NỀN TẢNG XÂY DỰNG CUỘC SỐNG HÒA BÌNH VÀ ĐẠO ĐỨC TRONG KINH SA MÔN QUẢ

Thứ bảy - 30/11/2019 05:19
THAM LUẬN
NỀN TẢNG XÂY DỰNG CUỘC SỐNG HÒA BÌNH VÀ ĐẠO ĐỨC
TRONG KINH SA MÔN QUẢ

—]–
                                                                                    ĐĐ.TS. Thích Thiền Trí
                                                                                    UV Ban Hoằng pháp TƯ
                                                                                    Phó trưởng Phân ban kiêm Chánh Thư ký Phân ban Hoằng pháp Hải ngoại
                                                                                    Trưởng Ban Hoằng pháp GHPGVN tỉnh TT. Huế

          Kinh Sa Môn Quả đã được đức Phật dạy cách đây hơn 25 thế kỷ nhưng vẫn giữ được giá trị nguyên vẹn. Nội dung tất cả các phương pháp đức Phật trình bày trong bản Kinh này đều liên quan đến Giới, Định và Tuệ.
          I. NỘI DUNG
          Nhân một đêm rằm sáng trăng, nhà vua hỏi quần thần nên chiêm bái Sa-môn, Bà-la-môn nào thì tâm được tịnh tín. Các đại thần tâu với nhà vua nên yết kiến Lục sư ngoại đạo. Nhà vua kể ra một số nghề phổ biến ở Ấn độ vào thời ấy như điều tượng sư, điều mã sư…mỗi nghề đều đem lại kết quả rất thiết thực như nuôi sống bản thân, giúp đỡ gia đình, bạn bè…sống sung túc an nhàn hạnh phúc. Đó là những kết quả rất rõ ràng thiết thực, còn các Sa-môn, Bà-la-môn sống cuộc đời ly dục, không vợ con, không nhà cửa…thì có kết quả thiết thực gì? Lục sư ngoại đạo trả lời nhà vua như sau:
          1. Purana Kassapa (Phú-la-na Ca-diếp): Chủ trương thuyết ngẫu nhiên, không tin luật nhân quả. Phật giáo gọi là “Vật vô nhân quả”.
          Phái này vốn là nhà lý luận hoài nghi, theo ông thì thiện ác không có tiêu chuẩn nhất định, bất quá là do tập quán xã hội gọi mà thôi. Ông trả lời : “Này Đại vương, tự làm hay khiến người làm, chém giết hay khiến người chém giết, đốt nấu hay khiến người đốt nấu…cũng không vì vậy mà có phước báu”.  
          Vua A-xà-thế đã kể lại với đức Phật, là vua hỏi về trái xoài thì được trả lời về trái mít và ngược lại. Hành động giết cha của vua bị mọi người nguyền rủa, chính bản thân ông cũng hối hận đau khổ vô cùng. Nếu không có nghiệp thì sao mọi người lại oán ghét vua? Nhà vua không tán thán, không chất vấn nhưng không thoả mãn với câu trả lời trên và nghĩ: (Nếu không có nhân quả thì) “Tại sao một người như con lại có thể làm một vị Sa-môn, hay Bà-la-môn ở trong nước của con không được vui lòng”.
          Đức Phật không bình luận gì.  Tuy nhiên, như chúng ta biết, tất cả hành động có tác ý đều có năng lực sinh ra nghiệp, dù đó là thiện hay ác. Đức Phật dạy rằng: “Này các Tỳ kheo, Như Lai xác nhận rằng chính tác ý là nghiệp. Do có ý muốn mới có hành động, bằng thân, khẩu hay ý.” Nhà vua không hài lòng nên đến hỏi vị khác.
          2. Makkhali Gosala (Mặc-già-lê Cù-xá-lợi): Chủ trương thuyết tự nhiên. Phật giáo gọi  là “Tà mệnh ngoại đạo hay Cực đoan định mệnh”.
          Ông này trả lời tất cả các loài hữu tình đều bị dắt dẫn, chi phối bởi định mệnh, chúng hưởng thọ khổ hay vui tuỳ theo bộ loại của chúng. Ví dụ như con trâu khổ vì nó là trâu, con chó được cưng chiều sung sướng vì nó là con chó. Ông ta chốt lại là kẻ ngu người hiền sau khi luân chuyển sẽ tận trừ khổ đau khi đã trả hết nợ xưa, cho là không nhân không duyên nên không hề biết khi đang thọ nghiệp lại thọ thêm nghiệp mới thì khổ đau sẽ mãi mãi cho đến khi nào còn tạo nghiệp.
          Theo đức Phật thì tất cả đều có nguyên nhân của nó, không có gì là phi nhân duyên, tất cả hữu tình đang có thân này đều do nghiệp cả: “Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý là nghiệp cũ, các hành động của thân, khẩu, ý là nghiệp mới.”
          3. Ajita Kesakambali (A-kỳ-đa Kỳ-xá-khâm-bà-la): Duy vật luận, cho thân thể con người do bốn đại: địa thuỷ hoả phong kết hợp mà thành, chỉ lấy chủ nghĩa khoái lạc cho nhục thể làm mục đích.
          Ông ta trả lời: “Này Đại Vương! Không có bố thí, không có lễ tế tự…không còn tồn tại sau khi chết”.
          Theo phái này, tất cả sự vật hiện tượng đều là không, con người khi chết thì trả về tứ đại, không còn tồn tại sau khi chết. Chủ trương như vậy nên mục đích của họ là hưởng thụ thú vui hiện tại.
          4. Pakudha Kaccayana (Bà-phù-đà Ca-chiên-diên): Thuyết bảy thân bất hoại. Phái này cho rằng sinh mệnh và vật chất đều thường trụ, cho tất cả các vật được tạo thành là nương vào sự hoà hợp của 7 yếu tố: địa, thuỷ, hoả, phong, khổ, lạc, sinh mệnh. Sinh tử chỉ là một công việc tụ hay tán của 7 yếu tố, mà những yếu tố đó thì thường trụ bất diệt.
          Ông ta trả lời: “Có 7 thân không do bất kỳ thứ gì sáng tạo ra, nó thường trụ như núi, đứng thẳng như đá, không bị bất kỳ cảm thọ nào ảnh hưởng”.
          5. Sanjaya Belathiputta (Tán-nhã-di Tỳ-la-phê-phất): Thuyết tu định, thuộc phái nguỵ biện. Cho chân lý không phải là không biến đổi, nên việc tu đạo là vô ích, mà chỉ chuyên tu thiền định.
          Ông ta trả lời : “Tôi không nói là  như vậy, tôi không nói là như kia, tôi không nói là khác như thế, tôi không nói là không phải thế…”.
          6. Nigantha Nataputta (Ni-kiền-tử): Chủ trương tu khổ hạnh, cho sự khổ, vui, hoạ, phúc của con người đều do tiền nghiệp đã định, muốn thoát khỏi cần phải luyện thân khắc khổ để mong cầu giải thoát.
          Ông trả lời: “Một người Nigantha sống chế ngự bởi 4 loại cấm giới đó là giữ gìn tất cả các loại nước, giữ gìn đối với mọi ác pháp, tẩy sạch mọi ác pháp và sống với ý chí giữ gìn đối với tất cả các ác pháp”.
          Chính đức Phật đã trải nghiệm phương pháp tu khổ hạnh, và Ngài đã nhận thức được rằng thân thể con người luôn là sự kết hợp giữa tâm lý và cơ thể sinh lý. Tâm lý dựa trên cơ thể sinh lý mà hoạt động, do đó, nếu cơ thể suy nhược quá mức thì tâm lý không thể hoạt động bình thường. Ngài đã từ bỏ lối tu khổ hạnh ép xác.
          Không hài lòng với những sự trả lời như trên nên nhà vua muốn đến yết kiến đức Phật. Nghi vấn của vua là: Mỗi một người trong xã hội dầu làm những công việc nào đó đều mang lại lợi ích cho bản thân hoặc họ hàng, bà con, bạn bè… Thế thì, một Sa-môn sống đời phạm hạnh đạt được lợi ích gì?
          II. Đức Phật giải thích cho nhà vua về 13 lợi ích của hạnh Sa-môn từ thấp đến cao, từ quả thế gian đến xuất thế gian:
          1. Sự kính trọng và cúng dường dành cho một tu sĩ:
          Xã hội Ấn độ là một xã hội có sự phân biệt giai cấp rất sâu sắc. Đức Phật dùng ví dụ người nô bộc của vua – thuộc giai cấp Thủ-đà-la phải làm lụng cực nhọc để hầu hạ nhà vua. Khi người này nghĩ rằng được làm vua là nhờ có phước đức, vậy ta hãy xuất gia tu đạo. Sau khi xuất gia, người này thực hành Phạm hạnh, khi gặp lại, nhà vua không thể cư xử như khi chưa xuất gia được. Do đó, đức Phật kết luận rằng: “Này Đại vương! Đó là kết quả thiết thực hiện tại thứ nhất của hạnh Sa-môn”.
          2. Sự thi hành các Tiểu giới, Trung giới và Đại giới.
          Thế Tôn dạy về sự giữ giới đầy đủ. Có người thuộc giai cấp Phệ-xá, sau khi xuất gia, vị ấy giữ gìn các Tiểu giới như: không sát sanh, trộm cắp…là những pháp đối trị chế ngự thân khẩu ý nghiệp. Vị ấy giữ gìn các Trung giới, phạm vi giới này là áp dụng đến loài vô tình như cây cỏ…và các hạnh tiết chế ngũ dục của Sa-môn. Mục đích của giới này là chế ngự lòng tham, không làm những việc tầm thường của thế tục nhằm mong cầu lợi dưỡng. Vị ấy giữ gìn các Đại giới là không làm các việc mê tín, lợi dụng lòng tin của tín đồ để mong cầu lợi dưỡng.
          3. Được tự tín, không có sợ hãi vì nhận thấy đời sống của mình chơn chánh:
          Đời sống chơn chánh thì tâm luôn tự tại, không lo sợ người khác phát hiện sự sai trái của mình.
          4. Hộ trì các căn không cho buông lung:
          Chánh niệm tỉnh giác trong bất cứ thời gian nào, luôn ý thức về sự tồn tại của mình trong giây phút đó, không hồi tưởng về quá khứ hay ảo vọng về tương lai.
          5. Sự tự chủ bền bỉ do sự hộ trì các căn đưa lại:
          Nhờ sự hộ trì các căn nên nội tâm không vẩn đục, đạt được an lạc hiện tiền.
          6. Đức tính tri túc của một đời sống giản dị:
          Luôn biết đủ với tứ sự cúng dường. Luôn biết bằng lòng những thứ mình đang có, chỉ ăn đủ no để nuôi thân tứ đại không bị kiệt quệ khỏi cản trở việc tu và hành đạo; ngủ chỉ vừa đủ để tinh thần minh mẫn, không ham ngủ nhiều.
          7. Sự giải thoát tâm trí khỏi năm triền cái: tham dục, sân hận, hôn trầm, trạo cử và nghi ngờ:
          Triền tức là trói buộc, cái là ngăn che. Năm thứ này trói buộc thân tâm con người trong phiền não, sanh tử luân hồi và ngăn che trí tuệ khiến con người bị vô minh không được giác ngộ: tham đắm sắc, thanh, hương, vị, xúc; tức giận với hoàn cảnh, những người làm trái ý mình mong muốn; hôn trầm là do ham ngủ nên tâm thức tối tăm, không kiểm soát được tâm nên không thể thiền định; trạo cử là tâm luôn lao xao, dao động, hết suy nghĩ thứ này lại suy nghĩ cái khác; nghi ngờ là tâm luôn do dự, không nhất quyết, không dám phân định cái nào thật cái nào giả, không có sự quyết đoán, không tự tin vào chính mình, không tin vào pháp của Phật.
          8. Hỷ và lạc, kết quả của sự giải thoát nói trên, thấm nhuần thân tâm.
          9. Sự thực hành 4 thiền định:
          Sơ Thiền: Ly sanh hỷ lạc. Khi quán tự thân đã xả ly 5 triền cái, hân hoan sanh, do hân hoan nên hỷ sanh; do tâm hoan hỷ nên thân khinh an; do thân khinh an lạc thọ sanh, tâm được định tĩnh, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm với tứ.
          Nhị Thiền: Định sanh hỷ lạc. Diệt tầm và tứ, chứng và trú thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm.
          Tam Thiền: Ly hỷ diệu lạc. Tỷ kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ gọi là “Xả niệm lạc trú”.
          Tứ Thiền: Xả niệm thanh tịnh.  Tỷ kheo xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ từ trước, chứng và trú thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh.
          10. Chánh trí và chánh kiến: Sau khi đạt được Tứ thiền, đức Phật dạy phương pháp tu tập để chứng đắc những tầng bậc cao hơn của thiền định. Sau khi đạt được Tứ thiền, hành giả phải hướng tâm đến chánh trí và chánh kiến. Phật dạy: “Vị ấy biết: Thân này của ta là sắc pháp, do bốn đại tạo thành, do cha mẹ sanh, nhờ cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, hoại diệt, trong thân ấy thức ta lại nương tựa và bị trói buộc”. Đây là quán về thân, biết thân do tứ đại hợp thành, không còn chấp thân là ngã chính là đã vượt qua cửa ải quan trọng nhất dẫn đến vô sanh, vì chỉ cần một niệm chấp ngã tức là đã còn phải thọ thân để chịu luân hồi.
          11. Khả năng hiện hoá một hoá thân: Có khả năng hiện ra một thân khác, tuỳ theo căn cơ, nhân duyên của từng chúng sanh mà hoá hiện ra thân khác để hoá độ, như trong kinh Phổ Môn có diễn tả hình tượng Quán Thế Âm với 32 ứng thân để hoá độ chúng sanh.
          12. Năm thông: thần túc thông: có thể biến hình đi qua vách tường, đi trên hư không,độn thổ, đi trên mặt nước…, thiên nhĩ thông: khả năng nghe hai loại tiếng chư Thiên và loài người, xa và gần một cách rõ ràng, tha tâm thông: biết tâm niệm của chính mình và chúng sanh, như tâm có tham biết tâm có tham.., túc mạng thông: khả năng nhớ đến đời sống và các tiền kiếp của mình, đã sinh nơi này, chết nơi kia rồi được sinh ra ở đây…, và thiên nhãn thông: nhìn thấy được tiến trình lưu chuyển của chúng sanh qua các cõi luân hồi. Vị ấy biết rõ, chúng sanh người hạ liệt, kẻ cao sang… đều do hạnh nghiệp của chúng sanh.
          13. Sự giác ngộ lý Tứ đế, diệt trừ lậu hoặc và chứng quả A-la-hán: Biết như thật đây là khổ, đây là nguyên nhân của khổ, đây là khổ diệt và con đường đưa đến khổ diệt, biết tất cả các lậu hoặc và sự diệt trừ tất cả các lậu hoặc. Biết rõ như vậy nên vị ấy biết rằng mình đã: “sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, sau đời hiện tại không có đời sống nào nữa”.
          Như vậy, chúng ta đang thừa hưởng gia tài phương pháp luận chặt chẽ nhất, cũng chính là kho tàng tuệ giác vô tận. Đức Phật đã thiết lập một nền tảng mà từ đó có thể xây dựng một thế giới hoà bình và đạo đức. Nếu các giá trị đạo đức bị mai một thì con người sẽ bị đẩy đến thảm hoạ khổ đau, chúng ta đã tự mình rời xa hạnh phúc để tìm đến khổ đau, phải nhìn thấy được trọng trách của mình, muốn vậy phải thấy rõ được đâu là giáo lý của Phật, đâu là tà giáo, đâu là hố thẳm ngũ dục phải tránh xa. Hãy nỗ lực như đức Phật đã từng khuyến khích:
          “Này các Tỷ kheo, các người cần phải du hành, vì an lạc cho số đông, vì hạnh phúc cho số đông, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc của chư Thiên và loài Người. Các Người hãy thuyết giảng Chánh pháp tuyệt diệu trong ban đầu, tuyệt diệu ở chặng giữa, tuyệt diệu ở đoạn cuối, đầy đủ trong ý nghĩa và ngôn thuyết. Các Người hãy đề cao đời sống phạm hạnh toàn diện và thanh tịnh”.(Mahavagga 19)./.
                                                                                                                                       T.T.T


 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây