NIỀM TIN LÀ TÀI SẢN TỐI THƯỢNG

Thứ bảy - 30/11/2019 05:17
NIỀM TIN LÀ TÀI SẢN TỐI THƯỢNG[1]
                                                                       Ni sư Hương Nhũ – giảng viên học viện Phật giáo Việt Nam tại TP. HCM.
  1. Dẫn nhập
Tịnh tín Tam bảo là nhân tố quan trọng cần phải thành tựu để làm nền tảng cho sự tu tập trong nhà Phật vì lòng tin chơn chánh sẽ biểu hiện qua sự tôn trọng và thực hành các chuẩn mực đạo đức, góp phn làm cho thiền môn hưng thạnh, Phật pháp trường tồn. Niềm tin của những người con Phật luôn song hành với sự hiểu biết. Muốn tin sâu, tin chắc phải hiểu rõ giáo pháp.
Một lần Dạ Xoa Alavakka đã hỏi đức Phật: “Cái gì là tài sản tối thượng? cái gì khéo hành trì, đem lại chơn an lạc? Cái gì giữa các vị là vị ngọt tối thượng? Phải sống như thế nào được gọi sống tối thượng?Đức Thế Tôn đáp:Này Hiền giả, Lòng tin đối với người là tài sản tối thượng. Chánh pháp khéo hành trì đem lại chơn an lạc, vị ngọt của chơn lý là vị ngọt tối thượng. Phải sống với trí tuệ, được gọi sống tối thượng.[2]
    Vì sao niềm tin lại quá quan trọng đến độ Đức Phật ví như một “tài sải tối thượng” trong cuộc đời?   Vì niềm tin chân chánh sẽ đưa đến sự thuần thục thực hành lời dạy của đức Phật để “tịnh thân khẩu ý trừ tam nghiệp”, tạo thành năng lượng xua tan bóng tối vô minh, dập tắt tham ái và đoạn tận khổ đau. Một người có lòng tin sẽ thể hiện qua ba phẩm hạnh cao đẹp. Đó là: “Biết kính quý người có giới hạnh, ưa thích nghe diệu pháp, thích bố thí với tâm ly cấu uế xan tham”[3]. Nhờ đó mà các hàng Phật tử quy hướng về Tam bảo, siêng tu thiện nghiệp, tập sống vô ngã vị tha, an vui, giải thoát.
    Thế nào là niềm tin chân chính? “Chánh tín là niềm tin chân chính, chính xác, là sự tin hiểu chính thống, là sự tin tưởng và hành trì, nương tựa đúng đắn. Nội dung của chánh tín phải bao gồm ba điều kiện chủ yếu: Thứ nhất là phải có tính vĩnh cửu. Thứ hai là phải có tính phổ biến. Thứ ba là phải có tính tất nhiên. Nói cách khác, tức là, quá khứ trước đây là như vậy, thì hiện tại ở đâu cũng là như vậy và tương lai cũng sẽ là như vậy. Niềm tin vào một đạo lý hay một sự việc gì mà không kham được sự thử thách của ba điều kiện cơ bản nói trên thì không phải là chánh tín, mà là mê tín. Giáo lý của một tôn giáo mà không chịu đựng nổi sự khảo nghiệm của thời đại, của hoàn cảnh, không dẫn tới một cảnh giới mới và tốt đẹp, thì đó là mê tín, không phải chánh tín”[4].
Trong pháp thoại Chánh tín trong đạo Phật Hòa thượng trưởng lão Thích Trí Quảng đã dạy: “Phải xây dựng cho mình có chánh tín, đòi hỏi chúng ta có trí tuệ để nhận thức đúng. Phật dạy muốn tin điều gì, phải suy nghĩ xem điều đó có đúng hay không và nếu thấy đúng thì phải thực tập để xem có mang lại kết quả như chúng ta suy nghĩ hay không. Thấy đúng bằng việc làm mới đem điều đó dạy. Vì vậy, Phật dạy chúng ta học giáo lý, thực hành giáo lý và chứng ngộ giáo lý rồi mới truyền bá[5]
Yếu tố niềm tin quan trọng như vậy nên xây dựng niềm tin trong lòng người Phật tử là sứ mệnh chánh yếu của người sứ giả Như Lai. Đặc biệt là giai đoạn hiện nay, trong bối cảnh khủng hoảng về niềm tin, hoài nghi các giá trị đạo đức, hoài nghi lời Phật dạy, chỉ biết sống thực dụng thậm chí tán tận lương tâm, thì niềm tịnh tín đối với Tam bảo lại càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.
  1. Các yếu tố góp phần xây dựng niềm tin vững chắc trong lòng người Phật tử
I. Về phía giảng sư
    1.    Bản lĩnh hoằng pháp: Trong kinh Tăng Chi Bộ, đức Phật dạy A Nan như sau: “Này Ananda, thật không dễ gì thuyết pháp cho người khác, này Ananda, sau khi nội tâm an trú được năm pháp, mới nên thuyết pháp cho người khác. Thế nào là năm? Thuyết pháp theo tuần tự, thuyết pháp qua phương tiện pháp môn, thuyết pháp với lòng từ mẫn, thuyết pháp không phải vì tài vật, thuyết pháp không làm thương tổn cho mình và người. Này Ananda, khi thuyết pháp cho người khác cần phải suy nghĩ như vậy.”[6]
1.2.      Khế lý – Khế cơ: Khế lý nghĩa là phải phù hợp với tam pháp ấn, khế hợp với lời Phật dạy. Khế cơ thì đòi hỏi người giảng sư cần quán sát căn cơ trình độ mà giảng, sao cho phù hợp với hoàn cảnh, với tâm lý, với từng trường hợp cụ thể của những đối tượng nghe pháp. Nhằm vì lợi ích chúng sinh, người thuyết pháp dùng phương tiện khéo trong việc sử dụng ngôn từ sao cho tránh làm tổn hại hoặc gây hoang mang cho người nghe và tổn hại cho chính pháp sư. Do vậy, giáo án thuyết pháp và các phương tiện thích hợp cho thính chúng tùy theo phong tục, địa phương, trình độ và căn cơ chúng sinh là điều kiện tiên quyết đưa đến sự thành công trong xây dựng niềm tin trong các đối tượng Phật tử khác nhau. Muốn thuyết pháp một nơi nào, trước tiên phải chịu khó tìm hiểu về nơi ấy, đối tượng ấy (như thời xưa đức Phật quán nhân duyên vậy!)
    Trong tác phẩm Trái tim của Bụt, Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã viết: “Khi đứng ra thuyết pháp cho một nhóm người, ta phải quán chiếu xem họ là những người nào, bối cảnh văn hóa và tôn giáo của họ như thế nào, họ mang những khổ đau nào, những vướng mắc nào, lúc đó ta mới nói về giáo lý cho họ được. Còn nếu đến với một thính chúng mà không có ý niệm gì về họ, thì ta không nên nói pháp, vì ta không có thể quán cơ, không hiểu được căn cơ của người nghe. Một pháp sư giỏi là một pháp sư biết quán cơ. Không phải mình có một mớ kiến thức Phật học rồi mình cứ thao thao bất tuyệt, người ta tiếp nhận được hay không cũng mặc. Đó là không biết khế cơ, mà lại thiếu cả từ bi. Động cơ thuyết pháp như thế không phải là lòng từ bi”[7].
        1.3 Tâm niệm xả bỏ tự ngã để thuyết pháp. Trong các kinh điển Đại thừa, xả bỏ tự ngã thuyết pháp là điều mà Thế Tôn ân cần nhắc nhở cho những pháp sư nhất là trong thời mạt pháp phước mỏng nghiệp dày nhằm tránh tăng thượng mạn khi thuyết pháp. Pháp hội Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ trong Đại Bảo Tích Kinh là một ví dụ điển hình. Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ tiến lên bạch Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Vừa rồi con tuyên nói bí yếu của đức Như Lai phải chăng không sai trái hủy báng đức Như Lai. Bí yếu của đức Như Lai là huyền diệu, rộng lớn không ngằn mé, thế gian khó tin được. Dầu nói bí yếu của đức Như Lai mà tâm con tự nhớ là trí huệ của đức Như Lai nhập trong thân con, chớ chẳng phải sức của con” Đức Phật phán: “Đúng như vậy. Như lời của Mật Tích đã nói. Đạo huệ của đức Như Lai nhập vào chỗ nào thì không ai là không được an ổn. Hàng đệ tử Phật ban tuyên kinh điển, đều nương nhờ oai thần của đức Như Lai”[8]. Có thể thấy rõ, khi vị giảng sư hết lòng thương và vì lợi ích chúng sanh mà thuyết chánh pháp thì sẽ được chư Phật, chư Bồ Tát âm thầm gia hộ để cho người thuyết pháp thêm năng lượng và sự sáng suốt trong việc tìm đọc Kinh điển, soạn thảo giáo án, tìm hiểu đối tượng thuyết pháp, biết cách sử dụng ngôn từ thích hợp… nhằm mang đến năng lượng an lành, mát mẻ thanh lương, công đức và trí tuệ cho người được nghe pháp.
1.4 Không chê bai, bài xích các phương tiện pháp môn khác vì tuy đa phương tiện và pháp môn nhưng giáo lý của nhà Phật mang tính nhất quán
      Phật giáo là một tôn giáo khoan dung. Đức Phật không chủ trương chê bai bài xích tôn giáo khác, học thuyết khác, huống chi là đối với những người con Phật với nhau thì càng phải sống hòa hợp như nước hòa với sữa. Không nên có tình trạng chê bai bài xích lẫn nhau. Trong kinh Trung A-hàm, chép như sau: một người nguyên trước đây cúng dường ngoại đạo Ni-kiền tử, sau khi được Phật giáo hoá, ông ta có ý không cho phép những người thầy ngoại đạo cũ của mình vào nhà và không cúng dường các vị nữa. Đức Phật biết được điều đó, ngài khuyến khích vị cư sĩ này tiếp tục cúng dường như trước, và giảng giải rằng: “Này cư sĩ! Ta không nói như vầy: Nên cúng dường ta, chớ cúng dường người khác, nên cúng dường đệ tử ta, không nên cúng dường đệ tử người khác. Này cư sĩ! Tuỳ tâm hoan hỷ cúng dường tất cả mọi người. Này cư sĩ! Các vị Ni-kiền tử ấy, gia đình các vị từng cung kính lâu nay, nếu họ đến hãy cúng dường tuỳ theo khả năng của các vị”[9].
Không chỉ đến vùng của tôn giáo khác, mà đối tượng nghe pháp của chúng ta trong một hội chúng có thể có nhiều thành phần khác nhau…(điển hình là việc giảng dạy trong khoa đào tạo từ xa của học viện Phật giáo Việt Nam: Có quan chức, doanh nhân, công nhân viên, sinh viên, học sinh, người khác đạo như Ky tô giáo, đạo Cao đài, Hòa hảo và rất nhiều người không tôn giáo, hay đến nói chuyện với công nhân viên chức nhà máy giấy Sài gòn thì đối tượng có 90% là tín hữu Ky Tô giáo từ giám đốc cho đến CNV…)
    Về các phương tiện pháp môn thì chúng ta thường nghe 84000 pháp môn, nhưng Phật pháp chỉ là một vị thuần nhất là vị giải thoát mà thôi! Vì là Phương tiện nên ta không bám víu vào pháp môn và quả vị tu chứng. Phương tiện là trí tuệ thấy rõ tính không của các pháp và sống bằng một tinh thần không thủ chấp; Giáo pháp chỉ là một phương tiện, và nếu người sử dụng phương tiện đó với mục đích giải thoát khổ đau, thì người đó được xem là có trí tuệ. Lời của Hòa thượng Minh Châu qua bài Kinh Ví dụ Con rắn nhắc nhở ngành hoằng pháp của chúng ta:  Người học giáo pháp chỉ vì “muốn chỉ trích người khác” hay chỉ vì “muốn khoái khẩu biện luận”, thì người đó đang nắm giữ giáo pháp sai lạc, được xem là không thiện xảo và trí tuệ trong việc học Phật[10].
    Thời đức Phật còn tại thế, do đối tượng thuyết pháp không giống nhau cho nên nội dung và cảnh giới thuyết pháp cũng khác nhau, từ đó mà đưa đến Kinh điển khác nhau. Đối với những người có trình độ sơ cơ, Phật chỉ giảng đạo lý làm người, dạy năm giới, mười điều thiện gọi là nhân thiên thừa. Đối với nhưng người nhàm chán thế gian, Phật giảng phương pháp thoát ly sinh tử, gọi là Thanh văn tiểu thừa. Đối với những người có trình độ cao, có tâm nguyện nhân độ thế, thì Phật giảng giáo lý Đại thừa Bồ tát. Những bài pháp ở các cung cõi khác nhau thì mang nội dung và phương pháp giáo hóa khác nhau.
    Kinh Pháp Hoa thể hiện một sự dung hoà tông phái, mong muốn đưa tất cả các pháp môn và các “thừa” về một nguồn. Thanh Văn thừa, Duyên Giác thừa và Bồ-tát thừa chỉ là những phương tiện đưa đến Phật thừa; và do đó không có gì chống trái nhau mà chỉ là những phương tiện tạm thời trên con đường tiến về bảo sở. Đức Phật dạy trong Kinh Pháp Hoa: “Xá-lợi-phất, chư Phật trong quá khứ sử dụng vô số phương tiện thiện xảo, những nguyên tắc và các điều kiện khác nhau, cùng những ngôn từ so sánh và minh họa để giảng giải giáo pháp vì lợi ích của chúng sanh. Tất cả những giáo pháp này vì một Phật thừa duy nhất. Tất cả chúng sanh, qua việc lắng nghe giáo pháp của chư Phật, cuối cùng có thể đạt được nhất thiết chủng trí.”[11] Có những giáo pháp chỉ như “những thành quách được hoá hiện” cho chúng sanh tạm ngơi nghỉ, để sau đó tiếp tục hành trình tìm đến quả vị Phật mà nó vốn không phải là con đường dễ dàng. Giáo pháp là nhiều loại “dược thảo”, có thể chữa lành nhiều loại bệnh khổ của chúng sanh.
Kinh Duy Ma Cật có đoạn viết: “Có cõi Phật lấy ánh quang minh của Phật làm Phật sự. Có cõi lấy chư Bồ tát làm Phật sự. Có cõi lấy hóa nhân làm Phật sự. Có cõi lấy cây bồ-đề làm Phật sự. Có cõi lấy y phục, ngọa cụ của Phật làm Phật sự. Có cõi lấy cơm làm Phật sự. Có cõi lấy hoa viên, đền các làm Phật sự. Có cõi lấy ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp của Phật làm Phật sự. Có cõi lấy thân Phật làm Phật sự. Có cõi lấy hư không làm Phật sự; chúng sinh nhờ các duyên này mà có thể nhập luật hạnh…”[12]
Do vậy, một đức tính quan trọng của giảng sư không nên chống trái, chê bai, bài xích các phương tiện và pháp môn tu tập của người khác, hệ phái khác, vùng miền khác... mà cùng phát huy những ưu điểm khắc phục những nhược điểm bằng những phương tiện thiện xảo để xây dựng niềm tịnh tín trong các hàng Phật tử.
  1. Người Phật tử cần làm gì để xây dựng niềm tịnh tín với Tam Bảo
                     I.1 Nghe pháp và thực hành giáo pháp
Kinh Tăng Chi Bộ đức Phật dạy: Nghe pháp được năm điều lợi ích: “Được nghe điều chưa nghe, làm cho trong sạch điều đã được nghe, đoạn trừ nghi, làm cho tri kiến chánh trực, làm cho tâm tịnh tín”[13]. Trên thế gian này, nghe pháp là một trong những phương tiện căn bản, dễ thực hiện và nhiều ưu điểm nhất. Phật pháp chính là giáo lý uyên áo, cao thượng và giải thoát được thuyết giảng từ bậc đại giác, từ biển lớn trí tuệ và từ bi của đức Phật Thích Ca Mâu Ni - bậc Vô Thượng Đẳng Chánh Giác Bậc trí tuệ, nhân từ, thanh tịnh, giác ngộ và bình an. Với mục đích hoằng dương Chánh Pháp, Đức Phật đã dạy các đệ tử của Ngài hãy tiếp tục ra đi, vì lợi ích cho số đông, vì hạnh phúc cho số đông, vì lòng bi mẫn đối với đời, vì lợi ích, an lạc và hạnh phúc của Chư Thiên và loài người. “Nầy các Tỳ kheo, hãy đem lại sự tốt đẹp, hoằng pháp lợi ích cho nhiều người, hãy hoằng dương Chánh Pháp toàn hảo ở đoạn đầu, đoạn giữa và đoạn cuối, toàn hảo cả trong tinh thần và văn tự, hãy công bố đời sống thiêng liêng, cao thượng và toàn thiện” (Kinh Mahàvagga - Sanyatta – Nikaya). Kho tàng Giáo lý mà đức Phật để lại cho nhân gian ví như ngọn đèn trong đêm tối, như la bàn cho người đi biển, các vị đều thiện, thuần nhất thanh tịnh, phạm hạnh thanh bạch, diễn nói chánh pháp vi diệu. lành thay, nên gặp! Lành thay nên đi đến! Lành thay nên cung kính thừa sự” 
Do vậy, trong hành trình học Phật và tìm cầu chân lý, muốn có chánh kiến thì ngoài sự tư duy, học kinh luật luận, thì phải nghe nhiều pháp thoại vì pháp thoại chính là những lời đức Phật dạy được quý thầy truyền đạt bằng nhiều phương tiện và pháp môn khác nhau để đi cuối cùng là đưa đến sự giác ngộ và giải thoát. Ngay từ thời đức Phật còn tại thế, Kinh Phật dưới dạng văn bản chưa hình thành. Nghe Đức Phật hay chư Tăng thuyết pháp là những phương tiện tối ưu để học giáo lý.
Trong Ðạo Phật có ba loại trí tuệ: văn tuệ, tư tuệ, tu tuệ. Văn Tuệ: Trí tuệ hiểu biết bằng cách tích lũy kiến giải trong kinh sách, hoặc nghe thuyết giảng từ lời dạy của chư Phật, các bậc đạo sư hay các vị giảng sư. Tư tuệ: Trí tuệ do suy tư, triển khai sự hiểu biết của riêng mình, còn gọi là trí thông minh. Tu tuệ: Trí tuệ do tu tập thiền định trên cơ sở giới và định mà phát sinh tuệ giác.
Chính văn tuệ là nền tảng đầu tiên làm cơ sở cho tư tuệ và tu tuệ. Nghe pháp để có chánh kiến đưa đến sự thực hành đúng đắn là nhiệm vụ căn bản của người con Phật. Người Phật tử muốn thiết lập chánh tín phải được học, được nghe giáo pháp nhằm khai mở trí tuệ, hoàn thiện bản thân và không bị sai lạc vào mê tín dị đoan. Nghe pháp là phương tiện thù thắng nhất vì có tính chất trực quan, sinh động giữa người giảng và người nghe, có thể thảo luận trực tiếp nhằm phá tan tà kiến, nghi hoặc đưa sự thấu hiểu và thông suốt giáo pháp của Đức Phật.
1.2 Thực hành giáo pháp của đức Thế Tôn với niềm tin vào hải đảo tự thân
   Người Phật tử tại gia cần xác định rõ tất cả các pháp môn của nhà Phật đều quay về hải đảo tự thân. Nền tảng căn bản của giáo pháp đều dựa vào chính mình.  Biết được căn bệnh của con người vốn ưa vọng ngoại và chạy trốn chính mình nên đức Phật đã dạy: “Hãy là hải đảo của chính mình, là nơi nương tựa cho chính mình”. Bởi vì nếu bao giờ ta chưa có khả năng sống với chính mình được thì ta sẽ không thể nào có được nguồn an lạc chân thật cả.
Đối với những người mới bước đầu học Phật, họ bắt gặp những lời dạy của Phật, những nội dung trong kinh điển có vẻ như mâu thuẫn, trái ngược nhau, khiến cho họ hoang mang, không biết nên nhận định những vấn đề đó như thế nào, khiến học hoài nghi. Sự hoài nghi, hoang mang ấy, nếu không sớm được giải tỏa thì sẽ làm cho họ lung lay niềm tin đối với lời dạy của đức Phật, nghi ngờ cả tăng đoàn Phật giáo. Thật ra, tất cả Kinh Luật Luận đều mang tính nhất quán mà người giảng sư có trách nhiệm làm rõ tính nhất quán ấy. Trong Kinh Tăng Chi Bộ, đức Phật khẳng định rằng: “Ví như nước biển chỉ có một vị là vị mặn, cũng vậy, này Pahàrada, Pháp và Luật của Ta chỉ có một vị là vị giải thoát”[14]. Quả thật, đời sống này mỗi người một vẻ. Có khi pháp tu này không thích hợp với ta, nhưng lại giúp nhiều người tu thành tựu. Rõ ràng là không phải ở pháp môn tu mà là ở chính con người của mình. Cho nên, trở lại lời Phật dạy trong kinh Kalama[15]: Không phải mình bỏ thời giờ sàng lọc pháp môn, mà chính là tìm hiểu chính mình, rồi mới chọn pháp môn thích hợp với con người mình! Có như vậy thì việc tu tập mới mong có tiến bộ.
Thuở Đức Phật còn tại thế, ở n Độ có rất nhiều tôn giáo, nhiều triết phái, học thuyết. Ai cũng cho rằng của mình là chân lí và bài bác, đả kích các tôn giáo, triết phái và học thuyết khác là sai lầm. Những người Kalamas ở thị trấn Kesaputta đâm ra hoang mang không biết đâu là phải, trái, đúng, sai. Họ đem sự hoài nghi, phân vân đó nói với Đức Phật, khi Ngài đến Kesaputta. Đức Phật không bắt đầu từ chủ thuyết của mình, cũng không phê phán chủ thuyết của người khác. Thái độ của đức Phật khác hẳn với thái độ của mọi giáo chủ và luận sư mà người Kalamas thường gặp. Đức Phật đã khen người Kalamas hoài nghi và phân vân như vậy là đúng và đức Phật giải thích rằng lòng tin chân chính không nên dựa trên 10 căn cứ sai lầm sau đây: Thần Khải (revelation); truyền thống; người tu, hay người thân; Kinh sách hay Thánh điển; lý luận suông hay siêu hình; những dữ kiện không phản ánh được vấn đề; dựa vào một quan điểm nào đó như một tiêu chuẩn; dựa vào quan điểm, thành kiến riêng của chính mình; dựa vào bậc đạo sư hay quyền uy làm chỗ tin cậy hay nương tựa.
Sau khi đã giới thiệu 10 căn cứ không đáng tin cậy của niềm tin chân chính, đức Phật Thích Ca khuyến cáo những người Kalamas hãy nên tự biết mình, tự mình thấy, chứ không nên dựa vào quyền uy nào khác. Những điều gì là ác, là thiện, phải hay trái, đều phải thông qua sự kiểm nghiệm của tự thân mình mới thấy rõ: nếu thực hiện những điều gì mà đem lại đau khổ, bất hạnh lâu dài cho mình và cho người khác thì đó là điều bất thiện, sai trái cần phải gạt bỏ đi; ngược lại, nếu thực hiện những điều gì đem lại hạnh phúc và an lạc lâu dài cho mình và cho những người khác, thì đó là những điều thiện, đúng đắn, cần phải duy trì và phát huy. Đức Phật khuyên tất cả các hàng đệ tử đã dứt bỏ được tham, sân, si hãy phát triển bốn đức tính vô lượng từ, bi, hỉ, xả gọi là bốn vô lượng tâm , nhờ đó sẽ được an lạc và hạnh phúc, ở ngay kiếp sống này cũng như các kiếp sống về sau.
  1. Kết luận.
    Đối với một vị giảng sư, để xây dựng niềm tin trong lòng Phật tử, người giảng sư cần có 5 đức của pháp sư; nắm vững khế lý, khế cơ; xả bỏ tự ngã khi thuyết pháp; không chê bai bài xích phương tiện pháp môn của người khác và cần giữ vững thính nhất quán trong các pháp thoại.
Trong Kinh Tương Ưng Bộ, đức Phật cũng dạy: “Này Ananda, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình nương tựa chính mình, chớ nương tựa một điều gì khác. Dùng chánh pháp làm ngọn đèn, dùng chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa điều gì khác”. [16] Xây dựng niềm tịnh tín là việc tối quan trọng và cần thiết trên bước đường tu nhân học Phật tiến đến giải thoát. Muốn được như vậy, ta phải hiểu ta thật rõ, nhìn ra được con đường tu tập đã giúp ta chuyển hóa ra sao? Những pháp môn nào khiến mình loại bỏ thói hư tật xấu, trở thành một con người mới, từ bi, thương yêu, hỷ xả, thì đó mới là con đường chánh pháp, bằng không chỉ là những mê tín, tà kiến và sai lạc, bất kỳ ta tu theo pháp môn gì?
Ngành hoằng pháp có trọng trách xiển dương lời Phật dạy, giúp con người có cái nhìn chánh kiến, hiểu rõ nhân quả, nghiệp báo, luân hồi, duyên khởi của các pháp, đưa con người trở về tâm an định, vững vàng, không sợ hãi, không rơi vào những thói quen tham lam, giận dữ, thù hận, đau khổ, tuyệt vọng. Từ các pháp thoại, quần chúng Phật tử sẽ có phương pháp chế ngự và chuyển hóa các tâm bất thiện thành tâm thuần thiện,  sống lạc quan trong tuệ giác của đức Thế Tôn, niềm tịnh tín vào Tam bảo, sống từ bi và trí tuệ chính là những yếu tố nền tảng hình thành nhân cách Phật giáo.

                                                  Tham luận hội thảo Hoằng pháp Tỉnh Lâm Đồng
                                                                           (năm 2019)




TƯ LIỆU THAM KHẢO
  1. Đại tạng Kinh Việt Nam, Kinh Tương ưng, VNCPHVN ấn hành, 1993.
  2. Đại tạng Kinh Việt Nam, Kinh Tăng Chi, VNCPHVN ấn hành, 1996.
  3. Kinh Đại Bảo Tích, Dịch giả HT Thích Trí Tịnh, NXB Tôn Giáo, 2014.
  4. Kinh Pháp Hoa, Dịch giả HT Thích Trí Tịnh, , NXB. Tôn giáo, 2011.
  5. Duy Ma Cật Sở Thuyết, TT. Tuệ Sỹ dịch và chú giải, NXB Hồng Đức, 2017.
  6. Trái tim của Bụt, Thiền sư Thích Nhất Hạnh, NXB Tổng hợp, 2013.
  7. Phật Giáo Chính Tín, Hòa thượng Thích Thánh Nghiêm, Biên dịch: Thích Thanh Ninh, Huyền Chân (Phân viện nghiên cứu Phật học Việt Nam), NXB Văn Hóa Thông Tín, 2003.


 
 

[1] Lời Phật dạy (trích trong Kinh Tương ưng)
[2] ĐTKVN, Tương ưng I, chương 10, phần Alavi, VNCPHVN, 1993, Tr. 471.
[3] ĐTKVN, Tăng chi bộ I, chương 3, Phẩm Nhỏ, phần Sự kiện, VNCPHVN, 1996, Tr. 268.
[5]Hòa thượng Thích Trí Quảng, Chánh tín trong Phật giáo, https://thuvienhoasen.org/a15466/chanh-tin-trong-dao-phat, ngày 22 tháng 10 năm 2012.
[6] ĐTKVN, Tăng Chi Bộ II, chương 5, phẩm Diệu Pháp, phần Tôn giả Udayi, VNCPHVN, 1996, tr.611.
[7] Thiền sư Thích Nhất Hạnh, Trái tim của Bụt, nxb Tổng Hợp TPHCM, 2013, Tr. 43
[9] Kinh Trung A Hàm, quyển 32, kinh Ưu Ba Ly.
[10] HT Thích Minh Châu, Kinh Ví dụ Con Rắn https://www.wattpad.com/Các bản Kinh và Luận/Kinh Ví dụ con rắn.
[12] Duy Ma Cật Sở Thuyết, chương 11, phẩm Bồ Tát Hành, TT. Tuệ Sỹ dịch và chú giải, NXB Phương Đông, 2017. Tr. 263.
[13] ĐTKVN, Tăng chi bộ II, chương 5, Phẩm Kimbila, phần Nghe pháp, VNCPH, 1996, Tr. 708.
[14] ĐTKVN, Kinh Tăng Chi Bộ III, chương Tám Pháp, phẩm Lớn, VNCPHVN, 1993.
[15] ĐTKVN, Kinh Tăng Chi Bộ I, Chương Ba Pháp, Các vị ở Kesaputta, NXB Tôn Giáo, 2015, Tr. 221
[16] ĐTKVN, Tương ưng bộ V, chương 3, phẩm Ambapali, phần Bệnh, NXB Tôn giáo, 202, tr. 237.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây