60. TỔ SƯ MINH ĐĂNG QUANG VỚI TÂM NGUYỆN "NỐI TRUYỀN THÍCH CA CHÁNH PHÁP"

Chủ nhật - 09/09/2018 12:36
TỔ SƯ MINH ĐĂNG QUANG VỚI TÂM NGUYỆN "NỐI TRUYỀN THÍCH CA CHÁNH PHÁP"
NT. Khiêm Liên
Giáo phẩm Ni giới Hệ phái Khất sĩ
DẪN NHẬP

Dõi theo con đường tìm đạo và giác ngchân lý của Tsư Minh Đăng Quang, chúng ta thy đó là cuc hành trình đy dũng cm kn nhn. Như đã huân tp hnh nguyn thoát trn tvô lượng kiếp, khi còn ở tui thiếu niên (14 tui) Ngài đã đem lòng ham tch tìm hiểu giáo lý Pht-đà.

Tinh thn hc hỏi, nghiên cứu của Tsư Minh Đăng Quang ngay tbui đu đã có khuynh hướng rõ rệt: Tìm hiểu Pht giáo thông qua hai ngun giáo lý Nam truyn và Bc truyền. Bên cnh đó, Ngài đc quyn Tăng đnhà Pht do cĐoàn Trung Còn bn son, rồi đi chiếu vi shành của chư Tăng Ni của hai tông phái Pht giáo Việt Nam trong hiện tại, đtìm hiểu nguyên nhân suy thoái của Pht giáo Việt Nam (vào thp niên 40 - 50) nhm minh định hướng đi tương lai cho cnh nh. Điều này xut phát tchánh kiến và chánh tư duy của những bc có căn duyên sâu dày vi Chánh pháp trong nhiều đời.

Tổ sư Minh Đăng Quang với tâm nguyện: Ni truyền Thích- ca Chánh pháp


Sau mt thời gian tham hc và tu tp, Tổ đã thu triệt chơn lý gii thoát, bao nhiêu bức xúc của cuc đời giờ đã hoàn toàn rơi rng, tâm Thoàn toàn yên tĩnh, thnh thơi. Thông cm sâu xa ni khổ đau của
 


kiếp nhân sinh, luôn thao thức giúp mi người thoát ra khi ni khổ đau triền miên y, bi tâm của Tổ trỗi dy mãnh liệt. Nhớ li khi xưa sau khi thành đạo, Pht đi đến Vườn Nai độ năm anh em Kiều-trn- như và mt số đạo sĩ khác, dt dn tt cả đến đạo quả A-la-hán. Sau đó, Ngài khuyến cáo hnên ra đi, pht cao ngọn cờ Chánh pháp để đem li lợi ích cho chư Thiên và loài người.

Đi vi người tu chân cnh, khát vọng gc nggii thoát và hnh nguyn đsanh là hoài bão luôn cháy bng. Tsư Minh Đăng Quang ng thế. Nn thy tình nh Pht giáo Việt Nam nói chung và Pht giáo Nam Bnói rng lúc by giđang trong thời ksuy thoái, Tăng sĩ ngày càng xaa con đường tu hành chân cnh, sao nếp sng thế tục, làm mt lòng tin Tam Bo của hàng cư sĩ ti gia, khiến hchy theo ngoi đạo tà giáo, rơi o mê tín dđoan như snhn định của TT. Thích Mt Thtrong Vit Nam Pht giáo slược: Các cnh chùa trong nước đã trthành những cnh gia đình riêng, không còn gì là tính ch đoàn thca mt tôn giáo nữa. Hsống trong Pht giáo hu hết chcòn dt và quên. Qn đkhi biết bn phn chơn chánh ca mt Tăng đ.

trong Tăng đthì nvy, ở ngoài tín đồ cư sĩ thì cũng n ngác, mù lòa, tin bướng theo càn, ít ai là người hiểu đạo lý. Trong lch sử Pht go Vit Nam, ta cthđánh o đây mt du than đen to tướng”.

Tổ sư Minh Đăng Quang cũng nhn định:

Đo Pht ngày nay không còn giống như a nữa, ai cũng cho nh là đtPht, mà không gigii lut ca Pht. Tông giáo càng rộng, tín ngưỡng càng nhiu thì gii lut càng mt. Tăng đcàng suy vi thì vt cht càng thnh. Tăng là ging mi tâm hn, là tinh thn sanh chúng, thế mà Tăng chia lìa tht lc thì thn vt cht sao chng hoành hành, chúng sanh trần thế sao không nguy hại(Chơn lTông giáo, tr. 356).

Tổ còn xác quyết: Đo Pht ngày nay không còn cao qulà bởi Tăng-già suy kém, vt cht thnh hành. Đo Pht ri đây sẽ gia nhp vtheo thế sự và các ngoi đạo kc. Pht Thích-ca sẽ không còn hình bng tiếng tăm nữa(Chơn lTông go, tr. 373).

Theo T, chỉ có Chánh pháp mới chuyển hóa được khổ đau của
 


trn gian thành Niết-bàn an lạc, và giới lut Tăng-gmới có thể tháo gỡ được mi hly của cuc đời.

Từ nhn định đó, Tổ cương quyết đem bn thân cũng như đng viên hàng môn đệ thực hành triệt để giới điều Pht chế, tuân thBát chánh đạo, Tứ y pháp Kht sĩ, để làm khuôn mu, chỉnh đn giới lut Tăng-gPht giáo Việt Nam lúc by giờ. Đang ôm hoài bão khôi phục chánh pháp ti Việt Nam thì nh hưởng của phong trào Chn hưng Pht go” do các bậc Tôn túc của Pht giáo Việt Nam đã phát đng và lan tỏa ti, không mt phút trì hoãn, Tổ đứng lên pht cao ngọn cờ Chánh pháp” như lời dy bảo của Pht ngày nào.

Để làm sáng tỏ ý nghĩa Chánh pháp, Tổ tự đt ra câu hi và tự gii đáp như sau:

Cái gì là Chánh pháp?

Tứ y pháp là Chánh pháp ca cPht mười phương ba đời, là go lKht sĩ vy” (Chơn lChánh pháp, tr. 311).

Tứ y pháp là bn chỗ nương tựa thiết yếu, cũng là pháp hành căn bn của người xut gia, là pháp tu mực trung, không thái quá – khhnh ép xác – không bt cp – hưởng thụ đm nhiễm – là phương tiện tự đ, độ tha rt hiệu quả, rt tuyệt vi.

Tứ y pháp là:
  1. Người xut gia chăn đồ xin mà thôi, nng ngày hi thuyết pháp, đc giới bn được ăn ti chùa.
 
  1. Người xut gia phi lượm những vi bmà đâu li thành áo, nng cai cúng vi, đồ cũ thì được nhn.
 
  1. Người tu xut gia phi nghỉ dưới ci cây, nng cai cúng lều, am nhbng lá, mt cửa thì được ở.
 
  1. Người tu xut gia phi dùng cây, c, v, lá mà làm thuc trong khi đau, nng cai cúng thuc, du, đường thì được dùng.

Ti sao người tu xut gia phi ăn đồ xin? Bởi vì người tu xut gia chỉ có mt mục đích duy nht là giác ng, gii thoát thành Pht. Cho
 


nên người tu xut gia không làm các nghnghiệp thế gian như sĩ, nông, công, thương để sinh nhai, mà chỉ sng dựa vào hảo tâm của bá tánh. Đi xin ăn (kht trực) còn là pháp ngăn ác trừ tham (tự độ) rt hữu hiệu. Tổ sư Minh Đăng Quang nói: Không tự ly đtrừ tham, không tự làm đtnh ác”. Đi xin là tạo cơ hi cho người ti gia mrộng tâm từ, biết bố thí. Hơn thế nữa, xin là cách để tạo cơ duyên cho bá tánh gieo duyên lành với Tam Bảo (độ tha), thân cn với người hiền để được hc hi Chánh pháp.

Trong kHòa bình, Tổ viết: “Pháp kht thực dy người bthí,
Cùng dy nh chơn lkhông tham. Bao giờ dứt tánh mê ham
Muôn ngàn phn sự việc làm đều xong”.

Chỉ mt khâu xin ăn” thôi mànhứt cử lưỡng lợibiết bao! Thử hi người tu đâu dám lơ là mà không tôn trọng?

Về y phục, chỗ ở và thuc men, mi khâu có mt chức năng riêng, bsung cho nhau, hỗ trợ nhau, hu kiện toàn Đạo đế, vững chãi bước vào Diệt đế, hoàn thiện lộ trình tâm linh.

Trong giới Quán tưởng thanh tịnhcủa tỳ-ku, Pht dy: Vị tỳ-kheo khi thdng tứ vt dng (vt thực, y phục, chỗ trú ngụ và thuc chữa bệnh) phi quán tưởng vnguyên cht, về uế trược và vmục đích thdng:
  1. Về vt thực
 
    1. Quán tưởng vnguyên cht

Vt thực này là mt nguyên cht tạo thành ra, tùy theo món vt dụng. Du cho ta là người dùng nó, ncũng chlà mt nguyên cht, không csinh mng, không phi là chúng sanh, ctrng thái không không”.
    1. Quán tưởng về uế trược

Vt thực này chng phi uế trược đâu, nng đến khi nđụng
 


vào thân thhôi thúi này lúc nào thì ntrnên đáng ghê gớm lm”.
    1. Quán tưởng vmục đích thdng

Ta ththực đây chng phi đchơi như trcon ở xm, hoc say mê sức lực như người võ sĩ, hoc đđim trang thân thnhư hàng phntrong đô th, hoc đcho cnhan sc như người hát xướng. Ta ththực đây, đduy trì xác thân cho được tn ti, cho được tránh skhchịu, cho được giúp đstu hành theo phm hnh, cho ta tránh khi cái khđã qua là sđói khát, và ngăn ngừa cái khsphát sinh vì săn ngquá đ. Còn các hành vi trong Toai nghi: đi, đứng, ngi, nm thân tâm không biếng nhác và được an vui, cũng do nhnơi sththực ny(Gii bn Tỳ-kheo-ni).
  1. Về y phục
 
    1. Quán tưởng vnguyên cht

Y phc này là mt nguyên cht tạo thành ra, tùy theo món vt dụng. Du cho ta là người dùng nó, ncũng chlà mt nguyên cht, không csinh mng, không phi là chúng sanh, ctrng thái không không”.
    1. Quán tưởng về uế trược

“Y phc này chng phi uế trược đâu, nng đến khi nđụng vào thân thhôi thúi này lúc nào thì ntrnên đáng ghê gớm lm”.
    1. Quán tưởng vmục đích thdng

Ta mc y phc đây đngăn ngừa sự lnh, sự nng, mui mòng, ginng, rắn rít, và cho được thân thtnh điều hthẹn”.
  1. Chỗ trú ngụ
 
    1. Quán tưởng vnguyên cht

Chtrú ngnày là mt nguyên cht tạo thành ra, tùy theo món vt dụng. Du cho ta là người dùng nó, ncũng chlà mt nguyên cht, không csinh mng, không phi là chúng sanh, ctrng thái không không”.
    1. Quán tưởng về uế trược

Chtrú ngnày chng phi uế trược đâu, nng đến khi nđụng vào thân thhôi thúi này lúc nào thì ntrnên đáng ghê gớm lm”.
 
 
    1. Quán tưởng vmục đích thdng

Ta thdụng chtrú ngđây là đngăn ngừa sự lnh, sự nng, mui mòng, ginng, rắn rít, cho tnh được sự khchịu ca thời tiết và được nơi thanh vng đcho ta thực hành thiền đnh”.
  1. Thuc chữa bnh
 
    1. Quán tưởng vnguyên cht

Thuc chữa bnh này là mt nguyên cht tạo thành ra, tùy theo món vt dụng. Du cho ta là người dùng nó, ncũng ch là mt nguyên cht, không csinh mng, không phi là chúng sanh, ctrng thái không không”.
    1. Quán tưởng về uế trược

Thuc chữa bnh này chng phi uế trược đâu, nng đến khi nđụng vào thân thhôi thúi này lúc nào thì ntrnên đáng ghê gớm lm”.
    1. Quán tưởng vmục đích thdng

Ta dùng thuc chữa bnh đây đ ngăn ngừa sự đau khđã phát sinh và cho được thoát khi sự đau đớn y”.

(Tch “Giới bn Ni” – cố Ni trưởng Huỳnh Liên biên son)

Như vy, mục đích thdng tứ vt dng của người xut gia được đức Pht dy qrõ ràng. Để khắc phục cho được những tp khí tiêu cực sâu dày mà con người đã huân tp từ vô lượng kiếp, người xut gia cn phi siêng năng quán tưởng khi thdng tứ vt dng để cho thy đâu là nhu cu và đâu là tâm tham mun.

Hơn nữa, những đòi hi của 6 căn (mt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) là không bao giờ thỏa mãn (được voi đòi tiên). Mun đi trọn con đường tâm linh, vị tỳ-khưu phi biết giới hn lòng ham mun leo thang y, thì mới mong an tịnh phiền não, thể nhp chơn như.

Vì lý tưởng giác nggii thoát, người xut gia phi nương vào tứ vt dng để duy trì xác thân, vì đó là phương tiện duy nht để hành giả vượt qua biển khsanh tử.

Phiền o đã được an tnh thì trí tuđược phát sinh, ngọn đèn chánh
 


kiến, chánh tư duy (tuệ) thp sáng tâm trí, soi sáng cho chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mng, chánh tinh tn (giới) hoàn thiện đức hnh bn thân, làm cơ svững chãi cho chánh niệm và chánh định (định).

Pht chế giới Tứ y pháp để điều chỉnh li sng vừa phi – Trung đạo cho giới tu sĩ xut gia, làm nấc thang cơ bn bước lên lu đài Niết-bàn, chm dứt luân hi sanh tử.

Tứ y pháp là pháp xut gia gii thoát ra khi nhà ăn, mc, ở, bnh, cửa hang lm lc, sống đúng y theo chơn lý ca miếng ăn có sn ti rau, sự mc có sn v, lá, chỗ ở có sn bộng hang, thuc uống có sn nơi cây cỏ ca cnhân xưa, người chơn tht không hay vọng động, khnão. Tứ y pháp là pháp Trung đo Chánh đng Chánh gc, không thái quá, bt cp, nhđmà cPht mới đc tâm chơn thành Pht. Các Ngài khi vào xóm thì đi xin ăn hc và dy li người. Khi ở rừng thì nhp đnh chơn nn nghỉ. Đức Pht nào cũng y nthế. Ngoài Tứ y pháp ra, không còn pháp nào thứ hai để dứt tham, sân, si.

Tứ y pháp gm ctng Lut nên gi là Chánh pháp. Tứ y pháp còn là đo Pht còn.
Tứ y pháp mt là đo Pht mt. Ai hành sai Tứ y pháp là tà pháp
Thy Tứ y pháp là thy Pht hiện ti.

Tứ y pháp là đo Phật(Chơn lChánh pháp, tr. 311- 312).

Tứ y pháp là kho tng Kinh, kho tng Lut, kho tng Lun. Ai cthực hành ri mới được thu hiu”.

Đời nay, nếu cngười nào ch hc mà không tu, không nlìa xa danh lợi, bỏ Tứ y pháp tức là bgiới lut, bđo Pht ri, thì kinh lun ngoài môi chót lưỡi, căn thua gì đâu.

Con đường Kht sĩ đi đến quPht, kêu là Chánh đng Chánh gc Vô thượng. Trung đạo y là Tứ y pháp. Vy thì chúng ta nên phi thực hành đúng Tứ y pháp, không nên viện llgì mà c bđi cho được(Chơn lChánh pháp, tr. 316).
 


Trong tam tng Kinh, Lut, Lun của nhà Pht, Tứ y pháp thuc tng Lut. Tứ y pháp là chân giới, mt trong ba chân của Bát chánh đạo. Bát chánh đạo còn gọi là Đạo đế, mt trong Tứ diệu đế (kh, tp, diệt, đạo) mà Đức Thích-ca đã chứng đắc và trở thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Bát chánh đạo là 8 li đi, hay 8 phương pháp đưa hành giđến Diệt đế Niết-bàn. Bát chánh đạo là: Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mng, Chánh tinh tn, Chánh niệm, Chánh định.

Chánh kiến và chánh tư duy thuc vchân Tu.

Chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mng và chánh tinh tn thuc vchân Giới.

Chánh niệm và chánh định thuc vchân Định.

Cái vạc Bát chánh đạo có được thăng bng phi có ba chân Giới, Định, Tuệ đng đều.

Giới, Định, Tuệ còn được gọi là Tam vô lu hc, ba môn hc chm dứt phiền não, đon tn khổ đau, thành tựu chánh trí, chứng ngNiết-bàn.

Trong Thanh tnh đo lun, Pht dy:

Ny các Tỳ-kheo, những li dy ca Như Lai, các ngươi phi học cho thông sut đnm vững lthuyết. Những li dy ca Như Lai các ngươi phi thực hành đckinh nghim tthân, và những li dy ca Như Lai, các ngươi phi thực hành cho đến chứng quA-la-hán”.

Như vy, theo ý nghĩa của lời Pht dy, chúng ta thy: Hc là để nm vững lý thuyết, nng mun đt được kết quthì phi áp dng vic hc o trong mi sinh hot hàng ngày, chng những thế, còn phi thực hành rốto thì mới mong có được kết qunht định. Cũng như bnh nhân, trước khi ung thuc, phi đc ktoa thuc, đkhi sdng thuc mới không snhm ln. Nng hết bnh là do ung thuc chkhông phi hc thuc lòng toa thuc. Đtcủa Pht cũng như thế. Đức Pht là mt Đi y vương, thuc của Ngài vô cng diệu dng. Chúng sanh ví như những con bnh cn phi được chữa tr. Pht
 


thuyết pháp ra như thy thuc ra toa, chúng sanh mun hết bnh khphi thực hành theo lời Pht dy, chkhông phi đc tng thuc lòng kinh điển của Pht mà hết bnh kh được.

Nm vững chân lý này, Tsư Minh Đăng Quang quyết tâm xiển dương Chánh pháp bng nh thức thành lp Go hi Tăng-già(danh tcủa thời đó), vi tâm nguyn “Ni truyn Thích-ca Chánh phápđể dựng li những gì đã bnghiêng đ, khêu tngọn đèn đã lu mờ.

Tăng-gKht sĩ với hình thức Tam y nhứt bát, dng thân go, khu go, vân du kht thực khp đó đây, đem Chánh pháp đến tn từng người, từng nhà, ly tự thân gii thoát của mình làm khuôn mu cho mi người thy được lợi ích thiết thực của Chánh pháp mà tu theo, hành trì theo, để chuyển hóa cuc đời đy bt an, khn đn mà họ đang lún sâu vào trong đó.

Với bn nguyện Ni truyền Thích-ca Chánh pháp, Tổ sư Minh Đăng Quang đã làm mt cuc chn hưngPht giáo Việt Nam đương thời 1947 – 1954. Ngài vn dng triệt để Tứ y pháp vào sinh hot Tăng đoàn Kht sĩ, dựng li nếp sng của Pht Tăng ngày nào trên đt n, đó là phương cách ni truynchánh pháp thực tế, cụ thể và kp thời của Tổ sư, đóng góp thiết thực cho cơ đồ Pht giáo Việt Nam giữa thế kỷ 20.

Ngày nay, mặc du Tổ đã vng bóng ngót 60 năm, nhưng nhìn vào cơ đồ hiện ti của Hphái Kht sĩ, ta thy đâu đâu cũng có du n của Tổ - Ngài đã ra đi nhưng tưởng chừng như Ngài vn còn mãi đó, vn đang đng hành và soi sáng từng bước cho hàng đệ tử trên con đường Kht sĩ hướng đến Vô thượng sĩ.

Kết luận


Trung đạo Tứ y Pháp thể hiện xuyên sut pháp hành của Tăng đoàn Kht sĩ do Tổ sư Minh Đăng Quang lãnh đạo, và bao quát hc thuyết của Ngài, thể hiện qua bChơn lGo pháp Kht sĩ là trung đo, Tứ y Pháp là trung đo” (Chơn lChánh pháp”).

Go lKht sĩ là trung đạo Chánh đng Chánh gc Vô thượng,



tt yếu đem li chữ HÒA cho muôn loi, xin cái CAO đbù vào cái THP, đtạo sự thăng bng cho cõi đi(Chơn lKht sĩ”).

Tổ sư Minh Đăng Quang dựng lp Đạo Pht Kht Sĩ (nay là Hphái Kht sĩ) ly Tứ y Pháp làm cương lĩnh xiển dương Chánh pháp nhm mục đích Ni truyền Thích-ca Chánh pháp.

Cuc đời và đạo nghiệp của Tổ sư Minh Đăng Quang là di sn đồ s, vô giá, cn được tìm hiểu và nghiên cứu thu đáo bởi các bậc thức giả cũng như hàng đệ tử ưu tú của Ngài.

Rt tiếc, cho đến nay, bChơn lcủa Tổ sư Minh Đăng Quang vn như mt kho tàng trân bo, nhưng cửa vào hu như còn khép kín, những gì chúng ta tìm hiểu và khai thác từ bChơn lchng qua chỉ là vài hòn cui cn con dưới chân mt ngọn núi cao vời vi.

Ln đu tn Viện Nghiên cứu Tôn go Việt Nam, tchức mt cuc hi thảo khoa hc, có quy mô toàn quc vHphái Kht sĩ, đặc biệt là những khảo cứu vbChơn lcủa Tsư Minh Đăng Quang. Đây là mt thun duyên và là mt tiền đvô cng lợi ích đcác bc thức gitrong ngoài Hphái có điều kiện tìm hiểu, nghiên cứu vtác phm này, tđó skhai thác được những giá trquý báu và những cng hiến lớn lao của Tsư Minh Đăng Quang đi vi kho tàng Tam Tng nhà Pht nói chung và đi vi Pht go Việt Nam nói rng, p phn làm sáng tnhững giá trđc đáo, mang đm bn sc dân tc của Pht go nước nhà.



***

TÀI LIỆU THAM KHO

 
      1. Tổ sư Minh Đăng Quang, Chơn l.
 
      1. TT. Thích Mt Thể, Việt Nam Pht go sử lược.
 
      1. HT. Thích Minh Châu (dịch), Kinh Tương Ưng.
 
      1. KTổ sư, sưu tm.
 
      1. NT. Huỳnh Liên (biên son), Giới Bn Ni.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây