TRANG BỊ “THANH MINH – CÔNG NGHỆ SỐ” TRONG KẾT NỐI VỚI ĐỒNG BÀO DÂN TỘC: MỘT GIẢI PHÁP ĐỘT PHÁ

Thứ bảy - 30/11/2019 04:54
TRANG BỊ “THANH MINH – CÔNG NGHỆ SỐ” TRONG KẾT NỐI VỚI ĐỒNG BÀO DÂN TỘC: MỘT GIẢI PHÁP ĐỘT PHÁ
ĐĐ.TS. Thích Đồng Lực
Tóm tắt
Trong Phật giáo, Thanh Minh (Śabdavidyā) là môn khoa học về ngôn ngữ, một công cụ dùng để chuyển tải sức am hiểu Nội Minh (Adhyātmavidyā) đến với mọi người. Lĩnh vực này, trước hết, đòi hỏi sự thành thạo về mặt giỏi ngôn ngữ, văn học. Ở nghĩa rộng, Thanh Minh liên quan đến mọi phương tiện văn tự ngữ ngôn kể cả ngôn ngữ hình thể, phim ảnh, âm nhạc dùng để truyền bá Phật pháp đến người dân. Thế nên, Thanh Minh – công nghệ số (Śabdavidyā-Digital Tech) sẽ là một cuộc cách mạng mang tính toàn bộ, triệt để khai thác trí tuệ nhân tạo thay thế nguồn nhân lực hoằng pháp đang khan hiếm, đặc biệt, ở những vùng sâu xa, miền núi nơi mà đồng bào thiểu số đang sinh sống. Tuy nhiên, mặt trái của xu hướng này là người đồng bào phần nhiều dân trí thấp, nên việc tiếp cận công nghệ 4.0 trở thành một vấn đề đòi hỏi chúng ta cân nhắc kỹ lưỡng để có những bước đi vững chắc khi quyết tâm hoằng pháp tại những địa bàn này. Bài tham luận này đánh giá tính thiết yếu của Thanh Minh, qua đó, đưa ra những giải pháp cần thiết để cân đối giữa Thanh Minh truyền thống và Thanh minh - Công nghệ số nhằm vừa trang bị những phương tiện cần thiết cho đồng bào dân tộc tiếp cận chánh pháp, vừa dìu dắt họ tiếp cận công nghệ khi họ chưa đủ trình độ và chưa có thói quen sử dụng máy móc, công cụ điện tử.

Từ khóa: Ngũ Minh, Thanh Minh, Śabdavidyā, ngôn ngữ, siêu ngôn ngữ, số hóa Thanh Minh, Thanh Minh truyền thống, công nghệ số, đồng bào, dân tộc, App.

DẪN NHẬP
Trong cơn bão 4.0 thì những cá thể yếu đuối về trí tuệ sẽ phải chấp nhận bị mất việc làm và đẩy văng ra ngoài cuộc. Các chuyên gia về cách mạng công nghệ 4.0 thừa nhận chung rằng: chúng ta phải chấp nhận nhiều việc làm bị mất để tạo ra việc làm mới đòi hỏi trình độ cao, tăng năng suất đồng thời giảm sức lao động và tiết kiệm thời gian. Ở tương lai gần, với một Chính phủ số, sẽ thúc đẩy số hóa đa ngành: giao thông, y tế, giáo dục, v.v… thay sức lao động của con người. Tương tự, là một bộ phận trong cơ cấu xã hội, quản lý Giáo hội Phật giáo cũng cần được số hóa để bắt nhịp với các lĩnh vực khác. Ở khâu hoằng pháp, muốn mở mang ánh sáng Phật đà thì nhất định chúng ta phải đi vào vòng xoáy công nghệ. Việc số hóa các dữ liệu Thanh Minh là vô cùng cần thiết. Việc làm này càng trở nên ý nghĩa khi chúng ta có định hướng mở rộng chánh pháp cho đồng bào dân tộc ở nơi xa xôi, trở ngại về địa hình, giao thông và khan hiếm nhân lực. Chúng ta kỳ vọng Thanh Minh công nghệ số sẽ giúp giải quyết những tồn đọng này.
I. Khái niệm Thanh Minh và Thanh Minh Công nghệ số
I.1. Thanh Minh:
Một trong những môn học quan trọng nhất trong Phật giáo là Thanh Minh (Science of Language). Nó liên quan đến việc lưu trữ và truyền tải triết lý Phật học trong ba tạng Kinh - Luật - Luận. Trong tiếng Sanskrit, Thanh Minh được dịch là Śabdavidhyā hay Vyakaranavidhyā, đề cập đến kỹ năng thông thạo về văn tự, ngôn ngữ, truyền đạt chánh pháp, ngữ điệu, phát âm, văn pháp, thẩm mỹ trong văn học, hiệu năng truyền tải, v.v... Là một bộ phận cấu thành 5 lĩnh vực chuyên môn, Ngũ Minh (Pañcavidhyā), theo truyền thống của Ấn Độ cổ đại nói chung.[1] Đối với Phật giáo thì trước đây, Thanh Minh phục vụ chủ yếu trong công tác biên tập, dịch thuật, trước tác kinh luận. Hiện nay, khái niệm này được dùng rộng rãi hơn để chỉ cho tất cả các lĩnh vực có sử dụng mọi phương tiện để chuyển tải Phật pháp, như: Kinh sách, Nghi lễ Phật giáo, Âm nhạc Phật giáo, phim ảnh Phật giáo, v.v… Do vậy, Thanh Minh cần được hiểu đầy đủ theo các nghĩa sau đây:
a) Nghĩa cứng: dịch thuật, biên soạn, diễn giảng
b) Nghĩa mềm dẻo: âm nhạc, phim ảnh, lời ca tiếng hát mang nội dung Phật pháp
c) Nghĩa tâm linh: nghi lễ - ứng phú Tán tụng ngâm vịnh. Ngoài ra còn có sự hỗ trợ của các pháp khí trong buổi lễ: trống, chuông, tang mõ.[2] Theo S. Heine, âm nhạc là phần chính trong các bộ phận cấu thành nghi lễ.[3]
d) Nghĩa tổng quát: sử dụng ngôn ngữ như một công cụ mang lại giá trị tri thức, thuộc về Thánh Ngôn Lượng - một trong 3 loại nguồn của tri thức trong Nhân Minh Học[4]
Tất cả bốn lĩnh vực trên toát lên giá trị của Thanh Minh là một hình thức lưu trữ và truyền đạt chân lý, triết học Phật giáo vào đời sống xã hội. Lời kinh chẳng những được biên soạn in ấn trên trang sách mà còn chuyển hóa thành hình ảnh và âm thanh. Bằng công cụ này, người học có thể thông qua các kênh hoặc nghe hoặc nhìn hoặc đọc để tiếp cận Phật Pháp.
I.2. Thanh Minh – công nghệ số:
Thanh Minh - Công nghệ số hay nói cách khác là số hóa (Digitalize) công cụ Thanh Minh nhằm đáp ứng nhu cầu tiếp cận hiệu quả đối tượng. Thời đại công nghệ số với sự giúp sức của Internet giúp chúng ta có thể tạo ra một mạng lưới lưu trữ dữ liệu kinh điển an toàn và truyền bá nhanh chóng, hiệu quả. Yếu tố trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence) là cốt lõi của quá trình số hóa ngành Thanh Minh. Máy móc sẽ thay thế yếu tố con người ở nhiều mặt. Trước hết, số hóa giúp giảm bớt gánh nặng cho việc chư Tăng phải ghi nhớ cả kho tàng đồ sộ Tam Tạng. Kế đến, việc thuyết giảng Phật pháp không còn mang tính thụ động, hạn chế giới và thời gian nữa. Bất cứ ai, lúc nào và ở đâu cũng có thể tiếp cận Phật pháp thông qua mạng lưới thông tin toàn cầu. Và, cuối cùng là phải kể đến chức năng tạo ra và quản lý hiệu quả nguồn nhân lực số chuyên ngành về Thanh Minh.
Với những lập trình tân tiến, máy móc được trang bị thông minh, linh động chẳng thua kém con người. Cảm biến là một loại công cụ thay thế Thức tri nhận khi tiếp xúc đối tượng sự việc sẽ đưa ra những phản ứng cụ thể. Gần đây, các nước khoa học tiên tiến đã phát minh ra Robot tụng kinh, Robot thuyết pháp, Robot chuyển Đại Hồng Chung, v.v… là những thành tựu tiêu biểu của Thanh Minh – Công nghệ số. Như vậy, khái niệm Thanh Minh - công nghệ số được hiểu là sự số hóa dữ liệu Kinh-Luật-Luận. Đồng thời trang bị máy móc thay thế con người trong việc giữ gìn, truyền bá chánh pháp đảm bảo những tiêu chuẩn của chuyên môn Thanh Minh truyền thống. Tiến thêm bước nữa là tự động hóa các công cụ máy móc đó để đáp ứng nhu cầu hoằng pháp tại những hoàn cảnh đặc thù, chúng ta gọi đó là quá trình chuyển đổi số Thanh Minh (Digital Transformation) trong Phật giáo. Đến nay, nói đến Thanh Minh không hạn cuộc trong chừng mực ngôn ngữ văn học mà kinh điển Phật giáo cần được số hóa ứng dụng công nghệ để thay thế sức người, bao gồm những lĩnh vực sau:
- Dịch kinh điển bằng công nghệ
- Tra cứu, nghiên cứu các ngôn ngữ Phật học bằng công nghệ
- Thuyết pháp công nghệ
- Lễ nghi công nghệ
- Các ứng dụng khác nhằm truyền tải Nội Minh bằng công nghệ
II. Thanh Minh truyền thống thể hiện như thế nào?
Cấu trúc của Thanh Minh bao gồm các yếu tố Danh-Cú-Văn thân (nāma-pada-vyañjana kāya). Ban đầu, Thanh minh chú trọng các vấn đề liên quan ngôn ngữ học như thanh vận, cấu trúc thi văn, biên soạn, viết lách, dịch thuật kinh điển. Tiến thêm một chút nữa là bao hàm cả môn học về kỹ năng trình bày của nhà hoằng pháp trong diễn thuyết. Dần dần, Thanh Minh được khẳng định vai trò bởi các lĩnh vực âm nhạc, lễ nghi. Nhờ thế mà việc hoằng pháp được duy trì, mở rộng giúp con người thưởng thức chánh pháp qua nhiều hình thức khác nhau. Có thể nói sự cải tiến của Thanh Minh đa dạng từ ngôn ngữ văn bản thụ động sang các hình thức sinh động hơn âm nhạc, ca xướng, ngâm vịnh, v.v… là một nội dung quan trọng nhất mang đến thành tựu của ngành hoằng pháp ngày nay. Cho nên, người Nhật Bản định nghĩa thẳng luôn Thanh Minh (Shōmyō) là một loại hình tụng các lời kệ kinh trong văn điển Phật giáo.[5] Vì theo họ, Âm Thanh hóa lời kinh là một phần thiết yếu của Phật giáo nó giúp cho việc tiếp cận Phật pháp dễ dàng, ít khô cứng hơn.[6] Âm thanh liên quan đến các nhóm sau đây:
- Lễ nhạc: được tổ chức trang nghiêm, long trọng mang tính tâm linh đặc sắc. người thực hiện thường là các bậc cao Tăng độ dẫn cả hai cảnh giới Âm – Dương. Trong nghi lễ Phật giáo, ngôn ngữ tâm và sóng âm cũng như tâm thức được sử dụng chính yếu để kết nối năng lượng giữa thế giới trần tục và siêu nhiên, vô hình và hữu hình, Sắc và vô sắc.
- Ca nhạc: Là các bài ca mang nội dung Phật pháp giúp cho người nghe vừa học tu qua lời nhạc vừa giải tỏa những căng thẳng ở đời
- Thiền nhạc: Nhạc tấu không lời được dùng như là một công cụ đánh thức Tâm, nội dung triết lý của Pháp tiềm ẩn trong các nốt nhạc giúp người nghe thư giãn, cởi bỏ mọi buồn phiền.
- Sách nói: Nội dung văn tự của kinh điển in ấn được chuyển sang dạng Audio thuận tiện nghe học mọi lúc mọi nơi.
Một thực tế là không phải ai cũng đủ năng lực ngôn ngữ để đọc nghiên cứu am hiểu tường tận và áp dụng giáo lý. Thế nên, các văn kệ tụng được chuyển thành nhạc giúp người nghe có hứng thú vừa học đạo vừa hóa giải stress. Ngoài chức năng giải trí, giảm stress trong cuộc sống, Thanh Minh, đc biệt là Nghi lễ Phật giáo cũng là một loại hình Y Phương Minh trị các loại Tâm bệnh và Ma bệnh.[7] Việc nhạc hóa các văn kệ thi tụng sẽ bổ ích cho nhiều cá nhân không có thời gian để ngồi đọc tụng hành trì. Do vậy, âm thanh lễ tụng, nhạc hóa là những bộ phận không thể thiếu trong hoằng pháp, đặc biệt đối với xu thế áp lực công việc trong cuộc sống hiện nay. Chúng ta thấy, một nguyên tắc được áp dụng xuyên suốt trong việc chuyển tải chánh pháp là đa dạng hóa phương thức. Nguyên tắc này được chư Phật triệt để áp dụng, như lời thuật trong Phẩm Tựa - kinh Pháp Hoa:
“Diễn nói các kinh điển
Nhiệm mầu bậc thứ nhất
Tiếng của ngài thanh tịnh
Giọng nói ra êm dịu
Dạy bảo các Bồ Tát
Vô số muôn ức người
Tiếng Phạm âm thâm diệu
Mọi người đều ưa nghe
Các Phật ở cõi mình
Mà diễn nói Chánh Pháp
Dùng nhiều món nhân duyên
Cùng vô lượng tỷ dụ
Để soi rõ Phật Pháp
Mà khai ngộ chúng sanh”[8]
Bản kinh này cũng đề cập đến việc hoằng pháp, giảng pháp của đức Phật thông qua 4 hình thức: nói pháp lớn, mưa pháp vũ, thổi pháp loa, đánh pháp cổ, diễn pháp nghĩa. Phẩm Phương Tiện kinh Pháp Hoa cũng nêu rõ tính đa dạng trong việc ứng dụng Thanh Minh đễ phụng sự, bằng phương pháp nào cũng mang âm vang của chánh pháp thanh tịnh, đều góp phần kiến thiết Phật cảnh:
 “Hoặc khiến người trổi nhạc
Đánh trống thổi sừng ốc
Tiêu địch cầm không hầu
Tỳ-bà chụp chả đồng,
Các tiếng hay như thế
Đem cúng dường đức Phật
Hoặc người lòng vui mừng
Ca ngâm khen đức Phật
Nhẫn đến một tiếng nhỏ
Đều đã thành Phật đạo”[9]
Đức Như Lai thuyết pháp không dựa vào một ngôn ngữ mà tùy đối tượng, tùy vùng miền đã dùng những thứ phương ngữ khác nhau. Thậm chí, ngài còn vận dụng cả các loại siêu ngôn ngữ: tiếng Từ Bi, tiếng Hỷ Xả, tiếng Thiền Định, v.v… thuyết pháp cho loài vật. Chính vì thế mà năng lượng trong ngôn ngữ truyền đạt của ngài luôn có sức chuyển hóa vi diệu. Kinh tạng thường dùng văn pháp tỷ dụ để tán thán ngôn ngữ của Phật oai hùng như Sư Tử Rống[10], mạnh mẽ như tiếng Ngưu Vương, êm dịu như tiếng chim Ca-Lăng-Tầng-Già và chim Sāli. Đọc kinh tạng Nguyên Thủy, không khó để bắt gặp bài tán dương về pháp âm của Phật:
“Như âm thanh vi diệu
Của loại chim Sāli
Lời ngài giảng tuôn trào
Tiếng Ngài nghe ngọt lịm
Với giọng địu ái luyến
Êm tai, và mỹ diệu
Chúng lắng tai nghe pháp
Tâm phấn khởi hoan hỷ”[11]
Không thông thạo về Thanh Minh thì cho dù thể nhập triết lý thâm diệu, chúng ta cũng thiêng hướng tự lợi, tự tu, tự ngộ mà khó có thể mang lại các giá trị an lạc cho người khác. Bởi vậy, muốn thực hiện Bố Thí Pháp Ba-la-mật để lợi sanh, người hoằng pháp cần tinh thông và ứng dụng nhuần nhuyễn Thanh Minh, trong khi, yêu cầu đầu tiên đối với một nhà hoằng pháp giỏi phải có kỹ năng ngôn ngữ giỏi. Bồ Tát có tứ vô ngại biện: (1) không bị giới hạn về nghĩa lý; (2) thông suốt về Pháp; (3) ngôn từ rành rẽ rõ ràng; (4) luôn hoan hỷ hứng khởi trong truyền đạt chánh pháp. Bốn kỹ năng này đưa vào khung Thanh Minh sẽ giúp cho việc hoằng pháp đảm bảo các tính chất: chân thành, khế lý – khế cơ, vì từ mẫn, truyền tải thông tin và cả một năng lượng tâm linh giữa người nói và người nghe
III. Tính cần thiết của công nghệ hóa Thanh Minh
Thanh Minh có những giá trị đóng góp to lớn trong việc lưu truyền Phật pháp nhưng các phương pháp truyền thống đã bộ lộ rõ những nhược điểm sau đây:  
- Chậm trễ
- Rườm rà
- Tốn nhiều thời gian để tra cứu
- Đòi hỏi đầu tư nhiều kinh phí, nhân sự và quản lý
- Ít hứng thú
- Đòi hỏi người có trình độ và đam mê mới tiếp cận
- Độ chính xác và khoa học chưa cao
Để khắc phục những điểm đen tồn tại này trong guồng máy hoằng pháp, việc số hóa Thanh Minh là một điều kiện gần như bắt buộc. Trong bối cảnh mà thế giới vươn xa và đi sâu vào công nghệ thì mọi lĩnh vực trong cuộc sống sẽ phải tập làm quen dần với quá trình số hóa nếu không muốn chịu áp lực cạnh tranh. Công tác hoằng pháp, cũng vậy, đòi hỏi chúng ta phải có những giải pháp thích hợp sao cho không bị tụt hậu so với các tôn giáo khác và các nền giáo dục tiên tiến trên thế giới. Nước ta đang tiến hành xây dựng chính phủ số, thì Giáo hội Phật giáo Việt Nam không thể nằm ngoài từ trường đó. Và cuối cùng, một Giáo hội số ra đời là kết quả cần thiết, trong đó có việc công nghệ hóa Thanh Minh
Có thể nói, Thanh Minh số là giai đoạn đỉnh cao của cách mạng Thanh Minh mang tính toàn diện, nhanh chóng, mạnh nhẽ với sức ảnh hưởng rộng và mang lại hiệu quả cao nhất từ trước đến nay. Trong lịch sử phát triển Phật giáo, Thanh Minh đã trải qua nhiều giai đoạn khắc phục và cải cách. Đó là một quá trình lâu dài: (1) Đi từ việc chư Tăng cố gắng ghi nhớ những lời Phật dạy đến tập quán truyền tụng bằng miệng sang kết tập bằng chữ viết; (2) từ ngôn ngữ Pāli và các phương ngữ dễ hiểu sang ngôn ngữ tiếng Phạn với tính sư phạm và khoa học cao; (3) từ việc truyền đạt dân gian đến môi trường giáo dục sư phạm như Nalanda; (4) từ một thể loại văn sang tổng hợp nhiều thể loại trong một bản kinh. Điển hình, công tác dịch thuật có những cải cách liên tục qua từng thời kỳ. Rõ nhất là sự khác biệt giữa các trường phái phiên dịch Đạo An (312/314-385), Cưu Ma La Thập (Kumārajīva/344-413), Huyền Tráng (600/602-664). Như thế, lịch sử dịch thuật kinh điển Phật giáo cho thấy chư Tổ luôn có những đổi mới gọi là Cách mạng Thanh Minh. Những gì vừa liệt kê chứng tỏ rằng Thanh Minh Phật giáo không đứng im một chỗ, không bảo thủ mà luôn có sự thay đổi thích ứng nhu cầu thời đại. Thế thì, Thanh Minh 4.0 là một mắt xích (tất nhiên chưa phải là mắc xích cuối cùng vì khoa học công nghệ vẫn đang không ngừng tiến bộ) trong chuỗi thay đổi đó. Thế thì Thanh Minh 4.0 có ý nghĩa như thế nào?
Khảo sát một chút về dịch vụ giao hàng công nghệ. Trước đây chúng ta mất tầm 15-30 phút để đi mua thức ăn. Bây giờ ngồi ngay tại nhà chỉ cần vào App chọn lựa tha hồ và đợi chốc lát sẽ có ăn. Rõ ràng chúng ta tiết kiệm thời gian, công sức và có nhiều sự lựa chọn hơn. Tính năng của món ăn tinh thần là Chánh pháp cũng vậy. Thanh Minh 4.0 sẽ giải quyết được nhiều vấn đề cho người học Phật Pháp. Họ không cần đến lớp, không đến giảng đường, không đến khóa thuyết pháp mà chỉ cần có App được cài đặt trên máy tính, điện thoại, ipad, v.v… người học cũng có thể tha hồ lựa chọn bài pháp để nghe tại nhà hay nơi đang làm việc. Bớt chi phí đi lại, chi phí tổ chức và quản lý khóa giảng, chi phí, v.v… thực ra, thành quả mà chúng ta gọi là Thanh Minh – công nghệ số không phải quá mới lạ đối với Phật giáo. Về bản chất, Thanh Minh 4.0 là một loại thần thông đã được đức Phật chứng đắc và từng áp dụng. Kinh Phạm Thiên Cầu Thỉnh (Trung Bộ I) mô tả lại trường hợp ngài khởi ý định thuyết pháp trong sự kết nối sống âm giữa nhiều thế giới: “hãy để cho Phạm Thiên, Phạm Chúng, Phạm Thiên quyến thuộc nghe tiếng ta chứ không thấy ta”.[12] Năng lực đó được biểu hiện cho các cảnh giới chứng kiến lúc Ngài chuyển Vô thượng Pháp luân ở Ba-la-nại: “trong Sát-na ấy, trong khoảnh khắc ấy, trong giây phút ấy, tiếng ấy lên đến Phạm Thiên giới. Và mười ngàn thế giới chuyển động, rung động, chuyển động mạnh”.[13] Đây là năng lực đặc biệt, tuyệt đỉnh diệu dụng trong Thanh Minh “chưa từng được ai chuyển vận, Sa-môn, Bà La Môn, chư Thiên, Ma Vương, Phạm Thiên hay bất cứ một ai ở đời”.[14] Một số Thánh đệ tử của Phật cũng làm được đều tương tự. Tôn giả Xá lợi Phất đạt chuẩn mực thông thạo về Thanh Minh, được đức Phật tán thán, có thể giải đáp mọi vấn đề với những văn cú sai khác, phương tiện sai khác, có thể giải nói cả ngày lẫn đêm.[15] Trong khi đó, thầy Tỷ kheo Abhidhu chứng năng lực đứng vững một nơi chỗ ở Phạm Thiên giới nói pháp kệ mà cả nghìn thế giới đều được nghe.[16] Hiện nay chúng ta không thiếu những ứng dụng tin học làm được điều này. Với một chiếc Iphone chứa nhiều App chỉ cần kết nối Internet là từ một nơi xa xôi, Pháp âm sẽ được truyền rộng đi nhiều nơi, nhiều quốc gia, khắp mọi ngõ ngách đời sống nơi mà có thể bắt tín hiệu từ nó. Trong Thanh Minh 4.0, việc truyền tải Phật pháp là không biên giới.  
Ngôn ngữ (Śabda) trong Thanh Minh 4.0 là loại siêu ngôn ngữ (Atiśabda). Không bị chướng ngại bởi vật cản về mặt không gian, đồng thời, không bị hủy mất hay tụt hậu theo dòng thời gian. Nó chẳng khác nào ngôn ngữ trong nhà Thiền dĩ tâm truyền tâm, vượt qua mọi giới hạn về không gian - thời gian, về nhận thức, trình độ, phong tục tập quán, v.v... Thực ra Thiền có ngôn ngữ đặc thù của nó, để truyền đạt Thiền, vị thầy phải dùng một loại siêu ngôn ngữ, mục đích hướng đến là làm thế nào mọi đối tượng đều có thể tiếp nhận nếu đủ căn cơ tương thích khai mở tâm thức. Nó không phụ thuộc vào trình độ ngôn ngữ hay học vấn thế gian. Tức là “Ngôn vô ngôn ngôn” hẳn trước hết là một năng lực sử dụng siêu ngôn ngữ chứ không phải là “không học, không biết, không lắng nghe, không chữ nghĩa, bất lập văn tự” theo kiểu chúng ta thường hiểu lầm. So với ngôn ngữ Thiền truyền thống, ngôn ngữ Thiền trong thời đại 4.0 được số hóa dữ liệu trong các ứng dụng công nghệ thể hiện rõ thế giới Trùng Trùng Duyên Khởi của Kinh Hoa Nghiêm “nhất tức nhất thiết, nhất thiết tức nhất”. Chẳng hạn, cặp phạm trù triết học “Sắc-Không” (Rūpam-Śūnyam) được mô tả rõ nét qua công nghệ số. Tính bất tương ly giữa Sắc và Không kết nối hai thế giới khác biệt hữu hình và vô tướng. Để lắng nghe và tiếp nhận được ngôn ngữ Thiền, hành giả cần năng lực tập trung và năng lực quá chiếu thâm sâu. Và tất nhiên, thành tựu tuệ giác trong Phật pháp không gì qua Thiền. Chúng ta tạm coi trong khoa học năng lực đó được đồng đẳng hóa với khoa học công nghệ. Cũng thế, trong ngôn ngữ Mật Tông, loại siêu ngôn ngữ này được coi là ngôn ngữ huyền bí mang tính tổng trì (Dhāraṇī). Tiêu biểu nhất là từ “Oṁ” nếu hỏi nghĩa gì thì không thể giải thích. Nhưng nếu hỏi về năng lực tác động đến tâm thức và kết nối thế giới thực tại với thế giới siêu nhiên thì rõ ràng nó siêu việt hơn ngôn ngữ bình thường của thế gian.
Ứng dụng các tính năng của siêu ngôn ngữ vào công nghệ số hóa Thanh Minh nó giúp tạo nên một mạng lưới biến ảo không lường về khả năng tích trữ và vận hành dữ liệu kinh điển. Trước đây, với một cuốn tự điển hay phần mềm tự điển thì ta chỉ có thể tra cứu từng chữ, từng câu kinh văn bản gốc tiếng nước ngoài. Còn với Thanh Minh công nghệ số thì đã khác, tự điển không thụ động để con người sử dụng nữa mà nó có thể tự động hóa phiên dịch. Chỉ cần khởi động máy và vài thao tác thì chúng ta có thể dịch được một bản kinh. Nó khác hẳn với cái thời một giờ đồng hồ, chư Tổ chỉ dịch được vài dòng kinh điển. Trong khi đó ứng dụng công nghệ sẽ giúp ta hoàn thiện công việc tương đương trong vòng 5 phút, thậm chí trong vài giây. Ắt hẳn, chúng ta chưa từng nghĩ đến, nhưng có thể một ngày nào đó những phát minh trong tương lai sẽ cho ra đời những Robot mang tên Huyền Tráng, Khuy cơ hay Cưu-ma-la-thập có thể đảm nhận những tính năng sưu tầm, sàn lọc, sắp xếp và phiên dịch Tam Tạng. Công tác thuyết giảng cũng sẽ nhẹ nhàng hơn cho các giảng sư một khi công nghệ số được ứng dụng để tạo ra một hệ sinh thái các bài giảng tự động hỗ trợ chia sẻ nhau. Trí tuệ nhân tạo hoàn toàn thay thế được trí tuệ sinh học của con người trong các công việc như thế. Và tương lai, chúng ta cũng có thể có những Robot giảng pháp mang tên Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang, Quốc sư Phước Huệ, v.v… Rõ ràng, với phương pháp thuyết giảng truyền thống thì dù các đạo tràng quy mô đến đâu cũng sẽ hạn chế số lượng và tầng lớp người dự thính. Trong khi đó, một App thuyết pháp có thể đến tay mọi cá nhân, vượt mọi trở ngại của địa lý và tính kén chọn.
Một ưu điểm khác của Thanh Minh công nghệ là đáp ứng các tính chất của Pháp được thuyết, nếu được lập trình chuẩn sẽ không bóp méo Chánh pháp tùy tiện. Chúng ta biết, Chánh pháp với 5 tính chất: sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, văn nghĩa cụ túc, nói lên phạm hạnh hoàn toàn. Thì, người hoằng pháp cần 4 kỹ năng: Văn cú viên dung, lưu loát, hướng đến đoạn trừ tùy miên.[17] Cần tránh xuyên tạc, thuyết pháp ln xộn, tạp nhạp làm mất tinh túy Phật học. với yêu cầu này, công nghệ có thể sàn lọc những tín hiệu âm thanh ô nhiễm, sai chính pháp để loại trừ. Những âm thanh đó được đề cập trong các kinh Samanamandikā, kinh Sandaka, kinh Cūlasakuludāyi, v.v… rằng bài pháp cần bỏ việc “bàn về vấn đề phù phiếm, bàn về nhà vua, bàn về ăn trộm, bàn về đại thần, bàn về binh, bàn về sợ hãi, bàn về chiến đấu, bàn về đồ ăn, bàn về đồ uống, bàn về y phục, bàn về giường nằm, bàn về vòng hoa, bàn về hương liệu, bàn về bà con, bàn về xe cộ, bàn về làng, bàn về thị trấn, bàn về quốc độ, bàn về phụ nữ, bàn về anh hùng, câu chuyện bên lề đường, câu chuyện tại chỗ lấy nước, câu chuyện về người đã chết, bàn việc tạp nhạp bàn về thế giới, bàn về biển cả, bàn về hiện hữu và không hiện hữu”.[18] Thiết nghĩ, trí tuệ nhân tạo sẽ làm tốt hơn rất nhiều công việc này, mà chúng ta chỉ có việc thao tác nhẹ nhàng để có kết quả.
Như vậy, Giáo hội cần chủ động số hóa dữ liệu Phật giáo là một ứng phó tốt cho cơn bão 4.0. Thanh minh Công nghệ số sẽ tác động trực tiếp đến hiệu quả hoằng pháp nhằm phản kháng lại sự ì ạch, chậm trễ, phức tạp của phương pháp truyền thống. Số hóa Thanh Minh là một quá trình cần thời gian và đi từng bước: 
Bước 1: Cả các dữ liệu kinh điển truyện được thâu ghi bằng các công cụ điện tử
Bước 2: Pháp lý hóa thư viện điện tử, đảm bảo tính bảo mật và bản quyền dữ liệu
Bước 3: Số hóa quản trị nhân sự, gầy dựng hệ sinh thái đội ngũ giảng sư
Bước 4: Triển khai các phần mềm ứng dụng Phật pháp 
IV. Kết nối với đồng bào dân tộc như thế nào? Ưu – nhược điểm?
Nói đến đồng bào dân tộc là chúng ta nghĩ ngay đến những hạn chế của họ về mặt địa lý, trình độ học vấn, bất đồng ngôn ngữ, v.v… cho nên câu hỏi đặt ra là liệu xu hướng số hóa Thanh Minh có được tiếp nhận tích cực? Một số ít người đồng bào đi xuất gia, chỉ biết công quả, chấp lao phục dịch thì công nghệ số có giúp họ đủ năng lực tiếp cận tam tạng kinh điển hay không? Chúng ta có đủ năng lực để chuyển tải tam tạng kinh bằng ngôn ngữ đồng bào dân tộc hay không? Đây là các thử thách trong tương lai đối với lĩnh vực này. Nếu không muốn nói là có thể tạo ra sự đối trọng trình độ gây tác dụng ngược như lơ là, không quan tâm, không tiếp cận. Đó là chưa nói tế nhị về mặt kinh tế đời sống. Bởi những nhóm dân tộc thiểu số vốn không được trang bị kiến thức công nghệ và phương tiện máy móc nên sẽ khó khăn nhất định trong sử dụng. Đồng thời để bỏ ra một số tiền nào đó để tự mua sắm máy móc thì người đồng bào còn nhiều trở ngại.
Để giải quyết để dọn dẹp bớt những rào cản đối với người đồng bào. Trước hết, ở giai đoạn đầu, chúng ta cần kết hợp Thanh Minh truyền thống với Thanh Minh công nghệ. Giải pháp truyền thống còn hiệu quả không? Câu trả lời là còn. Tuy nhiên, các lớp học, rao giảng, từ thiện, v.v… sẽ được giảm dần vì tuy các lớp học và các khóa sinh hoạt như vậy cần thiết nhưng rất khó ở lại lâu dài và sát cánh với đồng bào. Do đó, song song với việc tổ chức khóa học hay khóa tu, chúng ta cần mở lớp đào tạo ứng dụng công nghệ. Thực tế mà nói, trong hoằng pháp, ngôn ngữ là rào cản lớn nhất, đặc biệt đối với đồng bào thiểu số. Bước đầu, làm thế nào để cùng một nguồn ngôn ngữ mà nhiều nhóm đồng bào có thể hiểu nhất quán. Ngặt nỗi, diễn giải nhiều sẽ trở nên mệt mỏi, sách vở nhiều sẽ gây rối ren. Nên bước tiếp theo, việc số hóa Thanh Minh sẽ phát huy được phần nào tính năng len lỏi của nó và tận những vùng sâu vùng xa, ứng thích cho nhiều nhóm tộc người khác nhau. Người đồng bào sẽ chủ động tùy chọn bất kỳ món ăn tinh thần nào từ kho dữ liệu để tìm hiểu. Họ sẽ không bị quá gò bó về chủ đề, đề tài tu học, cũng không bị ép buộc tập trung một đạo tràng vì khó khăn về mặt địa hình. Thế thì, Thanh Minh 4.0 đối với đồng bào dân tộc cần được trang bị như thế nào?
- Đầu tư trang thiết bị
Đời sống vật chất luôn là yếu điểm, thiếu thốn của đồng bào vùng sâu vùng xa. Thế nên máy móc hiện đại là yêu cầu trước tiên chúng ta cần trang bị cho đồng bào dân tộc. Bàn về công tác xã hội ở những khu vực này, chúng ta cần phối hợp các chuyến từ thiện, các phần quà trao tặng nên kèm theo Robot tụng kinh, máy thuyết pháp, máy niệm Phật năng lượng mặt trời, v.v… Trang bị công nghệ cho người đồng bào là một cú huých quan trọng giúp họ biết đến giáo lý và hình ảnh Phật pháp. Trao tặng một chiếc đồng hồ báo giờ bằng tiếng niệm Phật hay điện thoại khi tắt hoặc mở nguồn phát âm: “Mô Phật” hay “A Di Đà Phật” là một việc làm tiêu biểu, ít nhất cho họ biết được danh từ Phật và trở thành nếp sống hàng ngày. Một số vật phẩm công nghệ khác như: Camera cảm biến khi có người đi qua không phát tiếng “ting ting” nữa mà là 2 từ “Mô Phật”, máy niệm Phật năng lượng mặt trời, đèn thờ cảm biến niệm Phật, tụng chú.[19] Đây là những loại thiết bị cần thiết, đơn giản nhất cần cung cấp cho người đồng bào.
- Xây dựng App đặc thù
Cần tiến hành thiết lập App cho các thể loại đặt sách qua mạng, sách nói, files giảng pháp, game Phật pháp, Đồng hồ, v.v… hàng triệu triệu thể loại đa dạng như thế. Đưa hình ảnh Phật kết hợp dữ liệu nói lên ngay sản phẩm công nghệ giúp cho người đồng bào có thói quen ứng dụng Phật pháp thông qua tiếp xúc sinh hoạt hàng ngày.
- Vấn đề ngôn ngữ - dân trí
Đức Phật khuyến cáo chúng ta nên chọn ngôn ngữ nào truyền đạt cho người dân dễ nắm bắt. Giáo hội đã và đang nổ lực phiên dịch Tam tạng kinh bằng tiếng Việt. Tuy nhiên, đối với những nhóm tộc không rành tiếng Việt thì chỉ cần những dữ liệu điện tử niệm Phật, niệm Chú ngắn gọn sẽ hữu ích hơn cho họ. Xét tính chất thì người đồng bào dân tộc có những thói quen rất giống với các thổ dân vùng thảo nguyên như Mông Cổ, Tây Tạng, v.v… họ rất tín ngưỡng về Mật tông. Những tộc người ở Châu Á khát khao khai thác sức mạnh huyền bí của ngôn ngữ hơn là các chức năng khác.[20] Do vậy, các App tụng niệm thần chú, các nghi thức tế lễ sẽ rất thích hợp với họ chứ không phải Niệm phật Tịnh Độ như chúng ta đã làm đối với người Kinh. Thậm chí xét về mặt ngôn ngữ thì họ có thể tiếp cận Phạn ngữ nhanh hơn âm Tiếng Việt. Ví dụ: người Champa có thể hiểu Buddhaṃ Śaraṇaṃ Gacchāmi nhanh hơn “Tự quy y Phật” hay hiểu Evaṃ Mayā Śrutam nhanh hơn “Tôi nghe như thế này”, v.v…
Thực trạng hiện nay, các từ điển Phật học đã được biên soạn phần nào nhưng chưa thể phổ biến rộng rãi. Đồng bào dân tộc lại càng ít cơ hội để tiếp xúc cho nên đối với các thuật từ, thuật ngữ, tên riêng danh hiệu Phật, danh hiệu Bồ Tát, v.v… họ chưa nắm rõ được. Chưa nói đến hạn chế lớn của người đồng bào là tỷ lệ mù chữ cao, giặc dốt còn làm khổ bà con. Trong khi đó, họ luôn loay hoay đi tìm chỗ dựa tâm linh. Chúng ta cần cải tiến thế nào để có được những thông tin gọn, dễ nắm bắt nhất cho người đồng bào qua phương tiện công nghệ. Muốn vậy, nhà hoằng pháp nên tiến hành các bước rút ngắn khoảng cách dân trí, hỗ trợ hướng dẫn học tập ngôn ngữ cho người dân
- Truyền thống văn hóa các dân tộc:
Hiện nay còn thiếu những thước phim Phật giáo về bản làng dân tộc Tây Nguyên. Những quan cảnh tuyệt đẹp và thơ mộng của núi rừng lẽ ra nên tận dụng quay cảnh để làm phim về Phật giáo, trong đó có sự góp mặt của đồng bào dân tộc. Họ sẽ tự thích thú nhận diện quang cảnh gần gũi, sống động mà thực tiễn họ đang trải nghiệm. Bên cạnh đó, sáng tác các bài hát hàm chứ nội dung Phật pháp gắn liền với nếp sống dân gian tùy tập quán, lối sống mà chọn những khía cạnh nhạc hóa phù hợp để truyền tải. Đặc biệt hơn hết, Nghi lễ Phật giáo hoàn toàn thích nghi và phát huy hiệu quả trong việc hoằng pháp cho người đồng bảo thiểu số. Về bản chất, Nghi lễ xướng tụng là một hình thái chuyển đổi triết lý và văn học vào âm nhạc nên rất dễ bắt hiệu ứng từ tập tục văn hóa tín ngưỡng dân gian. Nghiên cứu cho thấy, một trong những mục đích của chuyển lời kinh sang dạng âm thanh là giúp dễ nhớ.[21] Tuy nhiên khi tán tụng hành lễ sẽ tạo nên những dấu ấn về tâm linh rõ nét trong tập quán đời sống của họ.  
Bốn giải pháp vừa nêu phần nào tác động trực tiếp đến việc Cách mạng Thanh Minh thời công nghệ. Làm được các điều đó sẽ phần nào giúp đồng bào dân tộc tiếp cận Chánh Pháp dễ dàng hơn, nhanh chóng hơn, hứng khởi hơn.
LỜI KẾT
Ai cũng thừa nhận là kỷ nguyên công nghệ thông minh tiến đến thế giới phẳng, đạt mức World Class, sẽ xóa bỏ mọi ranh giới, kể cả rào cản về chủng tộc. Người đồng bào cũng sẽ quen dần với việc tiếp cận các tiến bộ của công nghệ 4.0. Thanh Minh số là một phần trong Ngũ Minh thời đại công nghệ, là những kỹ năng thiết yếu cho hạnh Bồ Tát khi dấn thân hoằng pháp, cứu đời. Nó tạo nên bước đột phá, tsức tốc đưa chánh pháp nhanh chóng đến với đồng bào. Chúng ta cần mạnh dạng, quyết liệt đầu tư lớn với mức độ dày hơn nữa để giúp cho người học Phật ở nơi khó khăn được tiện lợi, bớt thủ tục và công sức.
TƯ LIỆU THAM KHẢO
1. Baroni, H. J., The Illustrated Encyclopedia of Zen Buddhism, New York: The Rosen Publishing Group, Inc., 2002
2. Heine, S. (ed.) Dōgen and Sōtō Zen, New York: Oxford University Press, 2015
3. Kinh Trung Bộ I
4. Kinh Trung Bộ II
5. Kinh Tương Ưng
6. Nakamura, H., Ways of Thinking of Eastern People: India, China, Tibet, Japan. Delhi: Motila Banarsidass Publishers Private Limited, 1991
7. Thích Trí Tịnh (dịch), Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Hà nội: Nxb Tôn Giáo, 2009
 

[1] Công Xảo Minh (Śilpakar-masthāna-vidyā); Y Phương Minh (Ciktsā-vidyā); Nhân Minh (Hetu-vidyā); Nội Minh (Adhyātma-vidyā)
[2] Thời nay, chúng ta còn thấy rất nhiều nhạc cụ dân gian được đưa vào sử dụng rất đa dạng như: Piano, Violon, Sáo, Guitar, v.v…
[3] Steven Heine (ed.) Dōgen and Sōtō Zen, New York: Oxford University Press, 2015, p.223
[4] Hiện Lượng (pratyakṣapramāna), Tỷ Lượng (Anumāṇapramāna), Thánh Ngôn Lượng (Śabdapramāna)
[5] Helen J. Baroni, The Illustrated Encyclopedia of Zen Buddhism, New York: The Rosen Publishing Group, Inc., 2002,  p.305
[6] Steven Heine (ed.) Dōgen and Sōtō Zen, New York: Oxford University Press, 2015, p.223
[7] Ibid., p.223
[8]Thích Trí Tịnh (dịch), Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Hà nội: Nxb Tôn Giáo, 2009, tr.28. Tham khảo thêm văn bản gốc chữ Hán: 演說經典 微妙第一 其聲清淨 出柔軟音 教諸菩薩 無數億萬 梵音深妙 令人濼聞 各於世界 講說正法 種種因緣 以無量喻 炤明佛法 開悟衆生.
[9] Sđd., tr.80-81. Tham khảo thêm văn bản gốc chữ Hán: 若使人作樂 擊皷吹角貝 箫笛琴箜篌 琵琶鐃銅鈸 如是衆妙音 盡持以供養 或以歡喜心 歌唄頌佛德 乃至一少音 皆已成佛道.
[10] Kinh Đại Sư Tử Hống, Trung Bộ I: tiếng Sư Tử Hống là tiếng như thật, mạnh mẽ, không sợ hãi, không gian dối ngập ngừng. Về 4 khía cạnh: đã chứng pháp, đã đoạn trừ bất thiện, dứt chướng ngại pháp, giảng pháp đưa đến tịch diệt – hướng thượng.
[11] Kinh Tương Ưng Trưởng Lão Vangīsa, mục Sāriputta
[12] Bài kệ Pháp được nói lúc đó là:
Thấy nguy hiểm trong hữu
Từ hữu, tìm phi hữu
Ta không tôn trọng hữu
Không hỷ không chấp trước”
[13] Kinh Tương Ưng Sự Thật, Phẩm Chuyển Pháp Luân
[14] Kinh Tương Ưng Sự Thật, Phẩm Chuyển Pháp Luân
[15] Kinh Tương Ưng Nhân Duyên, Mục Kalāra
[16] Kinh Tương Ưng Phạm Thiên, Phẩm thứ hai – Mục Arunavāti
[17] Đại Kinh Rừng Sừng Bò, Trung Bộ I
[18] Kinh Trung Bộ II
[19] Hiện nay trên thị trường đã phổ biến một số sản phẩm như máy Shruti chanting repeater 30 in 1, Shruti chanting repeater 36 in 1, v.v…
[20] Hajime Nakamura, Ways of Thinking of Eastern People: India, China, Tibet, Japan. Delhi: Motila Banarsidass Publishers Private Limited, 1991, p.153
[21] Steven Heine (ed.) Dōgen and Sōtō Zen, New York: Oxford University Press, 2015, p.223

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây