THỰC TIỄN LUẬN NHÂN ĐẠO TRẦN NHÂN TÔNG VÀ MỘT SỐ GỢI Ý CHO VIỆC TIẾP NHẬN, HOẰNG TRUYỀN PHẬT PHÁP

Thứ bảy - 30/11/2019 05:09
THỰC TIỄN LUẬN NHÂN ĐẠO TRẦN NHÂN TÔNG VÀ MỘT SỐ GỢI Ý CHO VIỆC TIẾP NHẬN, HOẰNG TRUYỀN PHẬT PHÁP
Ngô Tự Lập[1]- Nguyễn Đức Can[2]

TÓM TẮT: Cốt lõi tư tưởng Việt Nam là sự kết hợp giũa Phương pháp luận thực tiễn và Hệ giá trị nhân đạo, tạo nên Thực tiễn luận nhân đạo [3]mà Trần Nhân Tông là một trong những đại diện xuất sắc nhất, với màu sắc Phật giáo Thiền tông. Bài báo trình bày sơ bộ những biểu hiệu của tư tưởng ấy thông qua quan điểm tu hành, trước tác và hoạt động chính trị của Sơ tổ Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.

Tóm tắt: Trần Nhân Tông, Phật giáo, Tư tưởng Việt Nam, Thiền, Trúc lâm Yên Tử




Nếu cần phải đặt tên cho truyền thống tư tưởng Việt Nam, thì đó là Thực tiễn luận nhân đạo. Thực tiễn luận nhân đạo bao gồm hai bộ phận cấu thành, đó là: 1) Hệ giá trị nhân đạo và 2) Phương pháp luận thực tiễn.
Hệ giá trị nhân đạo là sự kết hợp nhuần nhuyễn các giá trị nhân sinh bản địa và với tư tưởng nhân văn ngoại lai, mới đầu từ Ấn Độ và các nước Á Đông, về sau là Nhân luận[4] phương Tây. Hệ giá trị nhân đạo cho phép giải quyết những mâu thuẫn giữa cá nhân với cộng đồng, truyền thống với hiện tại, dân tộc với quốc tế. Phương pháp luận thực tiễn cũng là sự kết hợp giữa triết lý thực dụng bản địa với các nguồn tư tưởng ngoại lai, mới đầu là minh triết phương Đông, sau là triết học phương Tây. Phương pháp luận thực tiễn là công cụ để thực hiện các mục tiêu do hệ giá trị quy định. Nội dung cơ bản của nó là lấy thực tiễn làm căn cứ để xác định nhiệm vụ, chiến lược, sách lược và đánh giá hoạt động của cá nhân và cộng đồng.
Thực tiễn luận nhân đạo, mà bản chất là minh triết, được thể hiện chủ yếu qua hành động. Nó không coi nhẹ nhưng cũng không tuyệt đối hóa lý luận. Vì thế, nó giúp chúng ta uyển chuyển trong hành động mà không phải từ bỏ mục đích nhân đạo tối cao, thống nhất trong hành động và tư tưởng mà không rơi vào giáo điều.
Thực tiễn luận nhân đạo là truyền thống tư tưởng xuyên suốt toàn bộ lịch sử dân tộc Việt Nam, mặc dù ở mỗi thời đại và ở mỗi nhà tư tưởng, nó có thể có những nét khác nhau.
Thực tiễn luận nhân đạo được hình thành và biến đổi trong một quá trình lâu dài, dưới tác động của nhiều yếu tố tự nhiên và xã hội, và bên cạnh những yếu tố tất yếu có cả những yếu tố ngẫu nhiên. Nguồn gốc và lịch sử của truyền thống này xứng đáng là chủ đề của một công trình lớn và sẽ được chúng tôi trình bày chi tiết trong một dịp khác. Ở đây, chúng tôi chỉ xin nói vắn tắt, rằng trong số các yếu tố ảnh hưởng đến đặc điểm tư duy của một cộng đồng, quan trọng nhất là ngôn ngữ, bởi vì đó là công cụ tư duy, bởi vì chúng ta không thể tư duy mà không có ngôn ngữ. Các thứ tiếng Ấn - Âu có đặc điểm hình thức rất cao, với những ràng buộc logic và hình thức rất gay gắt – dĩ nhiên ở mức độ và sự thể hiện khác nhau ở các ngôn ngữ khác nhau - đối với các thành phần của nó: về giống, số, cách của danh từ; về thời, thể, thức của động từ v.v…, và cùng với chúng là sự phù hợp của số từ, mạo từ, tính từ, đại từ quan hệ... Chẳng hạn, hãy so sánh hai câu đơn giản như trong tiếng Nga:
“Книги, которые я купил вчера очень красивые”
(Những cuốn sách mà tôi mua hôm qua rất đẹp)
và
“Книга, которую она купила вчера очень красивая”
(Cuốn sách mà cô ấy mua hôm qua rất đẹp)
Chúng ta có thể nhận thấy rằng, trước khi nói, người nói đã phải xác định trước đặc điểm và vai trò của từCuốn sáchtrong câu đ xác định giốngực, cái, trung), số (nhiều, ít), và cách (danh cách, đối cách, thuộc cách, tặng cách, công cụ cách, giới từ cách) của nó đ xác định dạng thức của nó. Những thông tin này lại quyết định dạng thức của liên từ (которые, которую) và tính từ (красивые, красивая). Tương tự như vậy, người nói cũng phải xác định các thông tin về chủ ngữ (giống, số) và thời gian đ lựa chọn dạng thức của động từ (купил, купила). Do áp lực của logic và hình thức gay gắt như vậy, hành động nói của người phương Tây luôn luôn đồng nghĩa với việc phát thành âm một mô hình phát ngôn, hay nói đúng hơn là sự thực hiện một kế hoạch phát ngôn được chuẩn bị trước.
Ngược lại, tiếng Việt là một thứ tiếng phân tích. Trong mỗi phát ngôn, các từ đơn lập không biến hình. Chức năng ngữ pháp của mỗi từ phụ thuộc gần như hoàn toàn vào vị trí của nó trong câu và vào tình huống phát ngôn. Người ta luôn luôn có thể bắt đầu một phát ngôn bằng một từ rồi liên tục thêm, gần như không giới hạn, các từ mới vào phát ngôn đó - và mỗi lần thêm như vậy lại làm thay đổi chức năng của các từ đứng trước. Chẳng hạn:
Cô gái đang ăn cơm. (“Đang ăn cơmlà vị ngữ)
Cô gái đang ăn cơm rất đẹp. (“Đang ăn cơm” trở thành bổ ngữ; “rất đẹp” là vị ngữ)
Cô gái đang ăn cơm rất đẹp nhưng có vẻ buồn. (“rất đẹp nhưng có vẻ buồn” là vị ngữ)
Cô gái đang ăn cơm rất đẹp nhưng có vẻ buồn là em họ người bạn cũ của tôi. (“đang ăn cơm rất đẹp nhưng có vẻ buồnlà bổ ngữ)
Những ví dụ như vận có thể kéo dài và cho thấy rằng lối nói của người Việt dựa vào tình huống chứ không tuân theo một kế hoạch định trước, nghĩa là có nhiều tính linh hoạt mà ít tính nguyên tắc. Đặc điểm của tiếng Việt quy định đặc điểm tư duy của người Việt: không thiên về logic, tư biện, mà thiên về hành động, chức năng; không thích kế hoạch, nguyên tắc mà có xu hướng coi trọng thích ứng, uyển chuyển; không duy lý mà duy tình. Đặc điểm tư duy đó, cùng với một số yếu tố tự nhiên và xã hội khác, chính là cội nguồn của Thực tiễn luận trong truyền thống tư tưởng Việt Nam.
Khi đã định hình đến một mức đ nhất định, truyền thống tư tưởng của một dân tộc lại trở thành một bộ lọc, có tác dụng ngăn cản hoặc tạo điều kiện cho việc du nhập những tư tưởng hay yếu tố tư tưởng ngoại lai khác nhau. Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, chúng ta thấy rất rõ tác dụng của bộ lọc trong sự du nhập và phát triển của Phật giáo.
Như chúng ta đều biết, Phật giáo được du nhập vào Việt Nam ngay từ đầu Tây lịch, mới đầu trực tiếp từ Ấn Độ[5], và sau đó, mạnh mẽ hơn, từ Trung Quốc, chủ yếu với ba tông phái: Thiền tông, Tịnh độ tông và Mật tông. Tuy nhiên, Mật tông, tông phái của những thần chú, chưa bao giờ thực sự phổ biến. Còn Tịnh độ tông, mà phép tu chủ yếu là niệm Phật A-di-đà để cầu xin sự tái sinh ở Tây phương Cực lạc, tuy phổ biến nhưng là một tông phái bình dân. Tông phái có ảnh hưởng lớn nhất đối với truyền thống tư tưởng Việt Nam là Thiền tông. Điều đó không phải ngẫu nhiên. Tuy không phủ nhận nội dung của kinh sách, Thiền tông chủ trương chống lại sự sùng kính thái quá đối với kinh sách và các phương pháp tu tập cầu kỳ, hà khắc. Thiền tông  hướng các hành giả tới sự giác ngộ nhờ trực nhận chân lý vạn vật. Nói cách khác, đối với các hành giả Thiền tông, các lý thuyết về giác ngộ chẳng có nghĩa lý gì nhiều so với bản thân sự giác ngộ, với thành tựu thực tiễn của sự giác ngộ. Phương pháp truyền dạy của Thiền tông, vì thế, không phải là dùi mài kinh sách, mà là "Tâm truyền tâm, không dùng văn tự" - cách mà Phật Thích-ca đã sử dụng để truyền giáo pháp cho Ca-diếp.
Thiền tông, như vậy, về bản chất, cực kỳ gần gũi với thực tiễn luận của người Việt. Vì thế, nó được tiếp nhận một cách tự nhiên vào truyền thống tư tưởng Việt Nam. Và, một khi đã hòa nhập, nó lại có vai trò nhân lên những đặc điểm của truyền thống ấy –sự uyển chuyển, xu hướng thích ứng, tính thực dụng và quan điểm đề cao hành động. Sự kết hợp mang lại một kết quả đặc sắc, đó là Thực tiễn luận nhân đạo thiền tông mà Trần Nhân Tông (12581308) không chỉ là sơ tổ mà còn là đại diện xuất sắc nhất.
Thực tiễn luận nhân đạo thiền tông thể hiện rất rõ trong sự quan điểm của Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử mà Trần Nhân Tông trình bày đặc biệt súc tích trong Cư trần lạc đạo:
Cư trần lạc đạo thả tùy duyên
Cơ tắc xan hề khốn tắc miên
Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch
Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.
Quan điểmsống giữa phàm trần mà vui với đạo, thuận theo hoàn cảnh mà làm, tìm giác ngộ chính tâm mình” được Trần Nhân Tông tiếp nhận từ Tuệ Trung Thượng sĩ, người thầy trực tiếp của Ngài, như chính Trần Nhân Tông kể lại:
Trước đây, khi ta chưa xuất gia, gặp lúc cư tang Nguyên Thánh mẫu hậu, nhân đó có đi thỉnh Thượng sĩ. Người trao cho hai bộ ngữ lục của Tuyết Đậu và Dã Hiên. Ta cho người sống quá tục, sinh ngờ vực, bèn làm ra vẻ ngây thơ hỏi: “Chúng sinh quen cái nghiệp uống rượu và ăn thịt, thì làm sao tránh được tội báo”. Thượng sĩ liền giảng giải rằng: ‘Giả thử có một người đứng quay lưng lại, thình lình có nhà vua đi qua phía sau, người kia không biết, hoặc có ném vật gì vào người vua. Người ấy có sợ chăng? Vua có giận chăng? Như vậy phải biết hai việc không liên quan với nhau vậy’. Nói rồi Thượng sĩ đọc hai bài kệ:
 Vô thường các pháp hành
Tâm ngời tội liền sanh
Xưa nay không một vật
Chẳng mống cũng chẳng mầm

Ngày ngày khi đối cảnh
Cảnh cảnh từ tâm ra
Xưa nay không tâm cảnh
Chốn chốn thảy bờ kia
(Trần Nhân Tông, Hành trạng của Tuệ Trung Thượng sĩ)
Và đây là hai bài kệ khác:
Trì giới và nhẫn nhục
Chuốc tội chẳng chuốc phúc.
Muốn biết không tội phúc,
Chẳng trì giới nhẫn nhục.

Như khi người leo cây,
Đang yên tự tìm nguy.
Nhu người không trèo nữa
Trăng gió làm được gì.
                                  (Trần Nhân Tông, Hành trạng của Tuệ Trung Thượng sĩ)
Nhưng sâu xa hơn nữa, quan điểm thực tiễn lại có nguồn gốc trong truyền thống tư tưởng của người Việt, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Chính quan điểm đó giải thích cho sức sống lâu bền của nền văn hóa Việt trải qua vô vàn biến cố trong suốt hàng ngàn năm phải đối mặt với họa xâm lăng và đồng hóa của ngoại bang.
Thực tiễn luận nhân đạo không chỉ được thể hiện trong đường lối tu hành, mà còn, và có lẽ tập trung nhất, trong sự nghiệp chính trị của Trần Nhân Tông, đặc biệt mỗi khi Ngài buộc phải đứng trước sự lựa chọn.
Trước hết là những lựa chọn trong chiến tranh. Là người am tường giới luật của nhà Phật, nhưng trước nguy cơ xâm lược của ngoại bang, ngài đã trực tiếp lãnh đạo không phải một mà hai cuộc chiến tranh vệ quốc. Tương tự như vậy, vì khi đó nước Đại Việt thường xuyên bị quân Ai Lao  quấy nhiễu ở vùng biên giới, năm 1290, đích thân nhà vua đem quân đi đánh dẹp. Trong chiến tranh, không thể không có chém giết. Các làm của Trần Nhân Tông thật độc đáo, vô cùng hiếm hoi không chỉ trong lịch sử Việt Nam, mà cả trong lịch sử thế giới: nhà vua tổ chức “trưng cầu quân ý” (Hội nghị Bình Than) và trưng cầu dân ý (Hội nghị Diên Hồng). Bành cách đó, thuận theo ý quân dân, nhà vua chấp nhận hy sinh mạng sống trăm người để cứu lấy mạng sống muôn người.
Thực tiễn luận nhân đạo cũng thấm nhuần trong hoạt động ngoại giao của Trần Nhân Tông. Trước sự hống hánh của vua quan nhà Nguyên, Trần Nhân Tông luôn luôn đối đáp bằng giọng điệu cung kính, nhưng quan điểm luôn luôn dứt khoát chống lại mọi mưu mô xâm chiếm và nô dịch của chúng. Trong Tờ biểu tháng tư năm Chí Nguyên thứ 25 (1288) là rất đặc trưng cho văn phong của Trần Nhân Tông. Ngài bắt đầu bằng những lời lẽ rất khiêm nhường: “Thế tử nước An Nam là vi thần Trần Nhật Huyên, sợ hãi quên chết phục tội, dâng lời lên hoàng đế bệ hạ được trời cao yêu mến. Lúc này ba xuân sáng đẹp, muôn vật sinh sôi, kính mong thánh thể sinh hoạt vạn phúc”, nhưng sau đó là bản liệt kê tội ác của giặc Nguyên – Mông và lũ bán nước:
Vi thần vào ngày 1 tháng 3 năm Chí Nguyên thứ 26, thấy Lưu thiên sứ, Lý thị lang, lang trung Đồng Đường Ngột Đãi, Cáp Tán, Ống Cát Lạp Đãi đã phụng đem thiên chiếu cùng các tiểu sứ của thần là mấy bọn bề tôi Nguyễn Nghĩa Toàn trở về (…)
(…) đại quân đã lắm lần chinh phạt, giết cướp lại nhiều. Anh em không kẻ hiền lương, dựng chuyện tâu sàm không ít. Trước đây, quốc thúc Di Ái rõ ràng trốn mất ngoài biên cảnh, bèn trở ngược vu cáo thần là đã làm việc chuyên giết. Lại người em giữa Ích Tắc tự đem mình đến trước đại quân xin vái đầu hàng. Ấy là muốn đến trước đ lập công cho mình. Huống nữa là những người đến thay mà tâu bày, thì lại càng thêm ngoa dối. Vi thần thập tử chứ không có một chút sống nào
Và cuối cùng là chính nghĩa và nhân nghĩa Việt Nam:
Năm ngoái, bách tánh của tiểu quốc đem quan quân tới. Vi thần chính mình hỏi han thì chỉ được ba tên là đại vương Tích Lệ Cơ, tham chính Ô Mã Nhi và tham chính Phàn (Tiếp). Bá tính đều cho ba người này đã giết vợ con họ, đốt phá nhà cửa họ, nên phần lớn muốn làm chuyện phi nghĩa. Vi thần chính mình ra sức bảo vệ, cấp dưỡng hậu hĩ, thê thiếp họ thì cơm ăn áo mặc phủ phê, hành trang đi đường thì được chuẩn bị đầy đ đưa đến trước. Đặc biệt sai sứ thần là Tùng nghĩa lang Nguyễn Thịnh đi theo đại vương Tích Lệ Cơ, Đồng Đường Ngột Đãi đến cửa khuyết.
Trong khi đó, hai tham chính bị rớt lại sau. Nguyên do vì đại quân mới rút, lòng sợ hai tham chính chưa hết cơn giận, tất gây họa hại. Vì thế mạn phép lưu lại sau mới ra đi, há có hẹn rày mai. Vi thần chẳng may việc trái với lòng. Phàn tham chính bỗng gặp bệnh sốt. Vi thần đem hết thuốc men của mình nhờ những thầy thuốc bộ hạ của Phàn tham chính để chữa, nhưng đã không khá, dần dần đến chỗ mất thân. Vi thần đã hỏa táng, làm đủ mọi lễ công đức, xong rồi nhân thế, cấp ngựa, lụa giao cho thê thiếp của Phàn tham chính đưa hương cốt trở về. Bọn thiên hộ Mai Thế Anh, Tiết Văn Chính đi theo hộ tống về nhà cùng một lần. Ngày Lưu thiên sứ đến đều bảo đã qua tới Ung Châu rồi. Phàm việc quản đãi hằng ngày ấy có kính trọng hay không thì hỏi đám thê thiếp cũng có thể biết vậy.
Tham chính Ô Mã Nhi thì đúng kỳ tiếp tục đi sau để trở về. Ông ấy cho đường trở về, do đi qua Vạn Kiếp nhân thế xin trước đến Hưng Đạo Vương giúp cho phương tiện đi về. Trong hành trình trên bộ dưới nước, đêm gặp phải hỏa hoạn, thuyền chở vì thế nước tràn vào. Tham chính thân hình cao lớn, khôn hay vớt kịp, đến nỗi chết chìm. Nhân phu tiểu quốc lặn tìm cũng đều chết theo. Thê thiếp và tiểu đồng của tham chính suýt hãm chết, song nhờ thân hình nhẹ nhỏ mới cứu được khỏi. Vi thần hỏa táng, làm đủ công đức. Thiên sứ là lang trung (Lý Tư Diễn) chính mắt trông thấy. Hoặc nếu bất kính, thì có thê thiếp của ông ấy ở đó khó có thể che giấu. Vi thần kính cẩn chuẩn bị đầy đủ cho việc trở về, cũng giao cho thê thiếp cùng với một xá nhân lang trung tiếp tục trở về nước sau.
Ngoài ra, các quân nhân còn bị hãm tại chỗ vi thần trước đây, kể hết có hơn tám ngàn người. Trong số đó hoặc có những vị đầu mục, vi thần đều không biết. Nay nhờ chiếu dụ, vi thần lại đi tìm kiếm, được đầu mục quân nhân bao nhiêu tên, thì cùng theo thiên sứ mà trở về. Sau này còn có sót mất hoặc chưa tìm hết thì vi thần cũng sẽ cho ra về, không dám lưu lại một người nào”.
Truyền thống ngoại giao thực tiễn, vừa mềm mỏng vừa kiên quyết, như vậy chúng ta cũng gặp ở Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh sau này.
Những lựa chọn của Trân Nhân Tông cũng thể hiện quan điểm thực tiễn nhân đạo tương tự trong sự nghiệp kiến thiết đất nước thời bình. Sau khi đánh đuổi ngoại xâm, Trần Nhân Tông không chỉ đưa ra những quyết sách an dân thông thường như giảm tô thuế và tạp dịch, ban thưởng cho người có công, ban hành lệnh đại xá…, mà còn có những quyết định vô cùng hiếm gặp ở những nhà lãnh đạo thời chiến. Chẳng hạn, Ngài ra lệnh đốt tất cả các giấy tờ liên quan đến những người từng phản bội – bằng cách đó ông xóa bỏ những tội lỗi của một số thần dân trong quá khứ, giúp họ hòa nhập vào một tương lai chung của dân tộc. Nhà vua cũng chủ trương dùng tiếng Việt và chữ Nôm – song song với chữ Hán - trong hoạt động của bộ máy hành chính. Không những thế, chính Ngài cũng là một trong những tác giả đầu tiên viết bằng tiếng Việt, với hai kiệt tác là Cư trần lạc đạoĐắc thú lâm tuyền thành đạo ca. Đó là một quan điểm cực kỳ tiến bộ về văn hóa, nhưng cũng cực kỳ thực dụng: Không có thứ ngôn ngữ nào thân thuộc, tiện lợi và dễ rung động lòng người như tiếng mẹ đẻ.
Cuối cùng, xin nhắc đến một ví dụ được rất nhiều học giả cả thời xưa lẫn thời nay bàn luận, đó là việc Trần Nhân Tông đồng ý gả công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm Thành là Chế Mân để đổi lấy châu Ô và châu Lý. Thêm nữa, một năm sau, khi vua Chiêm Thành băng hà, để tránh cho Huyền Trân bị hỏa thiêu theo vua theo phong tục nước Chiêm, có lẽ Thái Thượng Hoàng Trần Nhân Tông đã đồng ý để vua Anh Tông sai Hành khiển Trần Khắc Chung vờ sang viếng tang để cứu công chúa trở về. Theo Đại Việt Sử Ký Toàn thư, dù đa số triều thần nhà Trần phản đối việc này, “Các văn sĩ trong triều ngoài nội nhiều người mượn điển vua nhà Hán đem Chiêu Quân gả cho Hung Nô làm lời thơ bằng quốc ngữ để chê cười”. Ngô Sĩ Liên bình luận về chuyện này như sau: "Ngày xưa Hán Cao Hoàng vì nước Hung Nô thường quấy phá biên giới, mới lấy con gái của dân làm công chúa gả cho Thiền Vu, kết hôn với người không phải giống nòi, các tiên nho đã từng chê. Song có ý muốn nghỉ bình yên dân thì còn có thể nói được. Như Nguyên đế nhân Hồ Hàn đến chầu xin làm rể nhà Hán mà đem Vương Tường gả cho, cũng là có cớ. Còn như Nhân Tôn đem con gái gả cho vua nước Chiêm Thành là nghĩa gì? Nói rằng nhân khi đi chơi mà trót hứa gả, sợ thất tín, thì sao không làm việc đổi mệnh có được không? Vua giữ ngôi trời mà thượng hoàng đã xuất gia rồi, vua đổi mệnh thì có khó gì, mà lại đem gả cho người xa không phải giống nòi cho đúng lời hẹn trước, rồi lại dùng mưu gian trá đánh cướp lại về sau, thế thì tín ở đâu?" (Đại Việt Sử Ký Toàn thư, tr. 567-568)

Thật ra, sự việc này - cũng như nhiều sự kiện khác trong cuộc đời Trần Nhân Tông - sẽ rất dễ hiểu nếu ta nhìn bằng lăng kính thực tiễn luận. Với việc gả công chúa Huyền Trân để đổi lấy hai châu Ô và Lý, Trần Nhân Tông không chỉ đặt lợi ích của dân tộc lên cao nhất, mà còn đề cao hạnh phúc cá nhân, ở đây là ước muốn của Vua Chiêm (và có lẽ cả công chúa Huyền Trân?). Điều đó cũng đúng với sự giải cứu Huyền Trân. Cả hai trường hợp đều cho thấy rằng ở Trần Nhân Tông, thực tiễn luận gắn kết chặt chẽ với chủ nghĩa nhân đạo, những phương pháp của người “cư trần” luôn luôn được định hướng bởi những giá trị cao cả của người “lạc đạo”. Điều đó khiến cho tư tưởng của Trần Nhân Tông vượt lên trên những định kiến của thời đại ông.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO
  1. Ngô Sĩ Liên và NNK, Đại Việt Sử ký toàn thư (in lần thứ hai), NXB. Văn hóa-Thông tin, Hà Nội, 2004.
  2. Nietzsche Friedrich, Kẻ phản Ki-tô, Hà Vũ Trọng dịch, NXB. Tri Thức, Hà Nội, 2011.
  3. Phan Ngọc, Bản sắc văn hóa Việt Nam, NXB. Văn hóa-Thông tin, Hà Nội, 2004.
  4. Trần Ngọc Thêm, Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam (in lần thứ hai), NXB. Thành phố Hồ Chí Minh, 1992.
  5. Lê Mạnh Thát, Toàn tập Trần Nhân Tông, NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 2006.
  6. Nguyễn Đăng Thục, Lịch sử tư tưởng Việt Nam (7 tập), NXB. Thành phố Hồ Chí Minh, 1992.
  7. Thích Thanh Từ, Hai quãng đời của sơ tổ Trúc Lâm, NXB. Tôn Giáo, 2009.
  8. Trần Quốc Vượng, Văn hóa Việt Nam, tìm tòi và suy ngẫm, NXB Văn học, Hà Nội, 2001.
 
 

[1] Viện Quốc tế Pháp ngữ, ĐHQG Hà Nội
 
[2] Giảng viên – Đại học Quốc gia Hà Nội
 
Từ Humanisme (Pháp) hay Humanism (Anh) thường được dịch là “Chủ nghĩa nhân đạo” hay “Chủ nghĩa Nhân văn”, nhưng đúng ra, cần phải dịch là “Nhân luận” – tức lý luận lấy con người làm trung tâm, đối lập với “Thần luận” (Theism). 
[5] Như chúng ta được biết qua truyện Chử Đồng Tử.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây