49. TỔ SƯ MINH ĐĂNG QUANG VỚI ĐỊNH HƯỚNG TU TẬP VÀ HOẰNG HOÁ

Chủ nhật - 09/09/2018 12:07
TỔ SƯ MINH ĐĂNG QUANG VỚI ĐỊNH HƯỚNG TU TẬP VÀ HOẰNG HOÁ
NT. Mai Liên Giáo phẩm Ni giới Hệ phái Khất sĩ Trụ trì TX. Ngọc Lâm – Long Hải
  1. KHÁI QUÁT THÂN THẾ ĐỨC TSƯ

Ngược dòng thời gian, cách đây gn 1 thế k, vào ngày 26 tháng 9 năm Quý Hợi (1923), ti làng Phú Hu, tng Bình Phú, tỉnh Vĩnh Long, trong gia đình của công Nguyễn Tn Hiếu và cbà Phm Thị Nhàn, vào lúc 10 giờ ti đã ra đời mt cu bé trai, sau khi người mmang thai 12 tháng. Chỉ 10 tháng sau, thân mu lâm bệnh nng và qua đời, Ngài được thân phụ và kế mu (Hà Thị Song) nuôi dưỡng đến trưởng thành. Theo ngày tháng, Ngài lớn lên như bao nhiêu trkhác, nhưng đặc biệt ở nơi Ngài đã sn tư cht thông minh đĩnh ng, hc hành chăm ch, li thêm bn tánh hiền lương, lòng thương người thương vt sâu sắc. Khi còn tui nh, Ngài đã thích nghiên cứu sách vở Thánh Hiền, các đạo go, thông đt nghĩa lý nhy bén, toát ra mt phong cách đạo đức trang nghiêm, điềm đm hơn hn những trkhác. Vì vy, Ngài được thân phcng trong gia đình yêu thương hết mực, bên ngoài làng m, thy bn cũng mến m, nể vì.

Sm nhn ra cnh khsanh o bnh tcủa thế gian mà mi người vô minh cm đm không có li thoát, nên lúc n 15 tuổi, Ngài rời nhà đến Nam Vang tm sư hc đạo, nghiên cứu đường li y bát chơn truyn của Pht T. Sau 3 năm, Ngài trvnước và thun theo ý của cha già lp gia tht, được mt năm, vvà con đều tgiã cõi trn ra đi.
 


Thế là mt ln nữa, Ngài từ bgia đình, quyết chí ra đi tm đạo. Đu tiên, Ngài đến Hà Tiên định ln ra Phú Quc, rồi ssang các nước ngoài hc đạo. Nhưng khi vừa đến bãi biển Mũi Nai thì bị trễ tàu, Ngài ngồi li nơi đu gành bãi biển thiền định sut by ngày đêm, tâm thức dn lng sâu vào thchơn không vng lng và Ngài chứng ngchân lý. Trv, Ngài vào vùng núi Tht Sơn n tu mt thời gian. Sau đó, nhân duyên Ngài gp mt vị hiền sĩ thỉnh Ngài về làng Phú M, tỉnh Mỹ Tho để tu tp và truyền bá Chánh pháp. Ngài bng lòng theo vị hiền sĩ này v, bt đu khai m mi đạo, lp nguyện noi theo truyền thng Pht Tổ xưa, khơi dy ngun ci đạo Pht qua hình nh người Kht sĩ du phương hong hóa, đem ánh sáng đạo vàng đi vào lòng nhân thế.

Ngài chính là vị Tổ sư khai sáng giáo pháp Kht sĩ đu tiên ti Việt Nam, pháp hiệu là Minh Đăng Quang (thế danh Nguyễn Thành Đt, tự Lý Huờn). Ngài thành lp Hphái Kht sĩ với phương châm: Ni truyền Thích-ca Chánh pháp, Đạo Pht Kht Sĩ Việt Nam.
  1. ĐỊNH HƯỚNG TU TẬP VHÀNH TRÌ

Khi xưa, Đức Thế Tôn thị hiện nơi xứ n Độ trong thời điểm xã hi đang vô cng phức tp và hn đn bởi nhiều đạo go, khiến cho người dân n sng trong cnh hoang mang, ngờ vực, cung tín mê mờ. Tai hi hơn nữa là nn phân chia giai cp trm trọng đã làm cho cuc sng con người trnên bt an, khsở, mt tự ch, mt định hướng. Đức Pht là vị cứu tinh đã kp thời xut hiện để cứu nguy, gii tỏa bao bt công, thng khcho chúng sanh, đem li sự bình đẳng, an lạc và hnh phúc chân tht cho nhơn loi. Đức Tổ sư cũng theo gương đó, Ngài xut hiện giữa lúc đt nước Việt Nam đang thời kchiến tranh và xã hi đang hn tp với nhiều mi đạo mà đa phn đem đến cho người dân thêm ni hoang mang, lạc hướng và mê tín nng n. Ngài hiện hữu như mt vng thái dương rực sáng phá tan bóng đêm mê mờ làm cho bao kẻ lâu nay ngủ vùi chết say trong trường mng vô minh bng git mình tỉnh giấc, hướng theo ánh đuc chơn lý của Ngài mà tiến vphương trời giác nggii thoát an vui.

Khởi đu cho sự nghiệp hong hóa độ sanh, với tâm nguyện tiếp
 


ni và truyền thừa Chánh pháp Như Lai, Đức Tổ sư cquyết lp nên mt tông phái biệt truyền “Đạo Pht Kht Sĩ Việt Nam. Y vào phương châm đã đề ra, Ngài đã mnh dn đứng lên thp sáng li ngọn đuc Chánh pháp hiện đang blu mờ. Thế rồi, bng hình nh người Kht sĩ du Tăng đi kht thực hóa duyên làm phương tiện tu hc, gn gũi chúng sanh hướng dn đạo lành, Ngài bt đu cuc hành trình đơn đc mt mình mt bóng. Nơi vùng qPhú Mnm ven Đng Tháp Mười, người dân hết sức ngạc nhiên thy xut hiện mt nhà sư đu trn chân không mi bui sáng mang bình bát kht thực, du hóa độ sanh khp làng quê.

… Đu tiên trên bước lữ hành Lẻ loi chcmt mình đường xa…
Như đã nói ở trên, ngay từ bui đu lp go, Tổ sư đã chn mt phương châm duy nht làm định hướng, mang tính kế thừa hết sức đặc thù, cũng là nét đẹp truyền thng vô cng đặc sắc, là:

Ni truyền Thích-ca Chánh pháp Đo Pht Kht Sĩ Vit Nam”.
Từ đó, Ngài lp ra những phương pháp tu tp và hành trì làm nền tng căn bn như sau:
    1. Trang nghiêm phm hnh tự thân

Theo cái nhìn của bậc Giác ngộ (Đức Tổ sư), hình nh của mt vị Tỳ-kheo là biểu trưng cho sự gii thoát thanh cao. Đây là hình thức cao quý vô cng giữa cõi đời đy ti tăm ti li. Thế nên, mt vị Tăng sư cn phi có sự tu hành chun mực để thành tựu phm hnh Tỳ- kheo mới có thể xiển dương Chánh pháp, rộng độ lợi ích cho chúng sanh. Đức Pht thường khuyên nhắc người xut gia phi thành tựu Sa-môn hnh để tiến tới thành tựu Sa-môn quả. Từ ý nghĩa đó, Đức Tổ sư dy: Làm Tăng cho đúng đn để cứu chữa đạo Pht li, vừa là đgiúp ích cho chúng sanh, li được tn hóa cho mình nữa. Hay là ti sao chng đi tìm kiếm chơn Tăng, để gom hip li, khuếch trương Tăng bảo, thống nht Tăng-già, sửa chữa giới lut li, chchia lp chòm
 


nhóm cư gia, ố tăng phá đạo, ích chi nthế? Không lri ai cũng tranh nhau phá đạo(Chơn lTông go”).

Qua lời dy trên, chúng ta cũng ngm hiểu được ý của Tổ sư rằng: Mun làm vic Pht, xiển dương Chánh pháp Pht, trong đời sng mi mi cử chỉ oai nghi đều phi y như Pht. Nói cách khác, theo tinh thn Kinh Pháp Hoa, mun trở thành vị Pháp sư tuyên dương Chánh pháp, phi “vào nhà Như Lai, mc y Như Lai, ngia Như Lai. Do đó, trước tiên, tự thân Ngài phi nêu gương sáng qua tư cách đạo hnh hết sức trang nghiêm thanh tịnh, nhn ni trước mi cnh duyên. Vì thương đời thương chúng sanh, Ngài vui chu với đời sng thanh bn, đơn gin, ngày dng mt bữa ngọ trưa, không tài sn, bạc tiền, ct chứa. Chỉ: Mt y mt bát tùy thân / Pháp môn kht thực go dân đđời, để thể hiện trọn vẹn ý nghĩa: tâm từ bi vô lượng (nhà Như Lai), đức nhu hòa nhn nhục (y Như Lai), và thkhông không gii thoát nhẹ nhàng (tòa Như Lai).

Về đường hướng tu tp, Đức Tổ sư khng định: Kht sĩ chúng tôi tp ni truyền Chánh pháp ca Pht Thích-ca Mưu-Ni, xut hiện nơi xứ Việt Nam ny, với mc đích cố gng noi y gương Pht, thay Pht đền ơn và đđáp nghĩa chúng sanh trong muôn mt...”. “Đoàn Du Tăng Kht sĩ là chúng sanh chung, cra do nhân duyên, y theo chơn lvũ trụ, đtiến đến Niết-bàn, là con đàng đo đức, không đứng nơi nhơn loi, cũng chng ở giữa thiên đường, không phi nhn riêng nh là gia đình, xã hi, thế giới chủng loi nào. Mc đích gii thoát, chánh đng chánh gc, sống chung tu hc cho nh và tt cả, mong đem li Niết-bàn hiện ti, hơn là cnh nhơn loại”.
    1. Ly Giới - Định - Tulàm nn tảng căn bn

Đức Thế Tôn từng dy vcon đường tu chứng của mt vTỳ-kheo, tức là con đường Giới - Định - Hu. Con đường đi đến thành tựu đạo qugii thoát Niết-bàn, cnh Đức Thế Tôn và chư Pht ba đời đều tu tp theo pháp môn Giới - Định - Tunày, không có con đường nào khác. Đức Tsư chí quyết đi theo con đường giác nggii thoát của Đức TphThích-ca Mâu-ni và làm sng dy nh nh Pht Tăng xưa, nên Ngài đã tthân hành trì và dn dt chư Tăng Ni đtly
 


pháp Tam vô lu hc Giới - Định - Hulàm nền tng căn bn tu tp.

Xét từ vô lượng kiếp, chúng sanh sở dĩ gây nhiều nghiệp chướng khổ đau, phi trm luân trong luân hi sinh tử là do trong đời sng thân không có giới nên buông lung, phóng túng, không làm chủ được chính mình, không điều phục được những hành đng xu ác; do khu không có định nên không tự kiềm chế được những lời nói ác quy; và do tâm ý thiếu trí tuệ nên khi xúc đi pháp trn thường không làm chủ được tâm ý mình nên tham đm, chp trước, bnghiệp thức vô minh chi phi dn dt khiến nghĩ tưởng đảo điên, bao nhiêu niệm xu quy ti li dy khi, mê lm mà phi đọa lạc chu quả khổ đau. Tu tp Giới - Định - Tuệ là con đường chuyển hóa ba nghiệp dn thanh tịnh. NhGiới - Định - Tuệ làm ch, nhiếp phục, soi sáng, ba nghiệp thân, khu, ý dừng li sự tạo tác nghiệp ti, chm dứt sinh tử kh, đt đến an lạc gii thoát rt ráo.

Trong quá trình tu hc và truyn thừa Chánh pháp, Đức T cũng đã thực hành Bát chánh đạo làm con đường thng đến Niết-bàn, và Ngài đã trình bày quan điểm đó như sau: Bát chánh đo là tám ch hành đo, theo lchánh ca bc Thánh nhân, cũng kêu là Bát Thánh đo, là pháp tđ, đtha, sng chung với tt c, đcùng đua nhau lên đến nơi cùng tt là Niết-bàn. Bát chánh đo cũng gi là Chánh pháp hay Trung đo, gm cshọc và hành(Chơn lBát chánh đạo”).
    1. Ly Tứ y pháp làm phương châm hành đạo

Mt khác, với tôn chỉ Ni truyền Thích-ca Chánh pháp, Đức Tổ sư ly Tứ y pháp Trung đạo làm phương châm hành đạo, để hướng dn chúng sanh cng đi đến mục đích rt ráo là: đt Chánh đẳng Chánh giác, quyết đến no gii thoát hoàn toàn.

Trong Chơn lChánh pháp, Tdy: Tứ y pháp là Chánh pháp ca chư Pht mười phương ba đời, là giáo lý Y bát Kht sĩ vy! Con đường Kht sĩ đi đến quPht, kêu là Trung đo Chánh đng Chánh giác Vô thượng, Trung đo y là Tứ y pháp. Vy thì chúng ta nên phi tht hành đúng Tứ y pháp, không nên vin llgì mà bác bđi cho được”.

Tổ sư đã khng định chắc chn sự tu chứng của cPht ba đời
 


đều hành trì Tứ y pháp: Tứ y pháp là pháp Chánh đng Chánh gc, không thái quá bt cp, nhđmà cPht mới đc tâm chơn thành Pht. Các Ngài khi vào xóm, thì đi xin ăn hc và dy li người, khi ở rừng thì nhp đnh chơn nn nghỉ. Đức Pht nào cũng y nthế, ngoài Tứ y pháp ra, thì không phi đo Pht, không giống cPht, cTăng và không phi là go pháp chánh chơn ca cPht. Vì vy cho nên, Tứ y pháp là đứng đu trong tng lut, và khi xưa kmới xut gia nhp đo, Pht dy cho Tứ y pháp trước hết, và dy cho biết đo Pht là đo Kht sĩ vy”.

Đời sng của người Kht sĩ hành Tứ y pháp tht hết sức thong dong tự ti, hoàn toàn không để dính mắc mt thứ chi. Khi xưa, Đức Ca-diếp hành hnh Đu-đà, lượm vi bmà đâu li thành y đp mặc; hàng ngày trì bình kht thực hóa duyên độ người; đêm nghỉ dưới ci cây hoặc trong bãi tha ma để có cơ duyên quán chiếu tu tp; khi bệnh hon thì dng phân bò mà làm thuc chữa tr.

Trong Kinh Tp A-hàm, Đức Pht dy: Do cái này cnên cái kia có, cái này sinh nên cái kia sinh. Do cái này không nên cái kia không, cái này diệt nên cái kia diệt, cho thy các pháp trong vũ trnày có mt và tn ti bởi nhân duyên sinh, nó nương nhau, tương tức ln nhau, không thể tách ri. Vì thu rõ được lẽ tương quan tương duyên trong cuc đời, và y theo Pht Tăng xưa nên Tổ sư đã sng và hướng dn Tăng đoàn hành Tứ y pháp. Tht là gương hnh cực kỳ cao đẹp phi thường mà chỉ có những tâm hn mang chí hướng hoàn toàn thoát tục, xả kỷ lợi tha mới có thể làm được giữa đời thường này!
    1. Tu tp và hóa dun qua phương thức tbình kht thực

Đức Tổ sư dy trong Chơn lKht sĩ” rằng: Go lăn xin là sự chan hòa cho nhau, tức là công lvõ trụ, là Pháp bảo hay chơn lý, triết lnhiệm mu. Người này nu cơm, người kia ăn. Người khác may áo, người nmc. Knày ct nhà, kkia ở. Kkhác lo thuc, người nđau. Chúng ta hãy lng nghe Tổ sư định nghĩa vKht sĩ: Kht cnghĩa là xin, sĩ là người hc trò. Kht sĩ là người hc trò khđi xin ăn đtu hc. C hai thứ xin: (1) Xin vt cht (vn vt) đnuôi thân; (2) Xin tinh thn (c pháp) đnuôi trí”. Ngài cũng đã xác định trong
 


Chơn lY bát chơn truyn”: Giá trị ca kht sĩ với kht cái khác nhau rt xa, mt trời mt vực. Kkht cái tàn tt mới đi xin, tham sân si ti ác chng tiêu trừ. Mà ti li Kht sĩ là kthông minh trí thức, hiền lương mnh khe”.

Kht sĩ y bát chơn truyền đạo Ta-bà du hóa độ nhơn sinh.
Cng là vic đi xin, nhưng cách xin của người Kht sĩ khác hn với người kht cái. Người kht cái đi xin vì lòng tham, ai cho bao nhiêu cũng nhn, chỉ biết tư riêng ích k. Còn cách xin của người Kht sĩ khác lạ hơn, đi xin nhưng biết vừa đ, cho nhiều không nhn, cho tiền không ly, ăn ngày chỉ mt bữa, còn dư thì cho hết, không ct giữ chứa để ngày mai. Cách xin ăn của người Kht sĩ không phi do lòng tham hay tư riêng ích k, mà xin vì để diệt trừ bn ncủa riêng mình, giúp người phá trừ tâm xan tham, cho nên người Kht sĩ đi xin ăn là để làm gương cho đời, giáo hóa những kẻ hữu duyên. Hình nh người Kht sĩ đi đến đâu cũng tuyên dương giáo lý từ bi, bình đẳng, nêu gương đạo đức cho đời, từ đó được nhiều người quý trọng, cm mến, theo vtu hc hnh lành đạo đức.

Cách xin theo giáo lý Y bát chơn truyền là mt hnh tu cao viễn. Cho nên, Tổ sư Minh Đăng Quang đã dy: Từ hàng bậc xin bng thân, chcKht sĩ là xin bng tâm, cái xin cao thượng, trong sch hơn hết, tự người hảo tâm cho chkhông điều ép buộc. Kht sĩ đi xin đ ngăn lòng ti li. Đi xin đđền nghip cũ, đng sớm nghngơi, mau hết vn lời, đi xin đnhn nhường bthí ca ci li cho chúng sanh. Đi xin đlàm gương nhân quti li cho chúng sanh ngừa tránh. Đi xin đ đừng phm ti li mới. Đi xin đcthì gitu học. Đi xin đgo hóa chúng sanh. Đi xin đkhông tự cao dt nát, danh lợi, sc tài. Đi xin đ gii thoát phiền o và đun đúc tâm hn, rèn luyện chí hướng, tập sửa bn năng. Có đi xin mới có từ bi hỷ xả, trí tuthông minh, cõi lòng mát dịu, rộng mbao la, yên lng sch sẽ

Đức Tổ sư đã làm ni bt ý nghĩa và giá trị cao thượng quý báu của Đạo Pht Kht Sĩ qua pháp hành trì bình kht thực theo truyền
 


thng Y bát chơn truyền của Pht Tăng xưa. Hình nh người du Tăng ôm bát kht thực hóa duyên cũng là mt phương cách nhp thế độ sanh, nêu gương giác nggii thoát cho đời, từ bỏ tham sân si, diệt trừ bn ngã tư riêng nhhp, vượt lên sự chp trước thp hèn. Hiện ti, người Kht sĩ sng trên tinh thn vô ngã vị tha, sng chan hòa với pháp giới đi đng chúng sanh vn loi, tự ti an vui, chắc chn vị lai không lâu xa sẽ đt đến cứu cánh gii thoát, thành Pht.
    1. Nên tp sống chung tu hc

Chỗ đến rt ráo của đạo Pht đó là trvvới chơn ngã, là khi cái ta giả huyễn, nhỏ nhen, ràng buc tht sự tan biến, nhường chcho chơn nhoàn toàn thanh tịnh vng lng, thcủa nó bao la trùm khp vũ trụ vn vt, ở nơi đó: Vô nht vt trung vô tn tng. Mun được như thế, hành giả phi trau luyện cho cái ta của mình hòa nhp trv với chơn lý đi đng. Thế nên, bước đu tiên tu tp, Tổ sư thường dy khuyên cTăng Ni Kht sĩ phi sng chung tu hc trong tp thTăng-già: “Cái sống là phi sống chung, cái biết là phi hc chung, cái linh là phi tu chung.

Cái sng là phi sng chung: Tổ dy cTăng Ni nên tp sng chung trong giáo hi, tu tp trên tinh thn lục hòa cng tr, ly giới lut làm chun mực nghiêm trì không được sai sót. Sng chung trong mt tp thể để chan hòa tình thương, nhắc thức nhau tu hc, trau gii tâm ý không buông lung phóng túng và hc hi cái hay cái dở ln nhau, mài mòn bn ngã riêng tư mà hòa nhp vào thế giới đi đng bao la vũ trụ (Muôn người hòa hiệp nin mt nhà). Trên tinh thn kiến thức riêng chgii cho nhau, cTăng Ni trao đi cái thy cái biết ln nhau để có được sự hiểu biết, sáng ý tỏ lòng, già dn kinh nghiệm, nên Tổ dy:

Cái biết là phi học chung : Mặc dchú trọng pháp hành hơn pháp hc, nhưng Đức Tổ sư vn khuyến kch chư đệ tử hc chơn lý của vũ tr, hc hết thy các pháp. Tnói rằng: Người Kht sĩ phi là người ctht hc, phi đủ đức hnh, phi cchơn tu mới được gi đúng danh từ Kht sĩ(Chơn lKht sĩ”).
 


Trong Chơn lHc để tu, Tổ sư dy: “Hc đây không phi ch riêng học chữ nghĩa văn tự, mà học đy đvăn - tư - tu, học trong mi hành động, hoàn cnh sống, học ở mi người, mi nơi, học với tt c chúng sanh, vn vt. Người Kht sĩ tm sống xin ăn tu học đi ngay chơn lchng chút lãng xao, không màng khnhọc. Chính Pht là Vô Thượng Sĩ, là ông thy go có sự học không ai hơn!

Hoặc đon khác cũng trong Chơn lHc để tu, Tnói: Đo Pht do chhành mà gc ng, chkhông phi nơi cái hc mà đc… Hành đo là đc đo chhc đo chưa cđc đo đâu. Hc là biết đng tu hành, chphi đâu hc là đhc, hc mãi cho điên, cho chán, cho chết, cho hết thì giờ, tự vn”.

Vì vy, thâm ý ca Tlà học không phi chđcó kiến thức, học v, bng cp, mà học vi ý nghĩa để thông sut các pháp, rõ thu đường hướng mà tu hành. Trên bước đường tu hành đđt đến trí giác hoàn toàn, trvvi chơn tánh linh giác ca cnh nh thì Tdy:

Cái linh lphi tu chung : Mục đích rt ráo của đạo Pht là đt đến chtoàn giác, toàn chơn, toàn thiện, toàn m. Để đến nơi chơn lý y, là sát-na mà tâm thhoàn toàn thanh tịnh tịch nhiên, không còn my may vi tế trn cu, là phút giây tht sự quay vvới ngun ci tâm linh tn đủ sáng sut, hiện hữu với con người tht của chính mình. Lúc y, cái ta giả ngy biến mt, chỉ còn chơn ngã hiện tiền hòa cng vũ tr bao la, muôn sự muôn vt đều hiện rõ trong y. Thế nên, đã ở vào hàng Tăng lữ xut gia, thì phi sng chung tu hc để nung đúc, rèn luyện, tăng trưởng cái sng, cái biết, cái linh, chính là cụ thhóa tinh thn Tam tLục hòa mà cPht đã giáo hun tự ngàn xưa. Nhờ sự sng chung hòa đng đó, người tu tp diệt ln vô minh tự ngã ích kỷ nhhp, ngun năng lực của trí tuệ và từ bi phát sinh và dn tăng trưởng đi đến chhoàn toàn viên mãn, thành tựu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, thành Pht.
  1. SNGHIỆP HONG HÓA

Go pháp ca Đức Như Lai tlúc Ngài còn ti thế đến nay đã tri qua ba thời k: thời chánh pháp, thời tượng pháp và thời mt pháp.
 


Chúng ta phước mng nghiệp dày, nên sanh o thời mt pháp, chánh pháp blu mbi do cách Pht quá lâu xa, lòng người gii đãi, tâm ý buông i, vt cht ngày càng thnh hành, đạo đức ngày càng sa sút. Người tu hành by giđa phn chy theo nh thức, qn mt tâm chơn, nên đạo Pht có những lúc dường như chcòn là cái bóng chng vng, lmtưởng chừng như mt dng! Đức Tsư ra đời vi tâm huyết mun xây dựng li mi đạo đã bphai mdo năm tháng cách Pht xa T. Ngài đã dũng mãnh rống n tiếng rống ca sư tchúa hiên ngang oai vệ như chúa tể sơn lâm, vng dy pht cao ngọn cờ chn ng Chánh pháp, thp sáng li ngọn đèn chơn lý. Trên cơ sở đó, Ngài lp ra con thuyn Go hi Tăng-già Kht sĩ Việt Nam, và Ngài cnh là vị thuyn trưởng tài ba lái thuyn ra ki, vượt bao trùng dương sóng gió đưa vô số người sang bờ giác ngộ gii thoát an vui.

Thời pháp đu tiên được Đức Tổ sư khai đàn ging là Thuyền Bát-nhã” vào ngày Rm tháng Tư (1946) ti làng Phú Mỹ đã đánh du bước đường khởi sự công cuc hong hóa. Kể từ đó, nhiều người cm mến mt nhà sư hiền đức nhu hòa, giới hnh trang nghiêm, có đời sng thanh bn gin d, nên nương vhc hi đạo lành, dn dn càng đông đảo. Không bao lâu, Ngài đã nhiếp độ đy đủ cả hai chúng nam nữ cư sĩ và hai chúng xut gia Tăng Ni Kht sĩ.

Từ Phú M, Ngài đi khp nơi để giáo hóa như Long An, Mỹ Tho, Gò Công, Bến Tre, Thủ Thừa, Phú Lâm, ChLớn, Sài Gòn, Gia Định, Tây Ninh, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng u... sau đó là khp các tỉnh miền Tây, Đng bng Nam B.

Ri ln lượt tri qua các xứ, Phc thâu nhiều đệ tử gii giang,
Lp thành Go hi đo tng

(KNhớ ơn Pht)

Từ năm 1946 đến năm 1954, Tổ sư Minh Đăng Quang đã thâu nhn hàng trăm Tăng Ni xut gia nhp đạo, lp thành đoàn Du Tăng Kht . Những vị đệ tử đu tiên được Tổ sư trực tiếp giáo dưỡng,
 


hu hết là những vị có nhiều thiện duyên nên chng bao lâu đã trnên những vị giới hnh tinh nghiêm, đạo phong mu mực trong tu tp và hành đạo.

Ngót tám năm dài, Ngài tri gót du hành khp miền Nam nước Việt, thuyết pháp tiếp độ rt nhiều đệ tử hữu duyên xut gia và giáo hóa, độ vô sbá tánh cư gia khp thủ đô, tỉnh l, qun, thôn. Đến ngày mng 1 tháng 2 năm Giáp Ng, với bình đẳng tâm Ngài đã hoan hỷ đi vào “lửa nn, vui trả nghiệp quả trong nhiều đời kiếp luân hi. Thế rồi Ngài vng bóng, biền biệt cho đến nay. Khong thời gian Ngài xut gia tu hành và hong hóa độ sanh vỏn vẹn chỉ 10 năm.

Mười năm gm chng là bao.

Thế mà Ngài đã giương cao pháp mu”.

Pháp mu mà Ngài đã thực hành và tuyên thuyết cho hàng môn nhân và người hữu duyên nương theo, hc theo là giáo lý Trung đạo, để cho kẻ cao người thp đều có thể nương hc nương tu. Đó là con đường của tt cả những ai mang chí hướng xut trn, hnh nguyện xả kỷ lợi tha, dn thân phng sự cho đạo pháp, cho nhơn sinh.

Trong thời gian giáo hóa, Ngài có son ra bChơn lgồm 69 quyển và tp Bồ-tát go. Hai tác phm Pháp bảo cao quý còn li này chứa đựng những tư tưởng đặc th phát xut từ sui ngun tự chứng tự ngcủa bn thân, dựa trên nền tng là pháp môn Giới - Định - Tuệ truyền thng của đạo Pht.

Với phương châm Ni truyền Thích-ca Chánh pháp, chúng ta thy Tổ sư Minh Đăng Quang quyết chí đi theo con đường truyền thng mà Đức Pht Tổ Thích-ca Mâu-ni đã vạch ra. Tổ sư đã thực hiện thành tựu và lưu truyền cho hu thế hữu duyên mt dòng truyền thừa Chánh pháp với ba pháp yếu quan trọng sau đây:
    1. Tinh thn viễn ly trong hnh xut gia: Cách nay hơn 25 thế k, trên trái đt này, xut hiện mt Thái tử Tt-đt-đa có cnguyện vĩ đi, gii quyết tn căn những ni đau của thân phn con người. Ngài đã tự thân th nghiệm và khai phá mt con đường tâm linh đưa
 


chúng sinh vượt thoát khi sự chi phi của vô minh, của sinh, già, bệnh, chết, luân hi khổ đau. Vì vy mà yếu chỉ đu tiên của người xut gia chân chánh là tư tưởng viễn ly trong hnh xut gia.
    1. Tinh thn tinh tn trong tu tp: Sut 5 năm tìm đạo, 6 năm khhnh, Thái tử không bao giờ lười mi hay biểu lộ sự gii đãi buông ti. Từ khi rời hoàng cung, dn thân trong núi rừng, nng mưa, sương gió…, Ngài chỉ mt lòng tìm đạo, hc đạo, thiền quán, thân chứng và an trú trong đạo quả, hong pháp độ sinh đến khi nhp Niết-bàn. Ngài đã nêu lên tm gương sáng về tinh tn Ba-la-mt.
 
    1. Tinh thn gii thoát trong hong hóa lợi sinh: Người tu xut gia khi chứng đt đạo quả rồi, bước kế tiếp là thể hiện đức hnh gii thoát trên đường hong hóa lợi sinh. Tự mình đt công hnh lợi sinh như là mt bn phn, mt sứ mng thiêng liêng, không ngi gian lao, không từ khó nhc. Người làm đạo phi có đủ nhn lực và tư duy lực, đng thời xem sự kham nhn như là niềm vui gii thoát trên con đường c Như Lai sứ, hành Như Lai sự.

Tổ sư Minh Đăng Quang với chủ trương quay vngun ci tâm linh mà đức Pht đã khai mở, quyết tâm thực hiện truyền thng Giới
- Định - Tu, Ngài đã phát huy tinh thn viễn ly trong hnh xut gia; tinh tn trong tu tp; và chu toàn đức gii thoát trên đường hong hóa độ sanh.

Quá trình tu tp và hong hóa độ sanh của Tổ sư đã tạo nên công đức lớn lao không thngbàn. Ngài đã để li cho hu thế mt sự nghiệp vĩ đại, đó là giáo pháp Kht sĩ chân chính mà ai ny đều tin tưởng chắc chn sphát triển và tn ti vững bền ở thế gian qua sự kế thừa của hàng ngàn đệ tử xut gia cũng như ti gia, của hàng trăm ni đạo tràng tịnh xá khp nơi trên các miền đt Việt. Điều đáng nói là những ai đến với giáo pháp Kht sĩ tu tp đúng theo đường li Tổ dy đều đt được pháp vị an lạc gii thoát ngay hiện ti.
  1. KT LUẬN

Cuc đời của Đức Tổ sư là mt tm gương sáng chói, quý báu mà ai có duyên cm nhn cũng phi hướng đến Ngài với tt cả lòng tôn
 


kính. Sở dĩ hình nh Ngài trnên cao quý như vy vì Ngài đã sng mt đời phm hnh trong sch hơn người tm thường mt bậc.

Tổ dy: Người Kht sĩ phi thanh thoát nmt hoa sen vươn nh cao hơn mt nước. Trong Chơn lTrên mt nước, Ngài dy rằng: Lời nói ca người tu ví nhoa sen, việc làm ca người tu ví nlá sen, ý niệm ca người tu ví như gương sen, cthy c pháp đều ở trên cao, không trung và không còn phi ô nhiễm nước n theo thế sự”. Ngài tht sự là mt đóa sen thiêng thơm ngát giữa cõi Ta-bà uế trược này.

Chúng ta thy rõ đường hướng tu tp mà Tổ sư vạch ra cho hành giả thực hành để đt đến sự gii thoát không ngoài các điều mà cPht ba đời thực hiện. Theo giáo pháp của Ngài, mun đt đến lý tưởng đó, phi có trí đi hng, đi lực, đi từ bi; hng dũng bước tới không s gian tà phá hoi, luôn hành trì giáo pháp để đt đến quả vị gii thoát giác ng. Ngài đã thể hiện ckhí cao vời đó qua lời dy: Người hc đo tức là vt đt nhy lên, phá đa ngc mà ra, xé càn khôn mà đến, đp sanh tử mà đi, làm chly nh, cao ráo sch trên, không ai bì kp. Cho đến ông cha thời gian cũng không nht ngăn đng, nvy mới phi là người hoàn toàn gii thoát, gii thoát cái đời phát sanh ngun đạo(Chơn lNgun đạo lý”).

Tổ đã dy những lời vô cng thâm thúy, tự phn tỉnh mình mà cũng để răn nhắc cho hàng đệ tử:

Các Ngài nói nh Kht sĩ là đgiữ cái gc vn chơn nkhông tham vọng. Các Ngài nhnh Kht sĩ là đcho ý mun tham chng còn sanh.

Các Ngài thực hành Kht sĩ là đcho thy rõ cái không không ca tham vọng.

Kht sĩ là gii thoát trói buộc, phiền o vô minh vọng động, đ sống bng chơn ntrí tuệ, an lc, thong thả, rnh rang không còn to nghip thì luân hi sanh tử, kho mới đng dứt”.

Công đức khai đạo, tu hành và hong hóa độ sanh của Đức Tổ sư



tht lớn lao vô lượng vô biên. Trong khong thời gian ngn ngủi, với tui tác còn trẻ trung như thế mà Ngài đã lp nên mt sự nghiệp đạo pháp vĩ đại, quả là phi thường và hy hữu!

Tổ sư nay đã vng bóng, không ai rõ hiện giờ Ngài đang ở nơi đâu. Mặc dhuyễn thân Tổ sư không hiện hữu, nhưng Pháp thân của Ngài vn hng hữu trong pháp giới thanh tịnh, trong tâm khm của hàng môn đồ tứ chúng đệ tử. Tt cả đều luôn quy hướng vNgài với ni hoài vọng kính quý, mong ngày nào đó, Ngài xut hiện như mt phép lạ, trvề để làm bóng cả đi thcho tứ chúng nương tu. Và chúng con luôn tin tưởng rằng, dTổ sư an ngự ở cõi xa xăm nào đó, nhưng vn hướng về đàn con di mà thm gia hcho giáo pháp Kht sĩ mãi trường tn xương minh, cho tứ chúng đệ tử được chân cứng đá mềm, đy đủ từ bi, trí tuệ và hng lực để tu chứng tự thân và tiếp tục con đường xán ln mà Ngài đã vạch ra, để đem li an lạc lợi ích tht sự cho chúng sanh muôn loài, cng tiến đến quả vị rt ráo Vô thượng Bồ-đề trong mt ngày không xa.

Viết tham lun này, con có dp ôn li khơn, sâu hơn và rõ hơn về cuộc đời, công hnh tu tp cũng như snghiệp hong dương Chánh pháp ca Ngài, và càng cúi đu tôn kính vn ln hơn nữa trước bc Tôn sư vĩ đại, đã thhiện mt đời sng phm hnh, hoàn toàn thoát tc quý báu thanh cao. Ngài là tm gương sáng u truyn cho hu thế soi chung đrồi mi người đều t phát nguyn dõng mãnh tu tp, tiến bước theo chân Ngài đi đến chân tri giác nggii thoát.


 

***


TÀI LIỆU THAM KHO
 
  • Chơn lý của Đức Tổ sư Minh Đăng Quang.
 
  • Nghi thức tng nim của Hphái Kht sĩ.

- Ni san Đuốc Sen Nhà xut bn Tng hợp TP. HCMinh.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây