HOẰNG PHÁP VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TÂY NGUYÊN - MỘT CÁCH TIẾP CẬN

Chủ nhật - 01/12/2019 02:40

 
HOẰNG PHÁP VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TÂY NGUYÊN - MỘT CÁCH TIẾP CẬN
                                                                             TS. Dương Hoàng Lộc
                     (GĐ. TTNC Tôn giáo, Trường ĐHKHXH&NV-ĐHQG TP .HCM)

         1. Tây Nguyên - vùng đất gắn với nhiều tộc người bản địa sinh sống lâu đời, đồng thời mang nhiều đặc điểm văn hóa độc đáo thông qua lễ hội, kiến trúc nhà ở, ẩm thực,…và nổi bật nhất là cồng chiêng, sử thi phản ánh chiều sâu thế giới quan, nhân sinh quan của họ. Tây Nguyên hiện bao gồm 5 tỉnh: Kontum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng. Có khoảng 20 tộc người bản địa  sinh sống ở đây như Ba Na, Ê Đê, Raglai, Xơ đăng, Churu, Mạ,…Mặt khác, Tây Nguyên còn là địa bàn có nhiều tôn giáo hoạt động. Đồng bào dân tộc thiểu số ở đây chủ yếu theo Công giáo, Tin Lành, Phật giáo và Cao Đài. Thời điểm năm 2004, người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên theo đạo Tin Lành là 393.546 tín đồ, theo đạo Công Giáo là 256.910 tín đồ, theo Phật giáo khoảng 20.000 tín đồ và 1.000 tín đồ đạo Cao Đài[1]. Phật giáo đến vùng đất Tây Nguyên cùng với sự có mặt của người Kinh di dân đến đây, nhất là từ giữa thế kỷ XX đến nay. Năm 1951, Chùa Sắc Tứ Khải Đoan xây dựng tại thành phố Ban Mê Thuột, trở thành cái nôi của Phật giáo trên vùng đất Tây Nguyên, từ đó hàng trăm ngôi chùa lần lượt khai sơn, trở thành chỗ dựa tâm linh vững chắc cho nhiều thế hệ tín đồ Phật tử.
2. Sự du nhập và phát triển Phật giáo trên vùng đất Tây Nguyên là cơ duyên giúp đồng bào các tộc người thiểu số ở đây được học và hành theo giáo lý của nhà Phật.  Họ đến chùa quy y Tam bảo, tu tập cũng như sinh hoạt văn hóa. Được biết, nhiều khóa tu dành cho Phật tử đồng bào dân tộc thiểu số được tổ chức để họ hiểu những giáo lý căn bản nhà Phật. Tại Kontum, Ban Hướng dẫn Phật tử đã tổ chức các khóa tu cho hơn 4.000 Phật tử dân tộc thiểu số tại chùa Huệ Chiếu. Đồng thời, Phật giáo còn phát triển thêm hơn 5.500 người dân tộc thiểu số ở các tỉnh khác trở thành tín đồ Phật tử. Hơn mười năm trở lại đây, vấn đề hoằng pháp vùng dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên được Tăng Ni tích cực đẩy mạnh nên mang lại kết quả khả quan với nhiều mô hình tiêu biểu. Những tư liệu mà chúng tôi khảo sát có được cho thấy: Nhiều tự viện, tuy khó khăn, nhưng đã cố gắng quy tụ người dân tộc thiểu số đến với Phật pháp. Tại chùa Pháp Hoa (thị trấn Di Linh, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng), Ni trưởng Thích Nữ Minh Hiền và Thích Nữ Tuệ Đức đã qui y cho người K’ho tại đây từ giữa thập niên 80 của thế kỷ trước. Hiện tại, họ là những Phật tử thuần thành, biết tin kính Tam bảo, hiểu nhân quả, tất cả quây quần bên ngôi chùa để làm chỗ dựa tinh thần. Tuy nhiên, trong bức tranh tôn giáo ở vùng dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên hiện nay, Phật giáo dường như vẫn chưa phát huy hết tiềm năng và thế mạnh của mình. Vì vậy, so với Công giáo và Tin Lành, tín đồ Phật giáo là người dân tộc thiểu số còn chiếm tỷ lệ thấp. Một nghiên cứu cho biết: Nếu như trên địa bàn Tây Nguyên năm 2004 có 11,95% dân số theo Phật giáo thì năm 2009 giảm xuống còn 11,4%. Tỷ lệ đồng bào các dân tộc thiểu số theo đạo Phật là 0,04% năm 2004 và 0,6% tại thời điểm tháng 6/2009[2]. Vì vậy, đây là vấn đề mà Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam nói chung cũng như Ban Hoằng pháp TW, Ban Hướng dẫn Phật tử TW cần quan tâm, lưu ý tìm kiếm, xây dựng những giải pháp hữu hiệu để mở rộng Phật pháp đến với các tộc người thiểu số trên vùng đất Tây Nguyên trong thời gian tới.
3/ Hiện nay, các nhà nghiên cứu tôn giáo trong và ngoài nước khi tìm hiểu quá trình truyền bá, chuyển đổi tôn giáo ở các cộng đồng hay dựa vào Thuyết Chọn lựa Duy lý để phân tích, nhận diện những nguyên nhân đưa đến những thành công của các mô hình chuyển đổi hay quá trình thâm nhập các tôn giáo đến các cộng đồng trước nay chỉ tồn tại tín ngưỡng, ma thuật, bùa chú,…Thuyết Sự chọn lựa duy lý (Rational choice theory) cho rằng hành vi của con người bao giờ cũng có mục đích. Lý thuyết này tập trung vào các luận điểm chính sau: Những chủ thể hành động bị chi phối bởi lợi ích tối đa hóa lợi ích cá nhân không bị cản trở bởi những yếu tố khác và những quy tắc xã hội, các chủ thể hành động không tình cảm, không phi lý, không bốc  đồng và không theo thói quen trong việc chọn lựa mà họ luôn hành động một cách duy lý. Đặc biệt, trong nghiên cứu tôn giáo và văn hóa, lý thuyết sự lựa chọn duy lý áp dụng vào việc nghiên cứu chuyển đổi. Người ta nhấn mạnh đến việc thay đổi sinh hoạt văn hóa, tôn giáo trong điều kiện hợp lý với thực tế của cộng đồng, làm cho họ tốt hơn và nhất là phù hợp với bối cảnh xã hội. Trong thời gian qua, dựa vào thuyết này, các nhà nghiên cứu đã phân tích, lý giải sự du nhập thành công của Công giáo, Tin Lành vào các cộng đồng tộc người thiểu số ở Tây Nguyên. Nhìn chung, sở dĩ các cá nhân và cộng đồng trở thành tín đồ Công giáo, Tin Lành nhờ phương thức truyền đạo thể hiện tính hợp lý đối với thực tế sinh hoạt cuộc sống cũng như văn hóa, niềm tin của họ. Trước tiên, do đời sống còn khó khăn, nghèo nàn nên khi theo đạo họ nhận được sự hỗ trợ vật chất thường xuyên. Thứ hai, một số nghi lễ truyền thống trở thành  gánh nặng, gây tốn kém. Trong khi đó, nếu ai có đức tin với Đức Chúa Trời bằng lòng thành, không cần lễ vật sẽ được ban phước. Thứ ba, những người truyền giáo dùng tiếng dân tộc truyền đạo, phát thuốc chữa bệnh cho nhân dân, giúp đõ các hoàn cảnh đặc biệt nên vai trò của các cha xứ, mục sư được cộng đồng tín nhiệm vì chỉ dùng thuốc và cầu nguyện thì người bệnh sẽ khỏi bệnh. Do đó, vai trò của thầy cúng, các hình thức ma thuật ngày càng giảm đi trong cộng đồng. Thứ tư, các tộc người thiểu số ở Tây Nguyên chủ yếu làm nương rẫy sinh sống. Cho nên, họ cần thời gian nghỉ ngơi, giao lưu cộng đồng cũng như sinh hoạt văn hóa tinh thần để thư giãn. Tại các xứ đạo, ngày cuối tuần, họ đi lễ để cầu nguyện, gia cố tâm linh, giao lưu cộng đồng và nghỉ ngơi bên gia đình. Thứ năm, những nơi thờ tự tôn giáo này luôn hướng đến việc xây cất theo mô hình kiến trúc truyền thống của các tộc người bản địa Tây Nguyên tạo nên sự gần gũi, hài hòa văn hóa tộc người, cồng chiêng được sử dụng vào các nghi thức tôn giáo, tục cúng tổ tiên được duy trì, các bài thánh ca mang âm hưởng dân ca, tôn trọng Già làng. Nhiều kinh sách dịch, chuyển ngữ sang tiếng dân tộc để cộng đồng dễ đọc hiểu và tiếp nhận giáo lý. Cho nên, nhiều thanh niên dân tộc thiểu số được đưa đi đào tạo để trở thành những chức sắc tôn giáo (Công giáo, Tin Lành) sau này.  Cuối cùng, khi tôn giáo truyền vào đã góp phần biến đổi tâm lý con người Tây Nguyên (chủ yếu là người dân tộc thiểu số) từ tự ti, khép kín trở nên hòa nhập hơn, cởi mở hơn, tự tin hơn. Ngay cả những thói quen sinh hoạt hàng ngày cũng dần dần thay đổi theo hướng khoa học hơn, vệ sinh hơn, tiến bộ hơn. Một điều khác nữa, những người theo Đạo Công giáo, Tin Lành được giáo dục, dạy bảo về những tri thức khoa học cơ bản, giúp cho người dân tộc thiểu số nâng cao trình độ nhận thức[3]. Nhiều hủ tục lạc hậu được bỏ dần, người dân tộc bỏ uống rượu, chăm lo phát triển kinh tế gia đình.
4/ Trong thời gian qua, một số tự viện Phật giáo ở Tây Nguyên đã truyền bá Phật pháp thành công đối với đồng bào dân tộc thiểu số, họ trở thành những Phật tử thuần thành, tín tâm với Tam bảo. Theo chúng tôi, đây chính là nhờ vào  cách thức hoằng pháp  hoàn toàn hợp lý với thực tế cuộc sống lẫn niềm tin của họ. Nhưng quan trọng hơn nữa, chính là việc đề cao nhân tố sự thành tâm để giúp tự thân họ phát triển, thăng hoa đời sống tâm linh, mang lại an lạc cho bản thân. Điều này cho thấy phương thức hoằng pháp của Phật giáo linh hoạt, nhạy bén, đúng với tinh thần khế lý, khế cơ, khế xứ và khế thời của nhà Phật.
Tư liệu khảo sát thực tế của chúng tôi tại chùa Di Đà và chùa Pháp Hoa  trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng góp phần chứng minh nhận định trên. Chùa Di Đà tọa lạc tại xã Lộc Tân, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng. Chùa hiện là đạo tràng sinh hoạt của 200 hộ gia đình với khoảng 650 người dân tộc Mạ. Việc truyền bá Phật pháp đến người Mạ địa phương bắt đầu từ năm 2005. Chùa Pháp Hoa  ở thị trấn Di Linh, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng  gắn với 300 hộ gia đình, hơn 1.000 Phật tử người K’Ho địa phương sinh hoạt, tu tập thường xuyên. Theo chúng tôi, sở dĩ công tác hoằng pháp cho người dân tộc thiểu số tại hai ngôi chùa này thành công, mang tính bền vững, hiệu quả là do các nhân tố sau đây:
- Thứ nhất, một số Phật tử người dân tộc chùa Pháp Hoa hỗ trợ giúp nhà chùa trồng trọt cà phê  để có nguồn thu nhập trang trải cuộc sống. Họ cắt cỏ, hái cà phê, thu nhập bình quân do nhà chùa trả công từ 200.000 đến 300.000 ngàn/ngày. Điều này giúp cho họ phần nào ổn định sinh kế. Tại các thời thuyết pháp của chùa Di Đà, vị trụ trì còn lồng ghép việc hướng dẫn cách thức chăm sóc vườn tược khoa học, cách dọn dẹp vệ sinh môi trường sạch đẹp, hướng dẫn biện pháp kỹ thuật trồng cà phê đạt hiệu quả cao. Cho nên, đời sống vật chất của họ được nâng cao hơn trước đây.
- Thứ hai, Phật tử người dân tộc tại đây tham gia các khóa tu do chùa tổ chức vào ngày chủ nhật hằng tuần. Điều này giúp cho họ có điều kiện thực hành tâm linh, sinh hoạt cộng đồng tại chùa khi tạm ngưng công việc nương rẫy cực nhọc. Đến chùa Pháp Hoa, họ tụng kinh (chú Đại Bi, Bát Nhã Tâm Kinh), thiền hành và lạy Phật, sau đó dùng cơm chay. Ngày sóc, vọng thì đến chùa sám hối, nghe giáo giới để họ vững tiến trên đường học Phật. Ở chùa Di Đà, ngày cuối tuần mỗi tháng mở khóa tu niệm Phật, thuyết pháp cho Phật tử người dân tộc Mạ. Ngày chủ nhật, họ đến chùa làm công quả, dọn cỏ, làm vườn và ăn trưa. Đặc biệt, vào mùa thu hoạch cà phê (tháng chín đến tháng mười hai), các khóa tu tại chùa Di Đà tạm hoãn vì đây là thời gian cộng đồng hoàn toàn tập trung vào công việc nương rẫy. Khi trở thành người Phật tử, họ biết tuân thủ ngũ giới cấm, nên việc uống rượu giảm hơn phân nữa, không sát sanh nên các lễ hội ít tốn kém trước. Ngoài ra, chùa Pháp Hoa tổ chức nhiều Lễ hằng thuận của Phật tử người dân tộc. Đồng thời, nhiều Phật tử này còn biết thiết lễ trai Tăng cúng dường trong mùa an cư kiết hạ, Lễ Vu lan báo hiếu hoặc cầu siêu khi mãn tuần thất ngày cho người thân,…
- Thứ ba, chùa chính là nơi tiếp nhận các nguồn hỗ trợ từ thiện-xã hội từ các mạnh thường quân trong và ngoài nước để giúp đỡ những Phật tử dân tộc thiểu số. Những nguồn hỗ trợ gồm có tiền mặt, quần áo, chăn màn, bánh kẹo, sữa,…để giúp họ có thể vượt qua những khó khăn trong cuộc sống, cảm nhận được lòng từ bi và tính nhân ái. Chùa Di Đà còn tài trợ xây dựng một trường mẫu giáo cho con em người Mạ địa phương cũng như hỗ trợ khoan giếng cung cấp nguồn nước sinh hoạt cho cộng đồng.
- Thứ tư, am hiểu văn hóa, phong tục, tính cách của tín đồ dân tộc thiểu số là nguyên nhân quan trọng đưa đến sự thành công trong công tác hoằng pháp. Chùa Di Đà xây dựng theo kiến trúc nhà Rông-nơi sinh hóa văn hóa cộng đồng để chùa trở nên gần gũi trong cái nhìn của họ. Trong khuôn viên, chùa làm nhiều hình tượng người dân tộc thiểu số chấp tay cung kính hướng về Phật, Bồ tát  nhằm giúp Phật tử luôn phát tín tâm nương tựa về Tam bảo. Trong khuôn viên chùa đặt nhiều tượng voi, nai, khỉ,…để tạo không gian gần gũi với núi rừng Tây Nguyên. Trường hợp những Phật tử của Chùa Pháp Hoa, họ luôn nhận các phần quà từ thiện đồng đều nhau vì nhà chùa nhận thức rõ tính cộng đồng, tinh thần tập thể cao vốn là nét ưu trội trong sinh hoạt văn hóa của họ. Chùa phân chia đầy đủ đến họ từng viên kẹo, từng chiếc bánh, từng kí lô gạo,…
- Thứ năm, văn hóa giao tiếp giữa chùa và cộng đồng Phật tử người dân tộc luôn thân thiện, hài hòa, gần gũi thường xuyên. Tăng, Ni ở hai ngôi chùa này thường đến thăm hỏi Già làng, giúp đỡ vật chất khi Phật tử chẳng may bệnh đau, đứng ra tổ chức tang lễ cho họ theo nghi thức Phật giáo, cầu siêu cho hương linh tổ tiên tại chùa. Mặc dù đường xa và đi lại khó khăn, nhưng Tăng, Ni thường xuyên đến giúp đỡ các gia đình Phật tử từ vật chất đến tinh thần mỗi khi họ cần đến. Chùa Di Đà giúp đỡ các hộ nghèo khi gia đình có tang lễ bằng giúp hòm miễn phí, ủng hộ gạo, mì,…  Với tín đồ Phật tử dân tộc thiểu số, người trụ trì  thể hiện bằng thân giáo, oai nghi và sự nghiêm trang. Nghiêm là không quá dễ dãi, cũng không nên quá khó. Trong mọi việc phải đi đầu và làm gương. Trong sinh hoạt, chuyện trò thì giản dị, gắn bó, thân thiết và chia sẻ với họ. Các chùa còn nhiều lần tổ chức cho đạo tràng Phật tử người dân tộc đi hành hương trong và ngoài tỉnh, tham gia các lễ hội Phật giáo lớn do Phật giáo tỉnh Lâm Đồng tổ chức để tăng cường thêm sự giao lưu và hiểu biết. 
- Thứ sáu, đã có một số ít những Phật tử người dân tộc thiểu số thuần thành phát tâm xuất gia tu học. Đây là tiền đề quan trọng để giúp Phật pháp ngày một đi sâu vào đời sống của cộng đồng Phật tử người dân tộc thiểu số. Một nam Phật tử người Mạ ở chùa Pháp Hoa, sau khi tốt nghiệp phổ thông trung học, đã phát tâm xuất gia. Vì chùa Pháp Hoa là chùa Ni, nên vị này được gửi đến chùa Phước Huệ (thành phố Bảo Lộc) xuất gia tu học và đã thọ Sadi giới, đang theo học tại Trường Trung cấp Phật học tỉnh Lâm Đồng. Tại chùa Di Đà, Phật tử người Mạ được nghe pháp bằng tiếng dân tộc bởi người thuyết giảng là một vị đại đức vốn là người Mạ đi xuất gia nay được 11 năm. Đại đức này đã thọ giới Tỳ kheo, tốt nghiệp cao đẳng Phật học. Ngoài ra, chúng tôi được biết, để công tác hoằng pháp vùng dân tộc được thuận lợi, những bộ kinh Di Đà, Bát Nhã được chư Tôn đức Trường Trung cấp Phật học tỉnh Lâm Đồng dịch ra ngữ hệ Môn-Khmer cho Phật tử các tộc người theo ngữ hệ này đọc tụng.  Thiết nghĩ, đây là những tín hiệu đáng mừng cho sự phát triển bền vững công cuộc hoằng pháp vùng dân tộc thiểu số Tây Nguyên hiện nay. 
5/ Cuối cùng, việc tìm hiểu lẫn đánh giá những mô hình hoằng pháp vùng dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên cần được tiếp tục đúc kết thông qua các tọa đàm vừa mang tính lý luận vừa gắn với tính thực tiễn ở mỗi cộng đồng khác nhau. Từ đó giúp cho cho Ban Hoằng pháp TƯ cũng như Ban Hoằng pháp nhiều tỉnh, thành gợi mở, đề xuất nhiều giải pháp hiệu quả, mang tính thực tế cao để lan tỏa, thấm sâu Phật pháp đến nhiều cộng đồng tộc người thiểu số ở vùng Tây Nguyên. Thiết nghĩ, những thành quả từ các mô hình hoằng pháp vùng dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên trong thời gian qua cho thấy tính linh hoạt, sáng tạo và nhiệt huyết dấn thân của Tăng, Ni vì sự nghiệp xương minh Phật pháp trên vùng đất Tây Nguyên. Vì vậy, những Tăng, Ni này rất cần được khích lệ lẫn biểu dương, tôn vinh.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1/ Nhiều Tác giả (2008), Sự biến đổi của tôn giáo tín ngưỡng ở Việt Nam hiện
nay, Hà Nội, Nxb. Thế giới.
2/ Phan Hữu Dật. (1999), Một số vấn đề về Dân tộc học Việt Nam, Hà Nội,
Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội.
3/ Barfield, Thomas (chủ biên) (1997), Từ điển Nhân học  (Viện Dân tộc học
dịch). Bản photocopy.
4/ John Monagan-Peter Just. (2018), Nhân học xã hội và văn hóa  (Tiết Hùng
Thái dịch), Hà Nội,  Nxb. Tri thức.





 
 

[1] Nguyễn Thanh Xuân, Vài nét khái quát về tôn giáo trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Nguồn: http://www.vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/vai-net-khai-quat-ve-ton-giao-trong-vung-dong-bao-dan-toc-thieu. Ngày truy cập: 25/11/2019.
[2] ://phatgiao.org.vn/phat-giao-o-tay-nguyen-thieu-so-va-tiep-tuc-giam-sut-d23tml. Ngày truy cập: 26/11/2019.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây