66. CÁCH DÙNG TỪ TRONG MỘT SỐ QUYỂN CHƠN LÝ

Chủ nhật - 09/09/2018 13:14
CÁCH DÙNG TỪ TRONG MỘT SỐ QUYỂN CHƠN LÝ
TK. Minh Điệp
Tịnh xá Đại Quang, H. Bình Chánh, TP. HCM
  1. DẪN NHẬP

Đạo đức là khuôn phép xây dựng nên đời sng an vui cho hi loài người. Chúng ta thy rng, trong xã hi ngày nay, các ngành khoa hc phát triển vượt bậc mang đến cho con người sự hưởng thti đa vvt cht. Nng bên cnh sphát triển đó, giá trị đạo đức li có chiều hướng tụt gim, dn đến các tệ nn như: ti phm, đi try, tham nhũng, ô nhiễm môi trường, chiến tranhTình trng này làm mt cân bng giữa các giá trvăn hóa tinh thn và các tư tưởng không lành mnh khiến cho xã hi ngày càng thiếu đi mô hình đạo đức mu mực. Vn đề này nh hưởng mnh mẽ đến tương lai ca thế hệ mai sau.

Đặc điểm chung của nhân loi là luôn khao khát hnh phúc. Từ thời xưa cho đến bây giờ, từ Đông sang Tây, con người không ngừng khám phá con đường hnh phúc trên lĩnh vực tâm linh. Và các tôn giáo hình thành bt ngun từ các cuc khai phá tâm linh này. Các tôn giáo đó luôn quy hướng đời sng của các tín đồ theo con đường đạo đức của vị giáo ch. Là mt tôn giáo lớn trên thế giới, từ ngày xut hiện đến nay, Pht giáo luôn ly đạo đức nhân bn làm kim chỉ nam trong con đường hong hóa của mình. Hu như Pht giáo truyền đến đâu đều hướng dn đạo đức cho mi người từ thế gian cho đến xut thế gian trên phương tiện tùy duyên nhp thế. Đt nước Việt Nam
 


đã tiếp nhn Pht giáo mt cách trn vẹn từ bước đu du nhp trên
2.000 năm qua. Trong sự phân hóa đa dng của mình, Pht giáo ti Việt Nam có mt trong các truyền thng tu tp khác nhau. Tt cả đều kết ni với nhau mt cách hài hoà trong lòng dân tc dù tri qua biết bao biến cố thăng trm của thời cuc lịch sử.

Trong phong trào Chn hưng Pht giáo ti miền Nam nước Việt, Đức Tổ sư Minh Đăng Quang đã góp phn làm sng li ánh sáng Pht pháp qua nếp sng thanh cao của người Kht sĩ. Tri qua 10 năm tu tp và hành đạo, Ngài đã đúc kết tinh hoa dựa trên stu, schứng của mình, viết thành bChơn llàm cơ stu tp cho hàng đệ tử vsau.

Với đề tài Cách dùng từ trong mt squyn Chơn lý”, người viết phân tích giá trị ý nghĩa ở mt số từ ngữ đặc biệt được Tổ sư sử dng. Đây là văn phong mang tính cht đi chúng phhợp với trình độ các tng lớp trong xã hi thời by giờ. Dù vy, các từ ngữ này mang nghĩa lý phhợp và tương đng với kinh sách đương đại. Đây là gia tài pháp bảo mà Tổ sư để li cho môn nhân, Tăng Ni, Pht tử đời đời noi du.
  1. NỘI DUNG
 
    1. Khái quát đề tài

Nn từ được sử dng trong bChơn lthuc văn phong xưa của Nam B. Văn phong này phhợp với lớp bình dân và phương ngữ được sử dng trong rt nhiều trường hp. Đây là nét đặc biệt góp phn tạo nên bn cht rt riêng của Hphái Kht sĩ.

Tuy nhiên, dkhác lạ nhưng những từ ngữ này li diễn tả Pht pháp hết sức sng đng và tương đng với hu hết các bn kinh văn, sách Pht hc đương đại. Dựa trên sự hiểu biết và schứng của mình, Đức Tổ sư Minh Đăng Quang sử dng nn từ đơn gin dễ hiểu để diễn gii Pht pháp cho người địa phương dễ nm bt và qua đó có thể nhn ra đúng chơn lý như Ngài mun truyền đt.

Từ những quyển tiểu lun riêng rẽ được kết tp trọn bChơn l
 


gồm 69 quyển, trong đó nếu xét trên phương diện triết hc nn ngữ thì nghĩa lý của nó sâu sắc vô cng. Tuy nhiên, Đức Tổ sư không đứng trên lp trường phân gii triết hc của nn ngữ mà chỉ đơn gin là dng nn từ gn gũi với mi tng lớp trong xã hi để thể hiện kiến gii của mình. Và đơn gin hơn, chúng ta gọi đây là vic dy đạo.

Đề tài Cách dùng từ trong mt số quyển Chơn lý” không đt nng tính triết hc hay phân tích ngữ pháp trong cách dng từ mà chỉ đưa ra giá trị tu tp, ý nghĩa trong các lời dy và bài hc nhn thức trong các từ ngữ đặc biệt của Đức Tổ sư. Do đó, bài viết này không phi chuyên sâu vào vn đề hc thut hay khảo cứu, cho nên các trích dn chyếu dựa vào bChơn lmà thôi.
    1. Từ ngữ cái biết”

Từ cái biếtđược Tổ sư sử dng trong rt nhiều quyển Chơn lcủa Ngài. Đây là mt từ ngữ mang phong cách rt riêng nhưng xét vnghĩa lý li không hề xa lạ với Pht pháp. Từ ngữ này được phân tích rõ ràng nht trong quyển Chơn lKht sĩ.

Ni dung quyển Chơn lnày nói vbn cht của người Kht sĩ là thanh cao, là nếp sng phm hnh của bậc Thánh. Để hành trì con đường này, người xut gia phi thực hiện hai phép xin: xin vt cht nuôi thân, xin tinh thn nuôi trí. Thực hành đường li đó, chúng sanh từ chưa biết sẽ đến biết và cái biết shoàn toàn viên mãn.

Người tu hành là trvvới chính tự tâm của mình. Theo lời Pht dy, tâm mi người hoàn toàn sáng sut, bởi vô minh che lp nên chưa được khai mở. Vô minh là không sáng sut, là u mê ti tăm, lm đường lạc li. Chúng bao phtuệ giác làm cho chúng sanh không có sự hiểu biết đúng như tht. Do đó, tu hành là xóa tan màn vô minh để đến với sự hiểu biết chân tht. Sự hiểu biết này trong Pht giáo có nhiều cách gọi khác nhau như: Pht tánh, Như Lai tng, Bn lai diện mục, Chân không diệu hữu, Niết-bàn diệu tâm…

Trên những cơ sở đó, Tổ sư đã phân tích vcái biết” rằng: Khất sĩ là cái sống ca chơn lvõ trụ, mà tt cchúng sanh đều là hc trò cthy. Bởi chúng sanh là cái biết, từ chưa biết đến đang biết, và cái biết
 


sẽ hoàn toàn ngơi nghỉ. Các sự thy nghe hiểu đđem li cho cái biết. Biết qubáu hơn không biết, cbiết mới hết mê lm chp trt, khổ sở nn tai. Từ nhđến lớn, từ thp đến cao, từ trước đến sau, từ chiều đến sáng, mi lúc cái biết càng phân biệt, làm việc ch trữ, lớn to và đi tới, làm cho chúng sanh càng ngày càng được thêm sự hc hành. Chúng sanh đây là căn thân và chthức (là người nhn biết). Cho nên cái biết chcn phi sống, lớn, ăn, vui, yên, và còn mãi mãi. Chính biết là ta, là mc đích ca chúng sanh, là chơn lý ca cuộc đời, là tinh ba ca võ trụ. Chính chơn lhay triết lmới là môn hc tht tế, ích lợi đi ngay đến Niết-bàn, kêu là đo: Là sự hc không hai, là cái hc ca ta, nó ở với ta, nuôi sống cái ta, nlàm ta vy1.

Li phân tích từ ngữ cái biếtcủa Tổ sư đi theo mt lộ trình nht quán từ thp lên cao: từ chưa biết, đến biết và cái biết sẽ hoàn toàn ngơi ngh. Đây là lộ trình rt chính xác đi với đời sng của mt con người. Sinh ra trên cuc đời, bt kngười nào cũng chưa thể có sự hiểu biết ngay được. Do vy, cn phi qua mt quá trình khôn lớn, được nuôi dy từ gia đình đến trường lớp, từ đó kiến thức qua kinh nghiệm sng và hc hành mới mi ngày mi già dn, cng thêm tư cht thông minh và tinh thn tìm cu hc hi cũng như khnăng tiếp nhn khác nhau nơi mi con người. Như vy, từ khi sinh ra cho đến lúc trưởng thành, con người đã tuân theo lộ trình nht quán là từ chưa biết đến hiểu biết. Bởi thế, Tổ sư dy: Các sự thy nghe hiểu đđem li cho cái biết”.

Đứng vgóc độ tâm thức, chúng sanh vốn bmê mờ trong ng luân hi sanh tử. Do không đy đủ sự hiểu biết nên cứ phi sa đọa trm luân. Nếu chúng sanh y đy đủ thun duyên quay về nương tựa Tam Bo, phát tâm tu hành, trí tuệ smkhai, liễu ngộ các pháp thiện và ác. Nht là hiểu biết về con đường đon trừ ác pháp, tăng trưởng thiện pháp và hướng đến gii thoát rt ráo. Đây cũng là con đường chung mà tt cả chúng sanh nên ly làm mục tiêu để bẻ gãy bánh xe sinh tử. Tt cả đều tựu trung trong cái biết”: Chính biết là


1. Tổ sư Minh Đăng Quang, Chơn lý, tp I, Kht sĩ, Hà Nội, Nxb. Tôn go, 2009, tr. 259.
 


ta, là mc đích ca chúng sanh, là chơn lý ca cuộc đời, là tinh ba ca võ trụ. Chính chơn lhay triết lmới là môn hc tht tế, ích lợi đi ngay đến Niết-bàn, kêu là đo: Là sự hc không hai, là cái hc ca ta, nó ở với ta, nuôi sống cái ta, nlàm ta vy”.
  1. Từ ngữ vi trùng

Tngữ này được sdng trong quyn Chơn l43 Xthiên đường.

Ni dung quyển Chơn lnày được Tổ sư triển khai ý pháp qua mô hình của mt cnh giới chư thiên. Ở nơi đó, mi người đều có đạo đức và sự hiểu biết đúng chân lý. Bn cht xu xa hay tt đẹp ở xứ này được sử dng qua từ ngữ vi trng. Cui cng, khi phân gii mi nghĩa lý mô hình chun mực, Tổ sư hướng chúng ta quay li nơi tự thân mình. Ngài khai ngcho chúng ta biết rằng mô hình đó không phi bên ngoài mà trong thân mình đã có đy đ.

Về từ ngữ vi trng” thực cht chỉ là nn ngữ n dcho con người từ xác thân vt cht đến tinh thn hay tâm thức. Ngài dy rằng:

Chúng ta đây, mi người đều cthân thể, thân thy, tức là mt khi vi trùng: vi trùng thy, vi trùng nghe, vi trùng hửi, vi trùng nếm, vi trùng rờ, vi trùng tưởng, vi trùng nữ, vi trùng nam, vi trùng đen, vi trùng trắng v.vđthứ vi trùng đang tranh đu”.

Từ ngữ vi trng nghĩa đen là những sinh vt nhbé chỉ có thể thy được qua kính hiển vi được phát hiện vào năm 1683. Ở đây, rõ ràng Tổ sư không nói đến nghiên cứu y khoa để nói vbệnh tt hay cách điều trị bệnh do vi trng gây ra. Ngài chỉ dng từ ngữ dễ hiểu nht để giúp mi người hiểu được ý pháp mà Ngài mun nói.

Thân thể con người được hhợp bởi tứ đại, trong đó lục căn: mt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý đều là các thành tố tạo nên con người. Đức Tổ sư dng vi trng thy để chỉ cho sự thy của nhãn căn, vi trùng nghe để chỉ sự nghe của nhĩ căn, vi trùng hửi để chỉ sự ngửi của tỷ căn và vi trng nếm để chỉ sự nếm của thiệt căn. Trên phương diện Duy thức hc, đây được xem là Tiền ngũ thức, tức là ngũ căn. Chức năng của tiền ngũ thức tương đương với chức năng của năm cm
 


giác của tâm lý hc hiện đi: thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác và xúc giác.

Vi trng, theo ý pháp của Tổ sư, còn được hiểu là sự tác ý. Nếu tác ý nào mnh thì tác ý đó làm chủ và sẽ dn dt thân và miệng theo chúng. Đây được gọi là hành nghiệp hay sự tạo tác nghiệp: “Ví nvi trùng đi thng, thì nlôi chưn đi; vi trùng nói thng nbt nói; vi trùng nữ thng là người nam mng dc tâm, biến thành nữ; vi trùng nam thng, là người nữ mng dc tâm, biến thành nam; vi trùng tham sân si, làm cho ham mun, gin hờn mê mui”.

Sau khi dng từ ngữ vi trng để cho mi người dễ hiểu về xác thân tứ đại, ngũ căn, hành nghiệp... Tổ sư đã triển khai ý pháp Bát- nhã tánh không qua pháp quán lý Duyên khi. Ngài dy: “Nthế thì thân thvi trùng phi hợp ca chúng ta đây vn không ccái ta chtể, và không bền vững, bởi sự tranh đu ca vi trùng. Chúng ta đang ăn uống vi trùng, đi đứng trên vi trùng, không cái cnào chng phi là vi trùng sống, hay gc trùng c”. Cái ta tht sự là pháp tánh bên trong mi con người: Cái sức mnh ca chúng nkêu là linh, c pháp ca chúng nó gi là thn. Thế nên trong võ trụ, hay trong mi thđều cba cái: sống, biết, linh là chtể. Ba cái y làm ta, chớ xác thân không phi cthật”.

Cui cng, con đường đi đến gii thoát là phi phân định được pháp nào giả duyên, vô thường thay đi và pháp nào là cái ta chắc tht vững bền. Vi trùng ở đây trở thành pháp tu cụ thể để đi đến sự giác ngrt ráo, còn gọi là gc trùng. Tổ sư dy rằng: Vy thì chcchúng sanh hay sẽ là Pht đi với chơn lthôi, vì nlà chtể, chvn vt là sự lm nhn, còn các pháp là sự tranh đu không bền, không phi ctht. Các thứ vi trùng tranh đu xưng ta, giành cái ta làm chủ, mà tự xưng tên gi pháp, ví nvi trùng thương, vi trùng nhơn, vi trùng phi, vi trùng tự cao, v.vchúng nhng giành choán xưng vương, nng bởi tánh không định, nên không yên vững đng, mà hu hết đều gi là vi trùng nh, vi trùng vô ích, không dùng được ca sự chn lc, nên cũng gi là vi trùng chết yểu. Mà chcvi trùng định, chơn như, gc ng, là sống tn ti vĩnh viễn còn hoài, thng tt cbng tự nhiên, hnh phúc
 


an lc, nên gi là ta, cta, vua chủ sống được. Cái ta y tức là vi trùng giác hay Pht”.
  1. Từ ngữ ông, cha, con, cháu

Các danh từ ông, cha, con, cháu” được sử dng trong quyển Chơn l44 Vhung thn2. Quyển này được miêu tả qua đon đi thoi giữa vị hung thn vn nn mt vị Tỳ-kheo và vị y đã dng pháp lý ging dy khai thị cho vị hung thn giác ng.
    1. Ý nghĩa từ ông
 
  • Tổ sư xác nhn danh từ ông” là nghĩa lý biểu trưng cho các bậc giác ngộ như cPht và Bồ-tát. Các Ngài xut hiện nơi cõi đời để giáo hóa chúng sanh. Các Ngài là lớp trên cng, cao tt cho chúng sanh ngưỡng vọng.

Cnh giới ca bậc ông là định, yên lng chơn như, tâm tht, trong sch yên lng, sáng sut không không, yên nghnín lng, trang nghiêm đm thm, từ bi đức hnh, hỷ xả trí huệ, hiền lành trm tĩnh, và gc ng. Ông y phi là bn dng, dt đường cho trnhđi sau đang lc lm chết khổ; cùng sự chbảo cho người học hi sưu tm. Ông y đã phi đến lớp tui cn chgc ngộ cho người, ông phi là ông thy hướng đạo, dt nhơn loi đến chn thnh thơi ngơi nghỉ. Ông là ông thy go đi dy đạo khp nơi, không nhn tiền lương bn”.
  • Xét vphương diện tâm, thì bậc ông, tâm đã trnên hoàn toàn sáng sut. Tâm này hợp nht với cPht, Bồ-tát vượt lên trên mi tri kiến thế gian và hiểu biết trọn vẹn hơn mi loài chúng sanh.

Tâm ông là phi trn sáng trn lành, chơn chánh ngay tht, lớn to tròn tra. Ông chphi còn tâm, ctâm không mà thôi. Người ta kêu gi tiếng ông, là vì lớp tui đcái tâm đã hoàn toàn cứng chc, tt đp thành tựu. Cái tâm y tức là chúa tể ca tt cchúng sanh, vn vt c pháp, do chúng sanh vn vt c pháp un đúc tạo thành. Cái tâm y là vquân tử, là đức tánh qubáu nht đời. Cái tâm y là chtể sự thành công, sống đời, toàn gc, linh thiêng lm, vì nkhông còn tham sân si

2. Sđd, tp II, Vhung thn.
 


nhhp vy”.
  • Để được trở thành bậc ông, hành giả phi làm chủ được lục căn khi tiếp xúc lục trn.

Ông già: mt chng phi ngó xem xa gn, ltai chng phi nghe tiếng lớn nh, mũi chng phi hửi mùi thơm thúi, lưỡi chng phi nếm vngt chua, thân chng phi còn động chm sch dơ, ý chng phi lo nhmun tính”.
  • Địa vị này là nấc thang cui cng, là chỗ hướng vcủa mi người phát tâm tu hành gii thoát.

Mà trong đời, knào đã sớm ccái tâm ht ông già y là ông y chcòn có sự lng trơ thôi, đâu còn phân biệt cái khen chê, lợi hi, khvui, làm nói, đến đi, ckhông, còn mt, chết sống! Nghĩa là đâu ccái chi xen vào đựng chứa, ở trong cái tâm ông cứng đc y được, thì trách sao lời nói việc làm ca ông chng phi là chđem li cho cái mc đích chánh đnh, chơn như, trơ lng ca người quân tử, Pht, sống trong cái tht, không không làm gc ng, gii thoát những sở chp, vượt ra ngoài cái ccó. Do đmới ctiếng ông, người ta gi đt ra, tên ông này, lớp này vn sn cmãi nơi đời, nào ai há ly, bchi được sao?
    1. Ý nghĩa từ cha
 
  • Tchalà nghĩa biểu tng cho đạo lý sng ở đời ca người biết sng vì lợi ích cho người khác. Chađược Tsư sánh như hàng chư Thiên sng bằng trí hiểu biết cao hơn người thế gian. Cnh vì vy, đạo lý sng ca bậc này cũng cao thượng hơn những chúng sanh khác.

Cha là đạo lý ca khy sinh, lợi tha xả k. Cha là tên gi ca k không ta không mình, là sự san sẻ tht máu xương da, tô đp cho các chúng sanh vn vt. Cha là kẻ sanh con, là người lớn, cái lớn ca thanh cao qung đi, không không, trùm chứa trn lành, trong sch lớp trên. Cha tức là Trời, là thức trí, trí huệ, sống cho mình bng trí. Trí là ta, thân là người, vt cht ca ci cái có, cái tt cái vui hay khéo lnơi sự vt, là ca người, chkhông phi ở nơi mình nữa. Cái tiếng cha, đạo
 


làm cha, go lbậc cha, tư cách người cha, bn phn cha, tên cha là phi sống cho kkc, làm nói cho người, nhtính lo nghĩ cho người, phi không còn tư riêng nhhp”.
  • Bn phn làm cha, Tổ sư phân định thành hai phương diện cụ thể:

Trong tiếng cha cđến hai bn phn: vừa là phi nói làm nuôi mc đích ca tên ông, vừa là phi tế đcho tiếng con lớp dưới. Nghĩa là cái thiện phi nuôi giữ đạo đức chơn như, phi đến với đạo đức chơn như, cũng ncái rut trí phi nuôi tâm ht, người lớn phi nuôi ông già, đmình tập ln theo cái du chưn ông già y. Và còn phi thương xót li cái ác quy trcon di dt, mà ct nhắc chúng nđem lên, đ khi mình bước đến lên ông già, thì tiếng con kia sẽ trthành cha, noi gương kia ủng hli. Nthế tức là sự kéo níu, dt nương ln nhau đ đi lên tới hết”.
    1. Ý nghĩa từ con

Danh từ conmang pháp ý con người sng với bn năng của xã hi thun túy. Trong đó, sự đu tranh hơn thua dựa trên vt cht là chyếu.

Tiếng con cũng là mt đo lut, tên con là chrõ danh từ ca pháp nhnt cn con, cái thiện cái trí nhhp ca hng người tự độ tự k, cái thiện cái ác bng nhau. Đo lý ca con là ác, hnh phúc ca ci ca con phi là món ăn sự mc chỗ ở, vt cht đua tranh, mnh được yếu thua, chết ri là hết, vti thúi ri là tiêu, thân mt đi không còn tâm trí, không ccái chi về sau cthy vy”.

Dưới cái nhìn Tâm lý hc, Đức Tổ sư đã dy rt chính xác về tính cách và tâm lý của những con người trong lứa tui thanh niên. Lứa tui này không phi nhỏ nhưng chưa phi lớn. Do đó, đi vào xã hi còn non kinh nghiệm và chưa có cách ứng xử trưởng thành.

Con thì chưa bao girảnh rang, dòm ngó kinh nghiệm, thy xa sự bền dài. Tui y ai cũng háo thng thèm thuồng, khoe hay thích khen, bên ngoài trước mt, tìm kiếm những cái lmới, cái tham nhiu”.
 


Tổ đã dy về đạo lý của kẻ làm con như sau:

Nng du nthiếu trí đến đâu, chcon đường ca nó cũng ích lợi cho kẻ sau, và nó sẽ tiến lên bước trước. Cũng ncái trái non, n không bao gicố gượng sức lớn già ca nó được, nếu nkhông phi thúi rụng. Đo lý ca con rất phi cho nó, kìa mt em bé kia mà ít ăn nmt ông già, thì ti sao chúng ta cho là bnh, nít nglà người ta khuyên d, ti sao nchng giống ông già người lớn, và ti sao n không làm vic nng nề sức lực được? Thế mới biết: tên con là ht giống yếu nhcòn non, tiểu nhơn chng sánh được đi nhân quân tử. Đúng nthế, con nhai chng lo ăn là cn, và o ai nhn được rng c sống mới căn, cthiện cchơn, có sống cvui thì ăn mới được. Và ở trong đời, ta nhn đói mt bui không sao, chtham ác thì trong mt gi phi chết khổ sớm vy”.
    1. Ý nghĩa từ cháu

Từ ngữ cháu” được Tổ sư phân tích qua các tính từ và từ láy rt đi văn chương mang ý nghĩa vô cng thâm thúy. Ở đây, Tổ sư không chỉ trích con nít là sai, mà chỉ dng hình nh con nít để chỉ cho căn cơ thp kém của mt sngười.

Tiếng cháu là sự nhnhít lệu ệu đchnhững đứa bé mới sanh, chbiết uống ăn cười khóc co ngoe ỏng o. Tên cháu là chrõ sự nhu nhuyễn lỏng bỏng nmt cái ntrái, mới mọc vượt giữa bông hoa, n chưa cthành nên hình tượng cái chi rõ rt. Cháu cht chít, là sự thun co, ngo ngoe, nó cũng chưa biết thân ca nlà ra sao nữa. Nchbiết ăn chơi ngthức by nhiêu thôi, cháu cht chít là sự vô dụng, vì tt c đều lo cho nó, bthí cho nó, mà nchng biết chi cả, chết sống tự nơi người kc do nhơn duyên cnh ng, chnkhông cchtchi hết. Đời ca nchncây non cnh, không còn ai biết nra gì, ai cũng lo cho nó, no hi người ta li còn thêm sự nhõng nho làm nư hờn gin, điệu bo lkhcho người ta dngt”.

Tổ sư đưa ra nhn định về ý pháp của danh từ cháuhay con nít như sau:

Go lý ca nlà con sâu con trong nhơn loi; đạo lý ca nlà
 


ác quy, gin hờn, ganh gt, đk. Nmê hoặc cngười ta mà không tự hiểu biết ra chi cả, nlà mt con vt rất nhnhít được người ta tha thứ mà nuôi sống mi ngày. Nlàm cho người ta vì xót thương cái kh di mà tưng tiu săn sóc. Bn phn ca cháu phi là nhnhít hơn hết. Và nthế là cu thhơn hết, tmt hơn hết, ở trong đời người ta gi tiếng cháu là mt con vt, chchưa phi người vì chưa phi là có được ht giống nhơn người chi nữa”.

Như vy, bn bậc này là tượng trưng cho bn hng bậc và bn đạo lý sng ở đời. Tổ sư đã dy như sau:

Vy thì loài người cbn bậc, bn go lý, bn đạo, bn tên gi: Từ ông đến cha, đến con, đến cháu; cũng là mt con đường cbn chng từ thp tiến lên cao, từ thú đến người, đến trời, đến Pht; hay cũng là từ ác đến thiện, đến huệ, đến chơn. Pht thì chơn nvà trí huệ, Trời thì trí huvà thiện lành, người là thiện lành và ác quy, thú là ác quy và khdi. Pht, Trời, người, thú là ông, cha, con, cháu, và món ăn là chơn như, trí huệ, thiện lành, ác dữ. Trong bn lớp y chia ra làm hai hng là quân tử và tiểu nhơn”.

Rõ ràng, những lời của Đức Tổ sư dy bảo trong quyển Chơn lnày là bn hng bậc của quá trình tiến hóa trong tâm thức giác ngcủa con người. Ban đu từ cháu” là pháp ác đến con” là pháp thiện, đến cha” là hu, cui cng đến ông” là giác chơn. Đây là con đường tiến hóa của chúng sanh từ thp lên cao, từ ác đến thiện và đến sự giác nghoàn toàn.
  1. KT LUẬN

Từ ngữ là sự giao tiếp không thể thiếu trong đời sng con người. Từ ngữ trong nói năng hay viết lách đều có chức năng truyền ti thông tin của người nói - viết đến người nghe - đc hướng đến sự rõ ràng chính xác. Trong vic hong pháp lợi sinh, từ ngữ được sử dng trong thuyết ging và trước tác kinh sách đều vô cng quan trọng. Pht pháp muôn trng, nghĩa lý li vô biên nên chỉ cn sai mt từ là có thể gây nguy hi cho cả mt đời tu tp. Bên cnh đó, ý pháp trên các từ ngữ mà cPht, cTổ để li trong kinh văn hay các trước



tác của các Ngài đều vô cng uyên áo. Điều này được gọi là ti ngôn ngoại”. Từ những nghĩa lý trên, vic tìm hiểu cách dng từ trong kinh văn và các trước tác là công vic có giá trị và rt quan trọng.

Các từ ngữ mà Đức Tổ sư đã sử dng mang nhiều ý nghĩa thâm thúy vô cng. Ngài sử dng nn từ của chính người bình dân địa phương để diễn tả Pht pháp vừa gn gũi li vừa sâu sắc. Điều này đã mang li thành công lớn trong vic chn hưng Pht giáo ti Việt Nam trong thời đi lúc by giờ và còn mở ra con đường tu hc đúng đn theo Đức Pht ngày nào.

BChơn lcủa Đức Tổ sư Minh Đăng Quang là cơ sở nhn thức, lý lun, tu tp và hành đạo của cTôn đức Tăng Ni và Pht tử trong Hphái. Đây là kim chỉ nam cho sự ni truyền tông môn Kht sĩ. Tuy nhiên, để hiểu lời Tổ dy mt cách thu đáo thì cn phi dng công. Với đề tài này, người viết chỉ trình bày phn cm nhn của mình dựa trên shc và stu còn rt nông cn, thm chí còn sai lm trong nhn thức về cách diễn đt và sử dng từ ngữ của Tổ sư. Chúng con xin thành tâm đnh lễ sám hi trước Đức Tổ sư và chư Đức Thy trước những sai sót đó, cúi mong Đức Tổ sư thùy từ chứng giám. Và chúng con thành tâm đnh lễ cTôn đức Tăng Ni, cúi mong quý Ngài chứng minh cho kiến gii còn hn hẹp của chúng con qua đề tài này và chỉ dy thêm cho chúng con được mmang tm nhn thức.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây