64. GIÁO DỤC PHẬT GIÁO KHẤT SĨ: TỪ TRUYỀN THỐNG ĐẾN HIỆN ĐẠI

Chủ nhật - 09/09/2018 12:47
GIÁO DỤC PHẬT GIÁO KHẤT SĨ: TỪ TRUYỀN THỐNG ĐẾN HIỆN ĐẠI
ĐĐ.TS. Minh Liên
Pháp viện Minh Đăng Quang, Q. 2, TP. HCM
  1. Dn nhp

Hin tài là nguyên khí ca quc gia, câu nói ca người xưa nhằm nhấn mạnh tầm quan trọng ca người tài đức trong mt đt nước. Đt nước có mt nn giáo dc tt ssản sinh ra hiền tài làm ng vượng quc gia; ngược li, dân tc sblc hu, nghèo nàn và trì tr.

Pht giáo là mt bộ phận cu tnh xã hi, giáo dc đào tạo nhân tài Pht giáo liên quan đến sng thịnh hoặc suy vi ca tương lai Pht giáo. Pht giáo Kht sĩ, mt tnh vn ca Giáo hi Pht giáo Việt Nam, kể từ năm 1981 đến nay (2014), trong sut chặng đường hơn 30 năm lịch sử mi ca dân tc, Pht giáo Kht đã giáo dc và đào to mt thế hệ Tăng Ni đkhả năng tch ng vi điều kiện cuc sng mi, hòa nh cùng vi các truyn thng Pht giáo, góp phần xây dựng ngôi nPht giáo Việt Nam ngày càng phát triển.

Nn lại chặng đường giáo dc đào to ca Pht giáo Kht sĩ trong 30 năm qua, ghi nhận những tnh quđã gt được, đng thi b khuyết và cải thiện những mt còn hạn chế là mt vic làm cần thiết.
 
 
  1. Giáo dc truyền thống của Pht giáo Kht sĩ (1944 - 1981)

Giai đon này chúng tôi tm chia thành 2 thời k:
    1. Giáo dục trong thời kTổ sư (1944 - 1954)

Tổ sư Minh Đăng Quang bt đu thực hành theo gương hnh truyền thng Du tăng Kht sĩ của Đức Pht Tổ Thích-ca Mâu-ni vào năm 1944. Như vy, nếu chúng ta ly năm 1944 làm mc lịch sử, đánh du sự ra đời của Đạo Pht Kht Sĩ Việt Nam, tính đến nay (năm 2014) Pht giáo Kht sĩ chỉ vừa tn 70 năm. Nếu so với lịch sử hơn 2000 năm của truyền thng Pht giáo Bắc tông và Nam tông, lịch sử Pht giáo Kht sĩ có th nói là q non tr.

Khi Tổ sư Minh Đăng Quang mới hành đạo (1944), với phm hnh trong sáng và đạo phong thoát tục của mình, con đường hành đạo của Tổ sư li khế hợp với truyền thng của Pht Tăng xưa, nhờ vy, trong ng 10 năm, Tổ sư đã cm hóa và tế độ hàng trăm Tăng Ni, và hàng vn tín đồ cư sĩ Pht tử.

Tổ sư Minh Đăng Quang đặc biệt đề cao pháp hành Giới Định Hu, mà đời sng Du tăng Kht sĩ theo truyền thng của Đức Pht Thích-ca Mâu-ni là mt trong những nét đặc thcụ thhóa của tinh thn y. Với tinh thn sng chung tu hc: Cái Sống là phi sống chung, cái Biết là phi hc chung, cái Linh là phi tu chung”, Tổ sư kêu gọi sự hòa hợp của các truyền thng Pht go, thể hiện qua phương châm Việt Nam Đo Pht không cphân thừa1. Chính vì vy, trên nền tng Kinh Lut Lun Nam tông và Bắc tông Pht go, Tổ sư đã khéo léo kế thừa và thâu hóa sáng tạo những tinh túy, mang tính dung hòa giữa hai truyền thng, làm ni dung giáo dục và thực hành cho Tăng Ni Kht sĩ lúc by giờ.


Giáo dục Tăng Ni của Pht giáo Kht sĩ trong thời kTổ sư chyếu chú trọng về đạo hc, tâm hc, có thể tm gọi đây là đường li giáo dục giác ng. Với đường li này, mục đích của giáo dục là khai mở tâm trí, chuyển hóa ni tâm, đưa người hc hướng đến đời sng
      1. Tổ sư Minh Đăng Quang, Chơn lý, tp III, “Đạo Pht Kht Sĩ, Hà Nội, Nxb. Tôn go, 2004, tr. 429.
 


xut ly thông qua thực hành con đường phm hnh Du tăng Kht sĩ của Đức Pht Thích-ca Mâu-ni, chứ không chú trọng vmt làm giàu tri thức cho người hc.

Mặc dù thời gian hiện diện của Tổ sư không lâu, chỉ vỏn vẹn 10 năm, khong thời gian qngn ngủi so với mt đời người, li chng đáng là bao so với công trình tâm linh. Nhưng có thnói, sự nghiệp giáo dục đào tạo Tăng Ni của Tổ sư Minh Đăng Quang đã rt thành công. Hu hết các vị đệ tử lớn có thiện duyên th hc trực tiếp từ Tổ sư, sau khi Ngài vng bóng (1954), không những trở thành những bậc thy mu mực về đạo phong tu hc phm hnh, mà còn là những vị Kht sĩ có tâm lực lớn thực hiện theo cnguyện Tổ sư, thành lp các giáo đoàn Du tăng Kht sĩ đi hành đạo khp hai miền Nam Trung nước Việt, tiếp ni sứ mệnh Ni truyền Thích-ca Chánh phápmà Tổ sư đã khai mở.
    1. Giáo dục trong thời kc Đức Thy và quý Ni trưởng đệ tử của Tổ sư (1954 - 1981)

Sau khi Tổ sư vng bóng (1954), Trưởng lão Giác Chánh và Trưởng lão Giác Như kế nhiệm lãnh đạo đoàn Du tăng Kht sĩ (sau này gọi là Giáo đoàn I) hành đạo sut các tỉnh miền Trung và mt số tỉnh thành miền Đông và miền Tây Nam B. Đến năm 1957, mt sTrưởng lão Hòa thượng trong đoàn Du tăng đứng ra thành lp các giáo đoàn riêng. GĐ II do Trưởng lão Giác Tánh, Giác Tịnh lãnh đạo, hành đạo khu vực Duyên hi miền Trung và TP. HCM. GĐ III do Trưởng lão Giác An thành lp, hong hóa khu vực Duyên hi miền Trung và các tỉnh Tây Nguyên. GĐ IV do Hòa thượng Pháp sư Giác Nhiên thành lp, hành đạo khu vực TP. HCM và các tỉnh miền Đông, miền Tây Nam B. Đến năm 1960, Trưởng lão Giác Lý thành lp GĐ V, hành đạo khu vực miền Trung và miền Nam. Hai năm sau (1962) Thượng tọa Giác Huệ thành lp GĐ VI, hành đạo khu vực TP.HCM và các tỉnh miền Tây Nam B.

Ngoài ra, khi còn hiện diện, Tổ sư Minh Đăng Quang cũng đã chứng minh tiếp độ hàng Ni giới, thành lp Giáo đoàn Ni giới Kht sĩ. Sau này, quý Ni trưởng Huỳnh Liên, Bch Liên và những vị đệ tử
 


lớn bên Ni kế thừa lãnh đạo, thành lp Giáo hi Ni giới Kht sĩ Việt Nam (1956), hành đạo khu vực TP.HCM, miền Đông-Tây Nam B, khu vực miền Trung và các tỉnh Tây Nguyên. Vsau bên Ni giới còn có 2 phân đoàn, phân đoàn 1 do Ni trưởng Ngân Liên và phân đoàn 2 do Ni trưởng TLiên thành lp, hai vị là đệ tử thứ 5 và thứ 9 trong hàng Ni chúng của Tổ sư Minh Đăng Quang.

Trong thời kỳ thành lp Giáo đoàn và hành đạo của các Trưởng lão và quý Ni trưởng, từ năm 1954 đến năm 1975, càng lúc số lượng Tăng Ni xut gia ở mi giáo đoàn ngày càng đông, cơ sở tịnh xá ngày mt nhiều. Trong mi giáo đoàn, cTăng chia thành Tăng hành đạo và Tăng trụ xứ, để luân phiên nhau đi hành đạo. Từ năm 1975 đến năm 1981, do nhiều nguyên nhân khách quan, đời sng Du tăng không còn thun duyên, phn lớn cTăng Ni Kht sĩ đều dừng bước chân du hóa, lui v tu hc ti các tịnh xá.

Dù vy, có thnói, đến thế hệ đệ tử của các Đức Thy và quý Ni trưởng, giáo dục của Pht giáo Kht sĩ vn ghi đm tính giáo dục truyền thng như thời kcủa Tổ sư, nghĩa là phương thức giáo dục thời by giờ chyếu vn là người thy trực tiếp truyền thkinh nghiệm tu hc thông qua đời sng phm hnh của mình cho người đệ tử, người hc trò nương theo thy để trau di đạo đức, những oai nghi tế hnh ban đu của người xut gia.

Ni dung giáo dục thời knày, mặc dù đem li mt sTăng Ni Kht sĩ có cơ hi bi dưỡng thêm tri thức phổ thông, cũng như mrộng nghiên cứu tam tng kinh điển Pht go..., thế nhưng những bài pháp do Tổ sư Minh Đăng Quang thuyết ging, được biên son, kết tp thành bsách Chơn lvn là ni dung tư tưởng căn bn, mang tính chủ đạo cho Tăng Ni Kht sĩ thhc và hành trì.

Đặc biệt, đi với người mới xut gia, ni dung giáo dục trong quyển Lut nghi Kht sĩ không những mang tính giáo dục căn bn trong bui đu hc đạo, mà còn có tính bt buc, và là bn phn của người tp sự Sa-di cn phi hc và thực hành.

Vào thời này, ti các ni đạo tràng tịnh xá, mi bui sáng sớm
 


những người đệ tử tp sự, Sa-di đều có bn phn đến đnh lễ vị thy mà mình theo hc, trả bài cũ và tiếp nhn bài hc mi, các bài hc này đều i gọn trong quyển Lut nghi Kht sĩ, đây là những bài hc không thể thiếu của mt vị tp sự, Sa-di. Sau khi trả bài xong, vị thy chỉ dy cho hc trò về đời sng đạo hnh của người xut gia, nhắc nhở và khuyến tn, để hc trò chỉnh sửa kp thời những khiếm khuyết trong đời sng phm hnh của mình. Vị trí của người thy rt quan trọng, người thy chng những là người hướng đạo mà còn có trách nhiệm đến đời sng tu hc ban đu của người đệ tử. Ngược li, người đệ tử cũng phi có bn phn đi với thy. Sau khi chn thy xong, phi mt lòng vâng theo lời thy dy, nht nht tuân theo sự giáo dưỡng của thy.

Bước đu bn phn làm trò,

Cả thân tâm ý dâng cho người thy, Mc người un nn chuyển xoay, Đng nh diệt hn riêng tây ý xng2.
Có thnói, đây là những ý tưởng giáo dục mang tính đặc thù trong truyền thng giáo dục Pht go, mà Tổ sư Minh Đăng Quang đã kế thừa và phát huy, nhm giúp cho người mới hc đạo bỏ dn tự ngã, điều phục tâm tánh, khiến cho tâm được nhu nhuyến. Đường hướng giáo dục này trong thời kTổ sư và các Đức Thy rt được xem trọng.

Nhìn chung, trong giai đon 1944 - 1981, cho dù là thời kTổ sư (1944 - 1954) hoặc là thời kỳ các Đức Thy và quý Ni trưởng đệ tử lớn của Tổ sư (1954 - 1981), giáo dục của Pht giáo Kht sĩ vn mang hình thức gia go, chú trọng về đạo hc và tâm hc, thông qua pháp hành Du tăng Kht sĩ theo truyền thng của Đức Pht Tổ Thích-ca Mâu-ni.


Trong giai đon này, Pht giáo Việt Nam đã kinh qua thời kchn hưng và phát triển giáo dục, các Pht hc viện, Pht hc đường

2. Tổ sư Minh Đăng Quang, Lut nghi Kht sĩ, tr. 25.
 


đã được mở ra nhiều nơi để đào tạo nhân tài cho Pht go. Thế nhưng, giáo dục của Pht giáo Kht sĩ vn đc lp trong truyền thng giáo dục của mình, và đã gt hái được những thành tựu khquan, chun bchuyển sang giai đon hi nhp và phát triển mi.
  1. Giáo dc Pht giáo Kht sĩ trong thời hin đi (1981 - 2014)

Ở đây, để đơn gin và dễ dàng cho sự đánh gkết quả của giáo dục Tăng Ni Kht sĩ trong thời hiện đại, giai đon này chúng tôi không chia theo mc thời gian mà dng ranh giới không gian để phân định.
    1. Giáo dục Tăng Ni Kht sĩ ở trong nước

Sự kiện lịch sử ngày 30 tháng 04 năm 1975 đưa dân tc Việt Nam bước sang mt trang sử mới: trang sử thng nht đt nước.

Theo yêu cu của thời đại, cui năm 1981, Giáo hi Pht giáo Việt Nam ra đời trong tinh thn thng nht và hòa hợp của 9 tchức Pht go, Giáo hi Tăng-gKht sĩ Việt Nam (tiền thân của Pht giáo Kht sĩ) là mt thành viên trong 9 tchức đó.

Để đào tạo Tăng Ni tài đức cho Pht go, không lâu sau, Trường Cao cp Pht hc Việt Nam cơ sở I (tiền thân của Hc viện Pht giáo Việt Nam ti Hà Ni) được thành lp (1981), cơ sở đt ti chùa Quán Sứ, mmàn cho giáo dục Pht giáo Việt Nam trong thời đi mi.

Đến năm 1984, Trường Cao cp Pht hc Việt Nam cơ sở II (tiền thân ca Hc viện Pht giáo Việt Nam ti TP. HCM) được ra đời, khóa đu (1984 - 1988) tuyển sinh trên dưới 100 Tăng Ni, trong số đó thp thoáng mt vài bóng y vàng ca Tăng Ni Kht sĩ. Có thể nói, đây là bước ngoặc đánh du schuyển biến trong vn đgiáo dc Tăng Ni ca Pht giáo Kht ; bước ngoặc khi đu cho giai đon chuyển tiếp từ giáo dc gia giáo truyền thng đến giáo dc hc đường hiện đại. Hoặc có thể nói, đây là bước ngoặc chuyển tiếp từ giáo dc đcao đạo hc, tâm hc, chuyển sang giai đon giáo dục thiên vtri thức.

Sau thời kmở cửa (1986) nht là những năm cui thế kXX, trên cả nước các cơ sgiáo dục: sơ, trung, cao đẳng và đi hc Pht
 


giáo đều được thành lp; số lượng Tăng Ni Kht sĩ tham gia các cp giáo dục Pht giáo ngày càng nhiều. Bên cnh đó, ti các trường tiểu hc, trung hc, đi hc và các trung tâm bi dưỡng văn hóa cũng có các vị Tăng Ni Kht sĩ theo hc.

Có thnói, hiện nay hu hết ti các cơ sở tịnh xá tự viện thuc Pht giáo Kht sĩ, nơi nào có Tăng Ni trẻ xut gia, tùy theo điều kiện mi trú xứ, các vị tôn túc trụ trì đều khuyến kch những Tăng Ni trẻ theo hc ti các cp giáo dục Pht hc và thế hc.
    1. Tăng Ni Kht sĩ du học ở nước ngoài

Sau thời kỳ ci cách (1986), kinh tế, văn hóa và giáo dục... của Việt Nam đều được phát triển, nhu cu văn hóa tri thức của con người ngày mt nâng cao, giáo dục xã hi Việt Nam xut hiện mt trào lưu xut dương du hc. Thế hTăng Ni trViệt Nam cũng hi nhp theo trào lưu mi.

Từ năm 2011 về trước, giáo dục Pht giáo trong nước chưa được phép đào tạo cp hc Thạc sĩ3. Vì vy, trong thời knày, các vị Tăng Ni tt nghiệp cử nhân Pht hc trong nước, nếu mun tiếp tục đi trên con đường hc vn, đa phn đều chn gii pháp du hc, trong số đó có không ít Tăng Ni Kht sĩ.

Có l, Tăng Ni Kht sĩ chính thức du hc là vào năm 19914, người khởi đu là Ni sư Tín Liên, đến năm 1993, mt số vị bao gồm: TT. Minh Thành, TT. Giác Nn, và các Ni sư Huệ Liên, Phng Liên, Tường Liên… cũng lên đường du hc. Đây là mt số trong những Tăng Ni Kht sĩ tt nghiệp khóa I (1984 - 1988) của Trường Cao cp Pht hc Việt Nam cơ sở II.

 
  1.  
  1. Năm 2011 Chính phViệt Nam mới cho phép Học viện Pht giáo Việt Nam ti TP. HCM mở lớp đào tạo Thạc sĩ đu tiên. Hiện nay, đây là cơ sgiáo dục Pht giáo duy nht trên cả nước được phép đào tạo trình độ Thạc sĩ.
  2. Danh từ Du hc” ở đây được hiểu trong ý nghĩa hn hẹp là đi du học ở các cơ sgiáo dục học đường, chứ không mang ý nghĩa du học có tính phquát. Nếu theo ý nghĩa này thì chính Tổ sư Minh Đăng Quang là người khởi đu cho lịch sử du hc của Hphái Pht giáo Kht sĩ.
 


Nếu ly thp niên 50, 60 của thế kXX làm mc lịch sử du hc của Tăng Ni Việt Nam trong thời hiện đại, thì so với các truyền thng Pht giáo khác, lịch sử du hc của Tăng Ni Kht sĩ mun hơn trên dưới 40 năm5. Dù vy, đến nay (2014) sau 23 năm đào tạo, theo số liệu thng kê chưa đy đ, hiện nay, Tăng Ni Kht sĩ du hc trên 60 v, trong đó đã có 32 vị có hc vị Tiến sĩ, 17 vị có hc vị Thạc sĩ. Số còn li hiện đang theo hc các chương trình Thạc sĩ và Tiến sĩ. Đây là con skhá khiêm tn so với các truyền thng Pht giáo khác ở trong nước. Dù vy, nếu so sánh tỉ lệ trên số lượng Tăng Ni, con snày cũng rt khquan6.
    1. Thử phân tích mt số vn đề về Tăng Ni Kht sĩ du học

Tăng Ni Kht sĩ du hc là mt trong những phương diện quan trọng cho tương lai phát triển brộng của Pht giáo Kht sĩ. Số lượng Tăng Ni du hc ở trên, cho chúng ta mt niềm hi vọng lớn, nhưng do vì phát triển mang tính tự phát, thiếu định hướng, nên vn đề du hc của Tăng Ni Kht sĩ phát sinh nhiều bt cp và không phát huy hết tiềm lực vốn có.

Trùng lp về chuyên ngành


Đây là bài toán nan gii có tính phbiến trong vn đề du hc của Tăng Ni Việt Nam, chứ không riêng của Tăng Ni Kht sĩ.

Trước mt, có không ít Tăng Ni Kht sĩ du hc từ nước ngoài trv, đa số đều có hc vị Tiến sĩ, số còn li là Thạc sĩ, cho dù hiện ti chúng tôi chưa có số liệu thng kê chính xác về tỉ lệ phân phi giữa các chuyên ngành của h. Nhưng theo hiểu biết chquan của bn thân, phn lớn trong shọ đều tt nghiệp chuyên ngành Pht hc.


Từ trước đến nay, khi đi du hc, đặc biệt là khi đến các nước như n Đ, Miến Điện, Thái Lan và Tích Lan, Tăng Ni Kht sĩ thông
  1. Thp niên 50-60, Pht giáo Việt Nam có quý Hòa thượng: Thiền n, Minh Châu, Tâm Giác, Thanh Kiểm, Qung Liên, Huyền Vi, Thiện Châu, Qung Đ... đi du hc nước ngoài.
  2. Chúng tôi hy vọng khi có đủ thời gian và tư liệu, sẽ thực hiện thng kê và so sánh có ý nghĩa này.
 


thường đều theo hc chuyên ngành Pht hc. Dù rằng hiện nay, sự phân chia chuyên ngành cũng như môn hc ở các nước phát triển càng lúc càng đi vào chi tiết và mang tính chuyên môn sâu và chuyên ngành Pht hc có thể được phân làm các hướng nghiên cứu khác nhau, ví dụ như: Chuyên nghiên cứu vHán tng, Pali tng, Sanskrit tng... trong mi lĩnh vực lớn này còn có thchia ra nhiều hướng nghiên cứu khác nhau, ví dụ như: chuyên vkinh tng, lut tng, lun tng, các tông phái... Dù vy, nhiều người cng có chuyên ngành ging nhau cũng không sao tránh khi sự trng lp về văn hóa tri thức, nh hưởng cho vn đề phục vụ sau khi về nước và phát sinh nhiều mt bt cp khác.

Về mt ttịch, có thể nói, so vi các tôn giáo lớn khác, Pht giáo có mt kho tàng ttịch phong phú và đồ snht. Trong đó n tàng vô stri thức có khả năng đáp ứng nhu cu tìm kiếm và phát kiến tri thức mi cho nhân loi. Hiện ti, không ít hc gitri thức Đông Tây, từ góc độ chuyên ngành ca mình, đã khéo léo vn dng tri thức cá nhân đthể hi và lý gii Pht lý. Cho nên, ngày nay xut hiện nhiều cách nhìn mi như: Pht giáo và khoa hc, Pht hc y hc, Pht hc và hóa hc, Pht hc và thiên văn hc... Xem ra, khi tri thức nhân loi ngày càng phong phú, ranh giới giữa khoa hc hi nhân văn và khoa hc tự nhiên không ñng không còn cách biệt, mà ngày càng có mi tương quan mt thiết vi nhau, tt ccác pháp đều là Pht phápcâu nói trong kinh Pht ngày càng được nghiệm chứng.

Đứng về mt giáo dc hc đường, ngày nay Tăng Ni có thể chn những chuyên ngành như: Tôn giáo hc, triết hc, tâm lý hc, văn hc, lịch sử hc, giáo dc hc, ngôn ngữ hc, xã hi hc, kiến trúc hc, kho cổ hc... mà vẫn không xa ri nghiên cứu tri thức Pht hc.

Đơn điu về ngôn ngữ


Khi rời khi quê hương n Độ để truyền sang các nước trên thế giới, Pht giáo hình thành nên hai truyền thng lớn: Bắc truyền và Nam truyền. Nn ngữ Bắc truyền có thkhởi đu từ cổ ngữ Sanskrit,
 


vsau chuyển sang tiếng Hán, hình thành hệ thng Hán tng rồi sang nn ngữ hiện đi như tiếng Nht, tiếng Hàn, tiếng Việt... Nn ngữ Nam truyền được khởi đu từ cổ ngữ Pali, vsau hình thành nên hệ thng nn ngữ hiện đi như tiếng Miến, tiếng Thái, tiếng Việt, tiếng Lào, tiếng Campuchia...

Ngoài hai truyền thng trên, hiện nay trên thế giới còn có truyền thng Pht giáo Tng truyền, chiếu theo phương hướng truyền nhp, Pht giáo Tng truyền là mt chi nhánh của Pht giáo Bắc truyền. Thế nhưng, trong kho tàng kinh điển Tng truyền có những tư tưởng và ni dung mang tính đặc thù, khác với hệ thng Hán tng.

Cui thế kỷ XIX, lợi dng nền văn minh tiên tiến của mình, các nước Tây phương tiến hành xâm lược Đông phương, mở ra mt knguyên xung đt và giao thoa văn hóa Đông Tây. Pht giáo - mt nền văn hóa lớn hình thành nên văn minh, tư tưởng thm mcủa văn hóa Đông phương được người Tây phương chú ý và để tâm nghiên cứu. Từ thái độ xem nh, dn dn hchuyển sang thái độ trân trọng. Cho đến ngày nay, Pht giáo đã cm rễ và từng bước phát triển ở các nước Tây phương, thư tịch Pht giáo cũng được dịch sang các nn ngữ: tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức...

Nhìn li các Tăng Ni Kht sĩ du hc, chúng ta sẽ dễ dàng nhn ra.

Vphương diện quc gia: Phn lớn Tăng Ni Kht sĩ tp trung du hc ở n Độ và Trung Quc, mt số ở Miến Điện, Thái Lan, Tích Lan và Anh. Các nước như Tây Tng, Nht Bn, Hàn Quc, M, Đức, Pháp... li chưa có ai du hc. Vn đề này có nhiều nguyên nhân, ở đây xin không lm bàn.

Vphương diện nn ngữ: Hiện nay, trên mt bng hc thut quc tế, các nhà nghiên cứu Pht hc ti thiểu cn trang bmt cổ ngữ và mt sinh ngữ. Vkhía cnh cổ ngữ, Tăng Ni Kht sĩ du hc hiện nay đa schỉ chú trọng chữ Hán cổ và Pali, cổ ngữ Sanskrit và Tây Tng chưa được chú ý và lưu tâm. Đi với nn ngữ hiện đại, ngoài nn ngữ tiếng Việt, Tăng Ni Kht sĩ du hc hiện nay phn lớn tp trung ở tiếng Anh, tiếng Hoa. Trong khi các nn ngữ khác cũng
 


không kém phn quan trọng trong nghiên cứu và giao lưu Pht giáo như tiếng Nht, tiếng Hàn, tiếng Đức, tiếng Pháp... li chưa có vị nào theo hc.

Phi chăng đã đến lúc chúng ta cn có mt ban tư vn, giúp cho Tăng Ni Kht sĩ định hướng trước khi du hc. Được như vy, không những tránh được sự trng lp (khng hong thừa), nh hưởng đến vn đề phục vụ khi Tăng Ni du hc trv, đng thời tránh đi sự đơn điệu nn ngữ, làm chướng ngi trong xu thế giao lưu toàn cu hóa ngày nay.

Ở trên, chúng tôi chỉ xin nêu lên hai vn đề trong nhiều vn đề bt cp trong hiện trạng du hc của Tăng Ni Kht sĩ ngày nay. Vì thời gian giới hn, trong mt bài viết không thnêu hết các vn đề còn li. Nếu có dp, chúng tôi sbàn sâu và rộng hơn về vn đề này.
  1. Kết lun

Kế thừa giáo dục truyền thng, phát huy giáo dục thiền định, những tín hiệu đáng mừng.

Nói đến giáo dục Pht go, mà chúng ta chỉ bàn về sự phát triển brộng, cng cố vmt tri thức, dù là tri thức Pht hc vn là mt vic làm phiến diện. Như thế, chúng ta vô tình thế tục hóa Pht go, biến Pht giáo thành mt loi tri thức thế tục, chỉ có tác dng trang điểm bngoài và chỉ để làm thỏa mãn tính hiếu kcủa con người.

Mô hình giáo dục Pht hc ngày nay là sn phm của giáo dục Tây phương, mô hình này rt chú trọng vmt truyền thụ tri thức, ưu điểm của nó là giúp người hc có knăng nm bt tri thức phong phú và có hệ thng. Nhưng do qchú trọng truyền thụ tri thức, nên có phn khiếm khuyết vtu dưỡng chuyển hóa ni tâm, nh hưởng đến sự tiến btu tp tâm linh và tính thiêng liêng của đạo hc, cũng như ct cách đạo phong, kcht thoát tục cn có của Tăng Ni.

Có lẽ nhn thức được điều đó, những năm gn đây cTôn đức lãnh đạo Giáo đoàn III thỉnh thong tchức các khóa tu 7 hoặc 10 ngày bi dưỡng đạo hnh dành cho sa-di, Sa-di-ni và tp sự nam



nữ (chú điệu), mục đích nuôi dưỡng và đào luyện những oai nghi tế hnh, trong mi đng tác đi đứng nm ngồi, ăn mặc nói làm... trong sinh hot hng ngày của người mới xut gia, mà giáo dục truyền thng Kht sĩ rt chú trọng. Đây là điểm sáng cn phi phát huy, vì nó không những btúc những khiếm khuyết của mô hình giáo dục Pht giáo hiện đại, mà còn giúp cho Tăng Ni Kht sĩ trẻ có cơ hi quay về ci ngun xưa, cm rsâu vào lòng đt giáo dục theo truyền thng Kht sĩ.

Ngoài ra, ngày nay xã hi loài người mi lúc mi phát triển, nhu cu tâm linh của con người mi lúc càng được nâng cao, đi với Pht go, có thnói giáo dục thiền định không những đáp ứng nhu cu tâm linh của con người, mà còn là điều kiện quan yếu để Pht giáo được hưng thịnh. Hiện ti, thiền định Pht giáo ti Tây phương càng ngày càng phát triển là mt minh chứng có tính thuyết phục.

Mt vài năm gn đây, cTôn đức lãnh đạo đã tạo thng duyên cho Tăng Ni Kht sĩ thực tp các khóa tu thiền định, cứ định kỳ 3 tháng mt ln, mt sTăng Ni Kht sĩ các giáo đoàn và Pht tử li có dp quy tựu thực tp thiền định 7 ngày. Điều này giúp cho Tăng Ni Kht sĩ, nht là thế hệ trkhông những có cơ hi cân bng giữa tri thức hc thut và thực tp tâm linh, mà còn thể hiện tinh thn kế thừa tư tưởng tài hc sao cho bng đức hnh, đức hnh được bền dài cao quhơn7 Kht sĩ là đnh huệ, nếu Kht sĩ không ctu vđnh hudu mà ctrì giới không đi nữa, cũng chưa gi được trn là Kht sĩ8 mà Tổ sư Minh Đăng Quang đã nhn mnh.












 
    1.  
    1. Sđd, tp II, “Đi tu, tr. 218.
    2. Sđd, tp I, Y bát chơn truyn, tr. 319.
    1.  
    1.  

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây