cha đó là chữ tình. Quả thật trung hiếu nghĩa tìnhlà bổn phận thiêng liêng, là nghĩa vụ cao cả mới xứng đáng con người mang chí nguyện xuất gia học Phật.
Trong cuộc đời điên đảo cũng có người tâm thiện ý chơn, giữa cuộc thế lợi danh cũng có kẻ nguyện sâu chí rộng. Tâm thiện ý chơn, nguyện sâu chí rộng s đưa chúng ta đến một đời sống phạm hạnh, có nhân cách, có phong thái trượng phu để xây dựng một xã hội an lành tươi vui và hạnh phúc.
An lành ai lại không ham muốn, nhưng đã ham muốn thì đừng xâm phạm sự an lành của kẻ khác, hạnh phúc ai lại không tham nhưng đã tham đừng làm kẻ khác đau khổ.
Biết vậy cách duy nhất sống cho ra sống, làm cho ra làm, làm đúng lương tri thì kính thưa chúng ta cần phải lập chùa, làm chùa để tu nhân tích đức, làm chùa để cùng nhau tu học làm chùa để thờ Tam Bảo, làm chùa để gởi gắm đời sống tâm linh. Vì chùa là nơi trau dồi đức hạnh, chùa là nơi gởi gắm tình người.
“Mỗi tối dân quê đón gió lạnh
Khắp chùa dào dạt ánh trăng thanh
Sắn khoai gạo thóc nuôi dân xóm
Ấp ủ dân lành bao tháng năm”
Ôi! Mái chùa thật cao cả, thật tuyệt vời, thật cần thiết với chúng ta với mọi người, với một ai có tâm hồn biết hướng thượng. Hơn thế nữa chùa làm đẹp thêm cho quê hương, làm giàu thêm cho đất nước, giàu đạo đức, giàu văn hóa, giàu đoàn kết, giàu yêu thương chứ không phải giàu lợi, giàu danh, giàu tiền giàu của để rồi từ đó có sự thành kiến đem đến cho nhau đau khổ triền miên. Hình ảnh ngôi chùa là khởi đầu trong mỗi tâm thức, vì thế ngôi chùa đã trở thành biểu tượng sống động của tâm thức con người trong suốt thời gian vô cùng, không gian vô tận.
Ngôi chùa không chỉ là hình ảnh biểu tượng tâm thức tâm linh của người Việt Nam mà còn thể hiện nét văn hóa Việt Nam qua lịch sử. Phong cảnh và kiến trúc mang đậm tính nhân văn sâu sắc, và thật sự đã đi vào hồn dân tộc, con người Việt Nam từ lâu.
Mái chùa che chở hồn dân tộc
Nếp sống muôn đời của tổ tông.
Qua thơ ca, qua những trang sử hào hùng của dân tộc, hình ảnh ngôi chùa và các vị sư trở nên hùng hồn và đã mang sứ mạng lớn lao trong những giai đoạn thăng trầm của đất nước, gánh vác trách nhiệm đưa con thuyền dân tộc vượt qua mọi khó khăn đến bờ vinh quang. Lúc đất nước an bình ngôi chùa là nơi xây dựng nếp sống văn hóa lành mạnh, tạo nên giá trị đạo đức, hình thành phương thức giáo dục con người một cách chuẩn mực; gắn liền môi trường thiên nhiên trong sạch, hướng đến một xã hội thanh bình thịnh thế.
Tinh thần phát triển ngôi chùa.
Tinh thần là của mỗi người, thực hành theo tinh thần chân chính, chánh đạo là không của riêng ai. Phật giáo hướng đến mọi điều thiện, chân lý sống tốt đời đẹp đạo, mục đích tạo lập cuộc sống an lạc thanh bình đem hạnh phúc cho con người và chúng sinh. Vì vậy, trong quá khứ các bậc Quân Vương đến đâu khai làng lập ấp điều nghĩ đến xây chùa, đình, miếu, vũ,… đến đó với mục đích cầu nguyện quốc thái dân an, hướng con người sống có niềm tin chân chính, mang hạnh phúc hòa bình cho tất cả.
Các bậc Quân vương thường nêu cao tinh thần hiếu đạo, lấy điều thiện làm nền tảng, trung hiếu nghĩa tình, nên ngôi chùa là cơ sở, triết thuyết Phật giáo là phương thức để thực thi trong việc an lòng dân. Những ngôi chùa luôn mang sắc thái tâm linh cho con người, từ đó hình ảnh ngôi chùa đã dần dần đi vào nếp sống của mỗi con người, lan rộng ra khắp cả muôn nơi.Chính ngôi chùa là trường dạy đạo đức nên trong ngôi chùa cần phải có những người thầy mô phạm để làm gương cho thế hệ tiếp nối, người thầy đó không ai khác là các vị tu sĩ có phẩm hạnh có đạo đức để tạo niềm tin cho Phật tử nên vị giảng sư trong ngôi chùa cần phải phát huy tinh thần trách nhiệm và tu tập các yếu tố căn bản trước khi hành đạo .
B. Nhiệm vụ và nền tản đạo đức của vị giảng sư:
1. Nhiệm vụ của vGiảng sư:
Cổ đức có dạy: “Trụ Pháp Vương Gia – Trì Như Lai Tạng”,và “Hoằng Pháp vi gia vụ, Lợi sanh vi sự nghiệp” thế nên vị Tu sĩ là người lãnh đạo sứ mạng giữ gìn Chánh pháp của Như Lai và truyền bá Chánh pháp ấy. Đây là một bổn phận vô cùng quan trọng, một nhiệm vụ hết sức khó khăn nhưng cũng thật là cao quý. Việc đem lại nếp sống nhà chùa dung hòa đoàn kết và thấm nhuần giáo lý giải thoát cho mọi tầng lớp là trách nhiệm trọng yếu của vị giảng sư. Song song là đào tạo Tăng chúng để kế thừa mạng mạch Phật pháp cửu trụ thế gian. Phật pháp có hưng thịnh hay không? Phật tử có tín tâm hay không? là nhờ vào sự tu hành đạo đức, đức hạnh và trí tuệ của vị tu sĩ, vì nó quyết định cả vận mệnh truyền thừa và pháp huy giáo pháp của một cơ sở Giáo hội tại địa phươngnói riêng và cả một Giáo đoàn nói chung. Đó là trọng nhiệm, lý tưởng cao đẹp nhất của vị Tu sĩ nói chung, vị giảng sư nói riêng.
2. Những yếu tố cơ bản của vị Giảng sư cần có:
1. Chí nguyện phụng sự:
Người giảng sư phải có chí nguyện hoằng hóa độ sanh, phải có tâm phụng sự, có lòng từ, có đạo đức, có trí tuệ mới nhiếp hóa được chúng sanh. Sẵn sàng dấn thân không cần điều kiện, không từ khó nhọc, kiên nhẫn và bao dung là sức mạnh để hoàn thành sứ mạng của nhà hoằng Pháp. Chính chí nguyện phụng sự mới đền đáp tứ trọng ân, không ngừng hoàn thiện nhân cách đạo đức của nhà hoằng Pháp và phát triển công hạnh tự giác, giác tha. Chư Tổ thường dạy: “Phụng sự chúng sanh là thiết thực cúng dường chư Phật”.
2. Thông hiểu Tam tạng Kinh – Luật – Luận và hành trì giới luật:
Vị giảng sư phải thông hiểu giáo điển, yếu chỉ giáo lý, phương pháp tu tập, đường hướng của Giáo hội để hướng dẫn Phật tử tu học có chánh kiến và thực hành đúng pháp môn tùy theo căn cơ của mỗi người. Vị ấy phải nắm rõ cương yếu giới luật thiền môn, khế lý, khế thời để ứng xử bản thân và giáo dục đệ tử xuất gia cũng như tại gia tu tập đúng chánh pháp.
3. Hành trì Giới – Định – Tuệ:
Vị giảng sư muốn đạt đến quả vị giác ngộ và hóa độ chúng sanh cần chuyên tâm tu tập Giới – Định – Tuệ. Giới giúp cho chúng ta có được tướng giải thoát và tâm giải thoát; Định giúp cho ta có sự an tịnh nội tâm, phát triển nội lực tu hành;Trí tuệ giúp cho ta có chánh kiến, có tri kiến, tuệ tri như pháp, nhìn nhận và hành xử đúng Chánh pháp đem lại lợi ích cho tự thân, cho mọi người. Thực hành Giớiịnh - Tuệ vị giảng sư sẽ tự hoàn thiện mình và là ngọn đuốc để thắp sáng cho đệ tử và Phật tử, đủ năng lực để ứng phó cảm hóa được mọi người, đạo hạnh mới hiện rõ và thể hiện được giá trị thiết thực đối với cuộc sống.
“Hương các loài hoa thơm
Không bay ngược chiều gió
Chi hương người đức hạnh
Ngược gió bay muôn phương”
                                                     (Pháp cú số 54)
4. Hạnh Từ bi – H xả:
Muốn hoàn thành sứ mạng một xứ giả của Như Lai, vị giảng sư phải tu tập Tứ Vô lượng tâm – Từ bi hỷ xả - Nhẫn nhục khoan dung. Luôn luôn có tấm lòng yêu thương và bảo bọc quần chúng, bình đẳng với mọi người, mọi tầng lớp trong xã hội, như thân bằng quyến thuộc, như khúc ruột của mình. Phải ái chúng sinh như mẫu ái tử - Phật thương chúng sinh như Mẹ thương con. Chính nhờ lòng từ bi mà vị ấy đủ điều kiện để hiểu và dắt dìu mọi thành phần trong xã hội đến với Tam bảo, tu học chánh pháp. Hỷ xả là thực hành Vô ngã – Vị tha. Tấm lòng vô ngã vị tha giúp cho vị giảng sư vượt qua mọi chông gai thử thách, lòng nhẫn nại khoan dung, đem lại sự hòa thuận lẫn ân cần, thân thiện với mọi người. Từ bi – Hỷ xả chính là sức mạnh để cảm hóa và nhiếp phục lòng người.
5. Phương tiện Thiện xảo:
Vị giảng sư phải có khả năng khéo léo, uyển chuyển, dùng mọi phương tiện ứng xử linh hoạt để tiếp xúc với từng đối tượng, từng sự việc, từng hoàn cảnh làm đẹp đời, tốt đạo. Hay nói cánh khác là vị ấy có khả năng ứng dụng, sử dụng khế kinh, khế cơ, khế lý, khế thời.
Vị giảng sư phải ý thức được vai trò, sứ mệnh của mình cũng như trách nhiệm đối với đạo với đời với bản thân mình. Tự mình tu dưỡng đạo đức cho mình những yếu tố cần và đủ để trang nghiêm giới đức, đức hạnh,trí tuệ lòng từ bi hỷ xả, đủ khả năng dùng mọi phương tiện để hóa độ mọi người, thì chắc chắn sẽ tạo được niềm tin vững chắc cho Phật tử, cho mọi người hoàn thành sứ mạng sứ giả của Như Lai.
C. Giá trị và ý nghĩa của Ngôi chùa và nếp sống trong chùa:
1. Đời sống văn hóa:
Nếp sống thanh đạm của các vị tu sĩ trong chùa và các Phật tử luôn làm đẹp chốn thiền môn tạo thêm đức tin cho Phật tử. Nhà chùa luôn dạy con người phải sống có đạo đức, có văn hóa, sống khiêm hạ, kính trên nhường dưới, luôn tự mình thắp đuốc lên mà đi đó là tính tự giác, có lỗi thì thành tâm sám hối, tự tâm phát nguyện không trái phạm nữa. Nếp sống văn hóa làm cho con người tự giác n lực trên mọi lĩnh vực trong cuộc sống dần đưa con người ngày một hoàn thiện nhân cách đạo đức và đạt đến chân, thiện, mỹ.
Cảnh chùa là không gian yên tĩnh trầm lắng, cách sống hoan hỷ buông xả, tiềm ẩn khắp nơi trong kiến trúc nhà cửa, cây lá thiên nhiên, nơi hình ảnh các bậc chân tu, rất vi tế và diệu dụng đang vận hành tương tác giữa con người với vạn vật, giữa đạo với đời.
Mọi người thường nói chúng ta “đi chùa” tuy hai từ đơn giản nhưng toát lên nét nhẹ nhàng thanh thoát trong văn hóa tâm linh. Đến chùa bởi vì chùa thường xây dựng trên núi non hoặc đồng quê yên tĩnh, nơi ấy có biết bao công trình kiến trúc trong từng ngôi chùa.
2. Nét đẹp trong lối kiến trúc:
Ngôi chùa là một công trình kiến trúc đầy ý nghĩa văn hóa cho đạo giữa đời thường, khi mỗi ai đó đến chùa cảm nhận được sự linh thiêng huyền bí nhưng lại gần gũi với chính mình.
Phong cách kiến trúc chùa Việt Nam thường có hình chữ “khẩu” rất đặc trưng. Chính giữa là đại hùng bảo điện, hai bên tả hữu là Tăng xá. Ngôi nhà phía Đông biểu tượng Từ bi, ngôi nhà phía Tây biểu tượng cho Cát tường. Kiến trúc ngôi chùa luôn hài hòa với thiên nhiên khi con người đến chùa luôn thấy được kiến trúc đặc sắc riêng của vùng miền.Ví như: chùa Huế thường theo lối kiến trúc của nhà Nguyễn, nhà gỗ 3 gian 2 chái, lối kiến trúc rất Huế và riêng biệt, miền Bắc theo thời cổ xưa của nhà Trần, nhà Lý, thường theo lối nội công ngoại quốc. Ở miền Nam thì theo lịch sử hình thành trong thời Nam tiến của chúa Nguyễn nên ít nhiều có ảnh hưởng lối kiến trúc nhà Nguyễn và kết hợp với lối kiến trúc hiện đại, …
Phong cảnh chùa lúc nào cũng “tĩnh lặng”. Cảnh chùa là yên bình trong cuộc sống bôn ba giữa cõi đời, một kiến trúc đầy nghệ thuật phối hợp hài hòa với nhau trong cuộc sống ở một tôn giáo hòa bình cho nhân loại.
3. Cách sống vui đạo hòa đời:
 Đạo Phật xây dựng trên nền tảng giáo lý duyên khởi và luôn chú trọng luật nhân quả nên tạo cho con người theo đạo Phật có một “nghệ thuật sống” vô cùng linh động, sống chan hòa với vạn vật, với thiên nhiên.
Nghệ thuật sống này là từ ái và buông xả, phi hữu phi vô, phi dị phi đồng, phi ngã, phi phi ngã, vô niệm vô ngôn. Những giây phút như thế đã nói lên sự thanh thoát của một chốn thiền môn là nơi cho bao thế hệ con người dày công xây dựng hướng tâm về đây. Bức tranh là vẻ đẹp cho đời thì ngôi chùa cũng là thanh tịnh mỗi khi ai đến chùa thì sẽ cảm nhận rằng sự lo toan tính toán sẽ tạm dẹp qua một bên, bao nhiêu sự khổ đau phiền não âu lo ở đời tan biến dần đi. Tính duyên khởi với sự sống trong môi trường lành mạnh lúc nào cũng hợp với căn cơ tùy thuận chúng sanh theo đúng chân lý của chư Phật, Tổ đã dạy:
Sống đời vui đạo hãy tùy duyên
Đói đến thì ăn mệt ngủ liền
Trong nhà báu sẵn thôi tìm kiếm
Đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền
Ngôi chùa vốn đã bao hàm bản chất tâm linh và các nghệ thuật: kiến trúc, hội họa, thơ văn cho nên tự thân nó lại trở thành triết lý sống theo chiều hướng phát huy duyên sinh. Chính đó là cái đạo tâm của con người để có được đạo đức cho đời.
4. Giá trị đạo đức:
Đạo đức là nền móng của một xã hội hạnh phúc, nếp sống có đạo đức luôn đem đến sự bình yên trong tâm hồn con người nhất là Phật tử các giới là tấm gương sáng cho đời.
Hình ảnh ngôi chùa còn là triết lý bao dung, từ bi vô hạn. Cửa chùa luôn rộng mở với muôn loài chúng sanh. Như trên có nói ngôi chùa không chỉ thờ Phật mà thờ cha thể hiện tinh thần hiếu đạo của người con Phật, ngôi chùa còn là hình ảnh biểu hiện cái “tùy duyên bất biến” của đạo Phật, là hình ảnh giữ gìn tâm thức linh hồn của dân tộc qua tiến trình thời gian quá khứ, hiện tại, tương lai theo nhận thức của nhân thế.
Mái chùa ở đâu thì nơi đó luôn có đạo đức, quanh ngôi chùa luôn bình yên trong nếp sống hòa nhã. Cách giáo dục của nhà chùa rất tế nhị luôn khuyên con người:
“Chư ác mạc tác,                                             chúng thiện phụng hành
Tự tịnh kỳ ý                                                    Thị chư Phật giáo”
“Không làm các điều ác                                   Thực hành các điều thiện
Giữ tâm ý trong sạch                                       Đó là lời Phật dạy”
5. Môi trường giáo dục cộng đồng:
Ngôi chùa không còn bị hạn hẹp trong không gian nhất định, bởi tinh thần giáo dục mang bản sắc vô ngã. Vì vậy tính giáo dục đạo Phật không phân biệt giai cấp, chủng tộc, màu da mà tùy duyên, tùy theo căn cơ của chúng sanh. Tinh thần giáo dục đạo Phật như mặt trời quang rạng, mặt trời không vì kẻ mắt mù mà không chiếu đến. Nền tảng giáo dục mang tính nhân bản đòi hỏi mỗi người tự nhìn lại đối diện với chính mình. Người xưa nói: “Không ai làm cho ta cao thượng, không ai làm cho ta thấp hèn, chỉ có hành động của ta làm cho ta cao thượng hay thấp hèn mà thôi”.
Hình ảnh ngôi chùa lặng lẽ nằm yên như một tiếng nói không lời là sự giáo dục không bằng ngôn ngữ. Thứ ngôn ngữ “vô ngôn” chỉ tư duy trong tâm thức rồi cảm nhận được sự thanh thoát. Mọi người đều được đến chùa lễ Phật, vãng cảnh chùa hay hành hương đều có an lạc tự tâm. Và thấm nhuần lời Phật dạy, sống an lạc, luôn biết tứ trọng ân: ân quốc gia, ân xã hội, ân thầy tổ, ân cha mẹ,…
Phật giáo luôn dạy hành Phật tử luôn sống biết khiêm hạ, biết vươn lên trong cuộc sống là công dân tốt trong mọi thời đại, mọi xã hội.
6. Tính an bình trong xã hội:
Xã hội luôn cần đến nhiều chùa chiền hơn để cho đạo đức con người càng ngày càng tô bồi tạo dựng nếp sống hòa nhã bằng ánh mắt yêu thương không giận hờn không ghét bỏ một ai.
Những ngôi chùa khắp cả nước luôn là cảnh thanh bình để cho con người hướng đến nơi đây sẽ đem lại sự an lạc ngay hiện tại. Nét đẹp ngôi chùa luôn làm cho con người thanh thản, dứt hết muộn phiền ưu bi, thư thái trong tâm hồn. Ngôi chùa luôn mang đầy tính nhân văn, kiến trúc, hội họa, đạo đức, nghệ thuật, mỹ thuật, xã hội, từ thiện, từ bi, hỹ xã, tâm linh,…hướng đến cho con ngườivà luôn nhắc nhở con người đừng bao giờ quên chính mình.
Trong dân tộc hình ảnh ngôi chùa là quê hương, là điểm tựa tâm linh vững chắc cho con người. Hình ảnh của nhà Sư thể hiện sự bình an thoát tục, thể hiện đời sống tâm linh là nơi quay về của những người biết hướng thượng. Nếu ai đó không phát huy về tinh thần tâm linh thì sẽ mất đi tính Phật và hương ấm vốn có của chính mình.
Phật giáo luôn đồng hành cùng dân tộc. Giáo hội lấy “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội” làm phương châm hành động. Phật giáo việt Nam trong mạch sống dân tộc và dân tộc luôn có tâm linh Phật giáo, nét đẹp của người tu sĩ là biểu tượng của nhà hoằng pháp tạo niềm tin cho Phật tử và tất cả chúng ta./.

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây