41. TINH THẦN BỒ TÁT ĐẠO CỦA TỔ SƯ MINH ĐĂNG QUANG

Chủ nhật - 09/09/2018 11:42
TINH THẦN BỒ TÁT ĐẠO CỦA TỔ SƯ MINH ĐĂNG QUANG
HT. Minh Hồi Giáo phẩm Giáo hội Phật giáo Tăng-già Khất Sĩ Thế giới Trụ trì Như Lai thiền tự - San Diego, Hoa Kỳ
  1. Tổng quan

Danh từ Bồ-tát là thut ngữ Pht hc hay được đề cp trong truyền thng Pht giáo Nam truyền ln Bắc truyền. Trong Đi tng Kinh điển, Bồ-tát được hiểu nghĩa là Bồ-đề-tát-đỏa theo cách phiên âm tiếng Phn là Bodhisattva, tức là mt vị Giác hữu tình luôn luôn hành trì các hnh Ba-la-mt.

Bồ-tát thực hành các Ba-la-mt để vun đp cho tâm Bồ-đề viên mãn Pht quả, nhưng nguyện không nhp Niết-bàn khi chúng sanh chưa giác ng, đó cũng chính là hnh nguyện mà các Bồ-tát nguyện để giáo hóa chúng sanh đến giác ng. Vì vy, hai yếu tố cơ bn của mt Bồ-tát là lòng từ bi đi song song với trí tu.

Hoa Nghiêm tông đã đưa ra hành trình tu hc của mt Bồ-tát là cn phi có 52 quả vị gồm thp tín, thp tr, thp hnh, thp hi hướng, thp địa và hai quả vị cui cng là đẳng giác và diệu giác.

Khái niệm Bồ-tát cũng xut hiện nhiều trong truyn thng kinh điển Nikaya, cthể là trong phần lớn ca Bản Sinh Kinh” gm 547 câu chuyn thuc Tiu bkinh. Kinh này kể lại sch, các tiền kiếp ca Pht Thích-ca hóa thân tnh các hạng người khác nhau để hóa đcác giai cp khác nhau. Vì lòng vtha, vô ngã
 


tâm cu hc ca mt Bồ-tát trên con đường thực hành Bồ-tát đạo, dtrong tiền kiếp vẫn luôn có những người chng đi Pht. Đức Pht cũng chrõ các nghiệp đời trước đóng vai trò thế nào trong đời này cùng vi sự hóa giải nghiệp ác trong quá khvà hiện đời để tu tp lòng từ. Nhiều truyn trong Bn Sinh Kinh là truyn cn Đcó trước cthi Đức Pht, nng phù hp vi ni dung kinh nên được đưa o. Phần lớn các câu chuyn đều có những bài kệ chính các câu kệ mi là tinh hoa ca tp kinh này. Các tp truyện này trtnh ngun cảm hứng ca nhiều tranh tượng trong các đền chùa Pht giáo và thường được quần chúng Đông Nam Á ưa tch. Hình ảnh ca Bồ-tát tương tnhư mt bậc Thánh A-la-hán hoàn ho, giàu lòng tbi, thương yêu chúng sanh nng giu kín trong phong cách trầm mc hiền lành, giản dị, trong sáng ca đời sng phạm hạnh hằng ngày, trtnh quen thuc vi chúng ta. Trong Đại thừa, khi nói đến Bồ-tát thì xem đó là tiền thân ca các vPht trong tương lai, chính vì vy mà Đại thừa đã chia làm hai hạng Bồ-tát: Bồ-tát đang sng tại thế gian và Bồ-tát siêu việt. Bồ-tát là bậc đã đt Nht thiết trí, không còn bvướng kt trong vòng luân hi sinh tử. Các ngài chthhiện ở thế gian dưới nhiều dạng khác nhau đcứu đchúng sinh trong sinh hot thường nht. Dbằng nghiệp lực hay bằng bi nguyện, dù ở hàng Sơ đa hay Thp địa, hết thy Bồ-tát đều trlại thế gian đcứu đchúng sinh.

Vi Tsư Minh Đăng Quang, Ngài đã chỉ rõ ra rằng con đưng ca Kht sĩ là chánh chơn thin, đem pháp an vui cứu đi, không phi là những pháp đơn thun chtham cu vk. Trong Kinh Pp Hoa Nghĩa S, quyn 1 có ghi rằng: Tỳ-ku gi là Kht sĩ, trên thì xin go pháp ca Như Lai đni dưỡng tinh thn, dưới thì kht thực ca bá tánh đni tự thân. Vi ý pháp Kht sĩ, T sư Minh Đăng Quang đã triển khai phương tiện, tùy duyên bt biến mà lp ra Kht sĩ cba bậc: Thinh Văn, Duyên Gc và Bồ-tát. Cnh Kht sĩ Bồ-tát: Là những bậc thy ngi trên, chng bao giờ thiếu ht, cũng ví như vua trời, vua người; là bậc Tsư go ch, vì muốn răn lòng cao trng, vì muốn chứa đức thêm nhiều, vì muốn khuyên lơn hàng vương gi, vì muốn phc lòng thiên h, vì theo sgii thoát
 


trung đạo, vừa làm gương Tăng chúng, vừa để đi đứng khắp nơi công bình, vừa tìm duyên hóa đ, vừa đlàm quen dn dĩ đến gn, cho kẻ thấp thỏi nhỏ nhoi. Vy nên phi đi xin, chính sự đi xin ca c Bồ-tát hay Pht là điu khó nht, trong thế gian ít ai làm được. Bởi Pht là bậc toàn năng, kng chỉ kng làm được có kc hơn bậc hoàng đế, bá, hu, vì thể din danh dgiá tr, li lộc, chấp mình, mà phi thụt lùi từng bước, phi mãi ôm chấp cái ta, nng nề té sa h thấp trũng sâu, chịu chết tht bi, mà chng dám m xa bước tới no lành. Chúng sanh mà thua Pht là bi cvic làm được, còn c vic làm kng được. Mà những vic làm kng được y, li là vic phi đáng làm. Còn làm được là được vic ti li hư vọng, y cũng vì muốn vừa lòng theo trẻ nhsđông, sợ chúng trcon di dột chê cười, mà kng nghĩ đến slành ca ông già trí thức, tuy ít người khen mà li thành công hơn. Những cái trlực bức tường sst yếu t bn lùi, lụn bi, luân hồi y, chcKht sĩ mi là gii thoát tiến hóa đứng vững, thng phc đạp n; mi gi là bậc hay làm được vic khlàm, mnh mhơn chca người kc vy”.

Ở đây, phương tiện tính được biểu hiện rõ ràng qua con đường hong pháp lợi sinh của Tổ sư, với tinh thn “Kht sĩ Bồ-tát. Tổ sư Minh Đăng Quang đã chỉ rõ: Bồ-tát là bậc thy có vai trò quan trọng trong sự giáo hóa và dưỡng dục đệ tử, cư gia bá tánh và chúng sanh. Bậc thy đó luôn hướng vcPht, Bồ-tát, Thánh Hiền và chư thiện tri thức để cu hc hi những điều chánh đạo. Với lòng từ bi rộng lớn, luôn hướng về tt cả chúng sanh để chia sẻ những điều tt lành, những kinh nghiệm tu hc nhm chuyển phiền não thành Bồ-đ, thực hiện con đường đạo đức và hnh phúc trong cuc sng. Đây chính là ý nghĩa của hng Kht sĩ Bồ-tát mà Tổ sư Minh Đăng Quang đã trình bày.

Với truyền thng Đạo Pht Kht , Tổ sư đã khai mở và hành trì Bồ-tát hnh. Ngài đã dung hóa khái niệm Bồ-tát trong hai truyền thng Pht giáo lớn, đó chính là vic khai mphương tiện trong vic truyền dy, giáo hóa và hành trì Bồ-tát hnh vì nó vô cng quan trọng, gi là bậc hay làm được việc khlàm, mnh mhơn chỗ ca người khác. Đó chính là ý nghĩa của vic thực hành Bồ-tát đạo, mt
 


Bồ-tát vô tr, vô sở cu, vô sở đắc, chỉ vì lợi ích chúng sanh là mục đích ti hu.
  1. Ni dung

Pht giáo Việt Nam thế kXX là một giai đon phc ng phát triển rực rỡ trong tiến trình phát triển cùng vi lịch sdân tc. Giai đon này, lịch sPht giáo Việt Nam đã viết nên những trang svàng chói sáng, mà trong đó Đo Pht Kht Sĩ Việt Nam do Đức Tsư Minh Đăng Quang khai sáng là một du n đặc sắc nht, đóng góp o quá trình nh thành và phát triển ca lịch sử Pht giáo Việt Nam thêm đa dng. Năm 1944, khi Tsư mi 22 tuổi đời, Ngài đã ngđạo sau quá trình t tìm hiểu hai giáo lý Bắc truyền, Nam truyn và tđó Ngài đã du hành khp xđlp đạo, giáo hóa chúng sanh. Trong quá trình hành đạo ca Ngài, các yếu t: khai mphương tin tính; xác định nht thừa lnn tảng của giác ng, giải thoát; tinh thần vô trtrong việc giáo a li sinh được biểu hiện rõ nét nht trong tôn chvà hnh nguyn hành đạo ca Tôn sư.
    1. Tổ sư Minh Đăng Quang khai mphương tin tính

Trong Chơn lý, Tsư gii thích: Đo Pht không phi là hc Pht hay Pht pháp. Vì Pht pháp là giáo lgiác ngphương tiện tùy duyên ca Pht, dy cho mỗi chúng sanh khác nhau. Còn hc Pht là kđang hc giáo lý ca Pht mà ca thực hành. Trái li, đạo Pht là stht hành đthành Pht, là stu ging y theo Pht! Con đường y là Kht sĩ, là Tăng, là đtPht sau này, là gii lut y bát chơn truyn vy(Chơn lĐo Phật Khất Sĩ”). Vi ý nga này, theo Tsư thì vic chia ra thbậc trong c pháp môn tu hành Phật pháp là do căn cơ ca con người không giống nhau. Người phát đi tâm cầu Đi thừa, người thì chphát tâm tu hnh xuất ly, vì vậy cũng đng là bthí, trì giới, thực hành định hay tu hunng kết quli không giống nhau. Căn cơ ca c hạng người là do tu tập mà thành, không phi do tvô thy đến nay đã có sn, không ththay đi được. Ngay ccon đường tu tập cũng phi tun ttheo c thbậc mà tiến lên, không thbnhảy
 


vượt qua được, nếu không thì không bao giđạt đến cứu cánh vô thượng, hay còn gi là Nhất thiết trí.

Khi mt người nhn thức được quá trình tu tp tâm Bồ-đề để giác ngchính là quá trình chuyển hóa được các su kh, chuyển phiền não thành Bồ-đề và luôn phát tâm đi bi làm lợi ích cho hữu tình, thì đó chính là kết quả của vic đã dứt hết được mi đau khcủa mình, mun cứu giúp chúng sinh, nguyện dứt bmi ni đau khcho các loài hữu tình, được gọi là bậc Thượng sĩ. Chính bậc Thượng sĩ hay Kht sĩ Bồ-tát mới có thể đm nhiệm được hnh nguyện Đi thừa, nhưng cũng không vứt bỏ thiện nghiệp của hng phàm phu hay bậc nhị thừa. Cái sau hơn cái trước, cái trước được thu nhiếp trong cái sau, đó chính là thứ bậc của sự tu hành Bồ-tát theo quan điểm của Tổ sư đã chỉ dy.

Chính ý pháp này đã làm nên hnh vị tha, thun thiện và vô vụ lợi của mt hành giả phát tâm hành Bồ-tát đạo. Vì lý do đó, Tổ sư nhn mnh điều cn thiết với mt vị Bồ-tát, sau khi đã đi vào cánh cửa bt nhị chính là vic sử dng phương tiện như là mt phương pháp thiện xảo vào những điều cn làm, sao cho mrộng được Tâm nh đng đến mi chúng sinh trong vô vàn thế giới sai biệt.
    1. Tổ sư Minh Đăng Quang xác định Nht thừa là nn tng của giác ng, gii thoát

Lch sử phát triển Pht giáo thăng trm trong sut hơn 2500 năm và đã lan tỏa từ n Độ khp nơi trên thế giới. Do đó, vic hình thành các bphái, các thừa khác nhau với các phương pháp tu hc và cách gii thích khác nhau vgiáo lý cho thích hợp với tình hình của mi xã hi, mi thời điểm là điều tt yếu. Tuy vy, bn thân giáo lý Pht giáo không hề có sự phân chia tông phái này hay thừa kia.

Những băn khoăn về các thừa, vtông go, vphái hệ đều rơi vào phm trcủa nchp, và làm hành giả tu tp bị vướng kẹt trong nsở. Chính vì vy, Tổ sư Minh Đăng Quang đã dung nhiếp các thừa trong mt câu là Việt Nam đạo Pht – không có phân thừa.

Đc biệt, Đức Tsư Minh Đăng Quang đã nhấn mạnh tinh
 


thần vô ngã triệt đca giáo pháp, khi giải phá những sai lầm trong schp nht về tông, phái, giáo; thực cht chcó Pht thừa, Pht giáo tức là con đường trung đạo. Vì vy, Tsư nhấn mạnh: Con đường Kht sĩ đi đến quả Pht, kêu là Trung đạo Chánh đng Chánh giác Vô thượng, Trung đạo y là Tứ y pháp. Vy thì chúng ta nên phi tht hành đúng y Tứ y pháp, không nên vin llgì bác bđi cho được(Chơn lCnh pháp”)Giáo lKht sĩ, mt là dứt các điu ác, hai là làm các điu lành tùy theo nhân duyên cnh ng, không cố chp, vì lẽ không có thì gidư d, và cũng biết rng: các việc lành là để trau tâm, vì tâm mà làm sự phi, chớ không ngxem nơi việc làm kết qu; và ba là ct yếu gilòng trong sch(Chơn lĐạo Pht Kht Sĩ”). Tùy theo nhân duyên cnh ngộ là mt yếu tố quan trọng trong vic tu tp và trưởng ỡng tâm Bồ-đề. Đó chính là chỉ cho trạng thái tnh thức, lúc mà hành githực hành Bồ-tát đạo trực nhận được thể tánh bình đẳng tuyt đi ca tánh giác, cũng n trực nhận được chân lý ca toàn thể vũ trụ.

Tht ra, chcó mt con đường duy nht (Pht thừa), nng Đức Pht và chư vTsư tùy căn cơ dùng phương tiện, dy ba con đường (tam thừa). Con đường là chcho giáo pháp, vì giáo pháp năng lực đưa con người từ vô minh đến giác ng, cho nên, trong kinh điển thường ly nh ảnh chiếc xe hay con đường làm ví dụ. Kinh Pháp Hoa, phẩm Phương tiệncó ghi: Chư Pht chdùng mt con đường (nht thừa) để hóa đchúng sinh, chứ không có con đường (thừa) nào khác, dù là hai hay ba.... Đó là giáo pháp duy nht đưa đến schứng ngộ tugiác vn mãn ca chư Pht. Đức Pht Thích-ca Mâu-ni đã thhiện đgiúp chúng sanh ngộ nhp Pht tri kiến. Có nghĩa là Pht chtùy cơ duyên, sdng các phương tiện bằng niềm tin mà nói tam thừa nng thực cht chcó Pht thừa dẫn đến giác ng.

Trong Chơn lPháp cnh giác, Tsư viết: Cách tu thành đạo ca Pht cùng chư Bồ-tát tuy gii sơ lược nng qubáu vô cùng. Chính đlà phép tu thành đo, đắc đlục thông A-la-hán, vốn không sai chy, chúng ta nên phi thường lp đi lp li, mi nhn thy rõ kết
 


qu. Vì ca đắc quả lục thông A-la-hán thì đâu được đến Bích-chi, Bồ-tát và Như Lai. Những ai có tht hành mi thy rõ rng xa thêm, những chỗ diu mu khó t. Những ai uống nước thì t nóng lnh tự người hay. Đã là pháp chánh giác thì chng cđiêu ngoa. Nng c tht tu hành hay không là tai phi cố gng ly, không ai giúp nên cho mình...; Chính Pht là Vô thượng sĩ, là ông thy giáo csự hc không ai hơn! Còn Tăng là Kht sĩ, là hc trò đang đi du hc khp nơi cùng xứ, hc nơi thy, nơi bn, nơi trò, hc vi tt cả chúng sanh, vn vt, các pháp, hc vi Pht Pháp Tăng ba đời, hc txóm làng tnh xứ, đến khp các xã hi, thế gii chúng sanh, hc nơi chviết, nghe li nói, hc bng lo lng nghĩ ngợi, hc nơi sự tht hành, hc nơi c, cây, thú, người, trời, Pht, đt, nước, lửa gió. Tm sng xin ăn tu hc đi ngay chơn lchng chút lãng xao, không màng khổ nhọc(Chơn l Kht sĩ”). Kht sĩ luôn ly lợi tha làm tlợi, vì thế quá trình tu tp Bồ-tát hạnh, hành Bồ-tát nguyện, theo quan điểm ca Tsư thì cần phải thực hiện mt cách khế lý, khế cơ và khế thi. Chcó như vy mi thực hiện được phương thức thực hành hạnh Bồ-tát.
    1. Tổ sư Minh Đăng Quang ứng dng tinh thn vô trụ trong việc giáo hóa lợi sinh

Khi tu hc Pht pháp mà chưa thu rõ pháp vô n, vô trlà chưa hiểu gì về Pht giáo. Trong quá trình tu tp các công đức lành, thực hành hạnh Bồ-tát, đạo lý tu hành là chúng ta có phá được nchp hay không. Đức Pht nói: Tt cả pháp đu vô n(Chư pháp vô n). Vì tt cả pháp không pháp nào không bsanh diệt, tt cả pháp đều chuyn biến và không đc lp, các pháp đều có mi nhân duyên đchúng kết ni, duyên sinh. Ở khía cnh này, Đức TMinh Đăng Quang trình bày: Kht sĩ là hc trò khó đi xin ăn để tu hcKht sĩ là cái sng ca chơn lvũ tr. Qua ý pháp này, chúng ta nhận thy cái ngãlà không tht có, mà chlà mt tp hp ca ngũ uẩn được Tsư trình bày dưới nhãn quan là cái sng ca chơn l vũ tr. Chcó chơn lý mi chính là thể tánh giác ngộ bình đẳng còn cái n, cái sđắc, s trthì luôn luôn thay đi, sinh diệt. Cho dđạo Pht có ra đời hay không, cho dloài người có tn tại hay
 


không, pháp duyên sinh vô ngã – vô trvẫn hiện diện trong vũ trnhư mt chân lý: Mi pháp hữu vi (pháp có sinh có diệt) đều là kh, vô thường, vô ngã.

Đức Tsư nhn chân được pháp duyên sinh – vô ngã là thtánh vô trca chơn lý nên Ngài đã đưa ra tôn chỉ: Kht sĩ Bồ-tát cũng như ông thy giáo dy hc cho bá tánh, chng lãnh tin lương, dù dy ít dy nhiu không hkcông so ca, quý nht là gương hiền đạo đức, gương gii hạnh, gương tbi đi lượng ở đờiKht sĩ là hc tđang đi du hc khắp nơi cùng xứ, hc nơi thy, nơi bn, nơi trò, hc vi tt cchúng sanh vn vt, c pháp, hc vi Pht Pp Tăng ba đời, hc txóm làng tỉnh xứ, đến khắp c xã hội, thế gii chúng sanh, hc nơi chviết, nghe li nói, hc bng lo lng nghĩ ngợi, hc nơi stht hành,... Tm xin ăn tu hc đi ngay chơn lchng chút lãng xao, không màng khnhc. Vì gc ngvà thực hành pháp vô tr, liễu ngthtánh chân như nên mi khái niệm vn, ngã s, ngã đắcđều mang tính chất tương đi trong vòng duyên sinh vô n; đó cnh là chân lý ca s tu hành Bồ-tát đạo, làm lợi ích cho hữu tình và trực nhn được bn chất vô trca pháp chân như.
  1. Kết luận

Con đường tu tp ca người Kht sĩ theo lời dy ca Đức Tđã được trình bày xuyên sut trong Chơn lý, đó là con đường tu tp theo Giới – Định – Huệ: Người Kht sĩ chỉ có ba pháp tu hc vn tt là: Giới, Đnh, Hu; Nếu Kht sĩ không có tu vđịnh hu, du mà có trì gii không đi nữa cũng ca gọi được trọn là Kht sĩ, vì chSĩ đây là sự hc đạo lvi quả linh, bng pháp tu định hu. Tu tức là hc, hay hc tức là tu, bi ti hành mà dy sanh ra hc. Tu hc định huệ là do gii y bát Kht sĩ. Như vy là trong tiếng Kht sĩ, đ gồm cả Gii - Đnh - Hu(Chơn l“Y bát chơn truyn”). Dcác pháp được trình bày dưới nhãn quan nào hay dthực hành Bồ-tát đạogiai đoạn nào đi nữa thì cũng phải nằm trên căn bản ca pháp tu tp theo Giới – Định – Huệ.

Pht giáo Việt Nam giai đon những năm 1945 - 1954 đã sn
 


sinh ra Tổ sư Minh Đăng Quang, vị khai sơn “Đạo Pht Kht Sĩ Việt Nam. Trong tâm nguyện tìm cu gii thoát cho mình và cứu độ mi người ra khi khổ ách, Tổ sư Minh Đăng Quang, vị tu sĩ Pht giáo đu tiên ở Việt Nam phát đi nguyện, đứng ra dung np tinh túy của hai tông phái Pht go, thực hành đường li tu hc đúng theo Chánh pháp của Pht Tổ Thích-ca Mâu-ni với phương châm: Ni truyền Thích-ca Chánh pháp, Đo Pht Kht Sĩ Việt Nam”.

Tổ sư đã xác định: Kht sĩ là nhựt nguyt tinh quang, là ánh sáng giữa đêm ti đchdt người ra khi cnh rừng nguy”. Trong bi cnh xã hi của Việt Nam giai đon 1945 - 1954, sự xut hiện của Tổ sư, đường li tu hc và những lời dy của Ngài quả tht là: Giữa lúc cõi đời chết kh, Kht sĩ là cht nhựa sống, gn liền c khi chia rriêng tư. Kht sĩ là con đàng chơn lvõ trụ, đúng theo trung đo ánh sáng, không thiên vmt bên lmé, Kht sĩ tượng tng go lđi đồng(Chơn lY bát chơn truyn”).

Vi cnguyện Ni truyn Thích-ca Chánh pháp, Tsư đã quyết chí đi theo con đường truyền thng mà Pht Thích-ca đã vạch ra, noi gương Pht Tăng a sng đời phm hnh ca mt du phương Kht sĩ. T ngun sui tâm linh này, Tsư đã tiếp tc khơi thông ngun mch, thun duyên hành đạo trong cng đng dân tc Việt đkhai sáng ra Hphái Pht giáo Kht sĩ Việt Nam. Mt khác, cvị đi đệ tử Tôn túc ca T, điển hình là Đi lão Hòa thượng Pháp sư Giác Nhiên đã du hóa và truyền bá Đạo Pht Kht Sĩ mở rng đến thế giới phương Tây và Úc châu ngày nay, hình thành nên Giáo hi Pht giáo Tăng-già Kht sĩ Thế giới. Nghĩa là, mc dcách tu hc theo li Kht sĩ đã có từ thi Pht Thích-ca còn ti thế, nng vi phương châm:

Nên tập sống chung tu học, Cái sống là phi sống chung, Cái biết là phi học chung, Cái linh là phi tu chung,



Tổ sư đã khai mphương tiện tính, xác định nht thừa là nền tng của giác ng, gii thoát; tinh thn vô trụ trong vic giáo hóa lợi sinh. Sng chung tu hc để nung đúc, rèn luyện, tăng trưởng cái sng, cái biết, cái linh, đó chính là cụ thhóa tinh thn Tam tụ và Lục hòa mà cPht đã dy từ ngàn xưa. Đng thi, Tổ sư cũng khuyến kch các cư sĩ ti gia tích cực gn bó trong cuc sng, cng chung xây dựng mt cõi đời đạo đức, mt cuc sng an vui, hnh phúc ngay ti thế gian này.



 

***


TÀI LIỆU THAM KHO
 
  1. Hán dịch: Ðại sư Tht-xoa-nan-đà, Việt dịch: HT. Thích Trí Tnh, Kinh Hoa Nghiêm, Pht hc viện Quc tế xut bn, PL. 2527
– DL. 1983.
  1. Đi Chánh tng, Kinh Pháp Hoa nghĩa sớ, quyển 1.
 
  1. Tổ sư Minh Đăng Quang, Bồ-tát go.
 
  1. Tổ sư Minh Đăng Quang, Chơn lKht sĩ.
 
  1. Tổ sư Minh Đăng Quang, Chơn lĐạo Pht Kht Sĩ.
 
  1. Tổ sư Minh Đăng Quang, Chơn lY bát chơn truyn.
 
  1. Tổ sư Minh Đăng Quang, Chơn lPháp chánh gc.
 
  1. Tổ sư Minh Đăng Quang, Chơn lChánh pháp.
 
  1. Tổ sư Minh Đăng Quang, Lut nghi Kht sĩ.
 
  1. Tổ sư Minh Đăng Quang, Chơn lVõ tr quan.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây