38. NGHIÊN CỨU TƯ TƯỞNG PHẬT TÁNH TRONG CHƠN LÝ CỦA ĐỨC TỔ SƯ MINH ĐĂNG QUANG

Chủ nhật - 09/09/2018 11:33
NGHIÊN CỨU TƯ TƯỞNG PHẬT TÁNH TRONG CHƠN LÝ CỦA ĐỨC TỔ SƯ MINH ĐĂNG QUANG
NS.TS. Tuệ Liên
Giáo phẩm Ni giới Hệ phái Giáo thọ Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP. HCM
Đức Tổ sư Minh Đăng Quang, Tkhai sáng Đạo Pht Kht Sĩ Việt Nam, tuy đã vng bóng 60 năm nhưng giáo lý mà Ngài tuyên thuyết được ghi li trong bChơn lchính là ct cách nhn thức của Ngài, là kho tàng pháp bảo để li cho hàng đệ tử.

Chơn ltrọn bộ 69 quyển, gồm có 9 quyển nói vgiới lut và pháp hành của giới Tăng Ni xut gia, còn li là 60 quyển là 60 đề tài liên quan đến các vn đề Pht hc. Ngoài các bài có ni dung căn bn như Ngũ un, Lục căn, Thp nhị nhân duyên, Bát chánh đạo, Có và Không, Thiền định... Chơn lcòn có các tư tưởng Pht hc trong nhiều kinh điển Đi thừa như Pháp Hoa, Quan Thế Âm, Vô Lượng Cam L, Đi Thái Thức, Pht tánh, Chơn như... Trong đó Pht tánh” đã trở thành mt tư tưởng trọng yếu trong bChơn lNgài đã dng trọn mt quyển Pht tánh” để triển khai.
  1. Định nghĩa

Pht Quang đi từ điển đã định nghĩa Pht tánh” như sau: Phật tánh, tiếng Phn là Buddhadhàtu, Buddhagotra, còn gi là Như Lai tánh, Gc tánh, tức là bn tánh ca Pht, hoặc chcho tánh cht Bồ-đvn có, ht giống Bồ-đề, nhân tánh, tánh ckhnăng thành Pht, là tên khác ca Như Lai tng1.

1.《佛光大词典》佛性:又作如來性、覺性。即佛陀之本性,或指成
 


Trong lịch sử phát triển tư tưởng Pht hc, Pht tánh bt ngun từ ý niệm Tâm tánh bn tịnh. Tt cả chúng sanh đều có tâm tánh bn tịnh, cũng tức là đều có khnăng thành Pht, nên gọi là Pht tánh. Căn cứ Cứu cánh nht thừa bảo tánh lun, Pht tánh chyếu có 3 nghĩa: Pht giới (Buddha-dhatu), Pht chng tánh (Buddha-gotra), Pht tng (Buddha-garbha) tức Như Lai tng (Tathagata-garbha). Chữ tánh” ở đây không chỉ là tánh cht, nguyên văn của nó có nghĩa là giới, có nghĩa là nhân. Trong Đi Bát Niết-bàn còn dịch thành Pht giới. Đây là ý nghĩa ban đu của Pht tánh. Kinh nói: Tt cchúng sanh đều cPht tánh, cũng có thể dịch là Tt cchúng sanh đều cPht gii. Pht giới li có 2 nghĩa Bn tánh của Pht” và Nhân tánh của Pht2.

Đức Tsư ngay trong bài Pht tánhđã định nghĩa: Tánh là ngun lsanh ra chúng sanh, vn vt c pháp. Tánh tức là võ trkhông gian trơ lng. Tánh là bn ngun ca tt c. Tánh là gc ngun ca muôn loi. Tánh cũng là bn cht đu tiên ca võ tr. Tánh là h, vn, chơn tht ca cthy, cũng là căn bn ca hết thy3. Tđịnh nghĩa này chúng ta có thể thy Đức Tsư đã sdng tngữ tuy không hoàn toàn ging như các kinh điển hoc tđiển nng rõ ràng cách diễn tả đã bao hàm các ý nghĩa ca chữ tánh” trong Pht tánh.

Còn Pht có nghĩa là: Tâm chơn chng vọng, tánh gc không mê thường gi là Pht”, Chơn tâm là Pht4.

Đi thừa khởi tín lun nói: Tâm này từ xưa đến nay tự tánh vn thanh tnh, mà bvô minh làm nhiễm ô, tuy bnhiễm ô nng tự tánh thanh tnh vn thường hng bt biến5.

Kinh Viên gc nói: “Tt cNhư Lai bn khởi nhân đa đều y theo tướng viên chiếu thanh tnh gc ng, đon trừ hn vô minh mới thành



佛之可能性、因性、種子、佛之菩提之本來性質。為如來藏之異名。
  1. Dn từ Lữ Trừng: Khái lun tư tưởng Pht học Trung Quc.
  2. Chơn lý, tp III,Pht tánh, tr. 5.
  3. Chơn lý, tp I, Ngũ un”; tp III, Pht tánh. 5.《起信論》:是心從本已來,自性清淨 ,而有無明,為無明所染,
有其染心而常恆不變。(T.32,   P.577C)
 


Pht đạo6.

Như vy trong nhiều kinh điển, Pht tánh cnh là chân tâm thường tr, là thể tánh sáng sut, là tánh giác, là Pháp thân bình đẳng...

Đức Tổ sư cũng đã nói vPht tánh: Pht tánh, tánh ca cPht. Tánh y chơn như, không vọng động, trơ lng không không, chơn tht, nguyên lý, bn cht, gc vn, ci ngun, mà ai ai gc ngộ ra, cũng đều trli! ... Pht tánh là tánh chơn như ca võ trụ, bậc gc ngộ nhn ra, ly giữ làm nh, làm tâm, làm món ăn nuôi sống cái tâm7.

Đức Tổ sư sáng lp ra Đạo Pht Kht Sĩ Việt Nam với hnh nguyện, tông chỉ Ni truyền Thích-ca Chánh pháp, Ngài đã tuyên bố: “Pht tánh là giới Kht sĩ”; Kht sĩ là họ ca Pht Thích-ca”; Pht tử, Thích tử, Pht tánh, Thích tánh, phi là những kẻ xut gia gii thoát, Kht sĩ du Tăng, y nPht Thích-ca mới đng”; Kht sĩ là chơn tánh võ tr8. “Đo Pht là con đường đi đến quPht gc chơn. Con đường y là Kht sĩ. Họ ca cPht ba đời là Kht sĩ, Kht sĩ là ltht ca chúng sanh, mc đích ca chúng sanh. Kht sĩ là đến với gc chơn, toàn hc biết sáng tự nhiên, hết mê lm vọng động9.

Đây là mt cách diễn tả hết sức đặc biệt, để nói vPht tánh theo kinh nghiệm tu chứng của Đức Tổ sư và cũng theo tinh thn lịch sử được ghi chép trong nhiều kinh điển.

Sau khi Đức Pht thành đạo, trong ln Ngài trvthành Ca-tỳ-la- vđhóa đvua cha, di mu và thân bng quyến thuc. Khi đó, Đức Pht giữ theo hnh kht thực trì bình vi chư đtử, vua Tnh-phn nghe được rt bun, đi đến i ngăn cn, và nói rằng: Dòng họ Thích- ca ta đến nay, thy đều là vua chúa, nào cai phi đi xin đâu?

Đức Pht trả lời: Dòng htôi là Pht, ccPht mười phương ba đời, thy đều Kht sĩ cả, tôi cbn phn phi noi du, giữ ly h


6.《圓覺經》:一切如來,本起因地,皆依圓照清淨覺 相,永斷無 明,方成佛道。 (T17, P.913b)
  1. Chơn lý, tập III, “Phật tánh”, tr.6.
  2. Sđd, Pht tánh.
  3. Sđd “Đạo Pht Kht Sĩ, tr. 401.
 


hàng Kht sĩ”.

Theo quan niệm của vua Tịnh-phn, dòng hcủa vua là phi ngồi trên ngai vàng để thọ hưởng thn dân bá tánh cung phng, phi nm quyền sanh sát trong tay. Vì thế “Thái tử xin ăn giữa đế đô, làm cho xu hcdòng vua10. Còn đi với tinh thn Kht sĩ của cPht là: Đgiữ cái gc vn chơn nkhông tham vọng... là đcho ý mun tham chng còn sanh... là đcho thy rõ cái không không ca không tham vọng. Kht sĩ là gii thoát trói buc phiền não vô minh vọng động để sống bng chơn ntrí huệ, an lạc thong thả, rảnh rang, không còn tạo nghiệp, thì luân hi sanh tử kh, mới đng dứt11.

Như vy, ngoài phn trình bày tư tưởng Pht tánh như trong kinh điển, Đức Tổ sư còn nhn mnh: Cả thy cPht đều là Kht sĩ, đúng y chơn lý, Kht sĩ sẽ là đo Pht, là hPht, là chơn tánh, Pht tánh, họ gc con đường ca người gc ngộ12. Đây chính là điểm đặc sắc của Đức Tổ sư khi nói vPht tánh.
  1. Tư tưởng Pht tánh theo tinh thn Pht giáo Ngun thuỷ

Nghiên cứu các sliệu văn hiến, chúng ta có ththy Đức Pht Thích-ca Mâu-ni khi còn ti thế, khái niệm Pht tánh ca được phbiến. Khi đó, các đttheo Ngài tu hành tinh tn được chứng đắc các quvTu đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm hoc A-la-hán là điều rt thường xy ra; còn khái niệm Pht tánhhu như không tìm thy. Pht go Nguyên thy và các bphái chu nh hưởng nng tư tưởng Pht go Nguyên thy đều cho rằng trong hiện kiếp chmt nh Đức Pht Thích-ca thành Pht và các vđtử Thanh Văn không ththành Pht. Do đó, tác gicủa Hoa Nghiêm ngũ go chương khi liên hđến vn đề Pht tánh đã có kết lun: Trong Pht go Tiu thừa chcmt nh Đức Pht cPht tánh, n tt cnhững người khác thì không c. Đng quan điểm này, Kinh Đi Bát Niết-bàn cũng th hiện rt rõ vquan điểm của
    1. Ni trưởng Huỳnh Liên, Kệ Chơn l. Nguyên văn bài kệ “Thái tử xin ăn giữa đế đô / Làm cho xu hcdòng vua / Thưa ngài, dòng Pht từ bao kiếp/ Tăng sĩ trì nh giữ hnh xưa”.
    2. Chơn lý, tp III, Pht tánh, tr.22.
    3. Sđd, tr. 23.
 


nh và cũng khng định các kinh trong 9 thloi văn hc Pht giáo Thượng Ta Bộ ca đcp đến khái niệm Pht tánh: Tt cchúng sanh đều cPht tánh, ca nghe nói trong cn bkinh13.

Trong Chơn l, Tổ sư nói: Tht vy, từ xưa cho đến nay, những kTăng sư chơn đo, hchmãi lo tu, mà nào cdám nói là thy nh, là ccái đc, cái Pht, cái tánh gì đâu; khi xưa chư Bồ-tát lớn, còn không dám suy tưởng đến quPht, chư Thinh Văn, Duyên Gc, li cũng chng trông mong, huống chi chúng ta đời nay quá xa lạc14.

Ngài nhn mnh:Thuở xưa các vy, chbiết ccái giới định hu gii thoát, kht sĩ là đri, thế mà tt đp hơn chúng ta lm... Du Đức Pht cban ân khuyến dđi nữa chngười tu là bao giờ cũng phi thy li nơi mình, thy cái Pht tánh ca mình, xem li mình cgiống y nPht chăng, ri sẽ hay, chđi với những ông già kcàng thn trọng, dày công tu tập lâu đời, mà hãy còn sợ st lm, không ai dám vi mmt ra, bôn chôn láu táu c15.

Đức Tổ sư cnh tỉnh cho những người không thu hiểu đạo lý Pht tánh, cứ nghĩ rằng mình đã có chng tử Pht, có Pht tánh, có chơn tâm thanh tịnh, không cn tu cũng có thể thành Pht, nên cứ buông lung gii đãi cho qua ngày đon tháng theo tâm niệm vọng tưởng sai lm, ham thích tranh lun có không, rồi cui cng rơi vào tà kiến sai lm. Thế mới biết rằng: Tiếng Pht cũng clợi và cũng chi. Lợi cho kchơn tu hiền trí, mà hi cho kẻ sái quy vọng ma16.
  1. Tư tưởng Pht tánh theo tinh thn Pht giáo Đi thừa

Sau khi Đức Pht nhp Niết-bàn, Tăng đoàn đã mt đi chỗ nương tựa vững chắc, nht là các vị Thánh đệ tử lớn ln lượt nhp Niết-bàn, Tăng chúng không còn niềm kính ngưỡng như xưa. Từ đó trong văn hc Pht giáo mới xut hiện cách nói pháp thân bt diệt của Đức Pht: “Đức Pht xut thế tui thrt ngn, tuy sc thân không còn,

13. 《大 涅 槃 經》:一 切 眾 生 有 佛 性 者。九 部 經 中 所 未 曾 聞。(T.12, P.405 a)
  1. Sđd, tr. 14-15.
  2. Sđd, tr. 15.
  3. Sđd, tp III, Thphượng, tr.247.
 


nng pháp thân vn còn tn ti17.

Khái niệm sắc thâncũng đng nghĩa với sanh thâncủa Pht. Tám tướng thành đạo tức là sanh thân của Đức Pht. Sau khi Đức Pht nhp diệt, sanh thân không còn nữa, nhưng không thnói không có Pht. Chân lý mà Đức Pht chứng đắc, nn giáo mà Đức Pht nói ra tức là Pháp” vn còn tn ti. Pháp” còn tn ti, vì thế, nói Pht ly pháp làm thân, gọi đó là pháp thân. Đi thừa có cách nhìn tiến triển hơn. Trong Đi thừa, thân Pht phân chia làm pháp thân và biến hóa thân. Pháp thân thì thực ti, ứng hóa thân là phương tiện ứng hóa18.

Theo n Thun đi , tshoài niệm vĐức Pht, mới xut hiện kinh điển Đi thừa hu knói vtt cchúng sanh đều có Như Lai tng, n, ttánh thanh tnh. Như vy, Chánh pháp tduyên khởi lunmà phát triển thành pháp tánh lun, pháp pháp bình đẳng vô ngi, li từ pháp tánh lun mà diễn biến thành Pht tánh (Như Lai tng)19.

Ti n Đ, sng khởi của Như Lai tng khong thế kthIII, thừa kế tinh thn của Pht giáo Nguyên thuvà cũng kế thừa tư tưởng Pht giáo Đi thừa thời kđu mà phát huy và thịnh hành, phát triển o khong thế kthIV, thV, các kinh điển triển khai vvn đNLai tng, Pht tánh cũng ln lượt xut hiện rt nhiều và cũng là ni dung trọng yếu của Pht giáo Đi thừa. Đi thừa Pht giáo cho rằng Pht có rt nhiều, không chĐức Pht Thích-ca Mâu-ni thành Pht mà tt cchúng sanh đều có Pht tánh, đều có th thành Pht.

Kinh điển Đi thừa chú trọng triển khai tư tưởng Pht tánh sdng rt nhiều tên đdiễn tchân tâm, Pht tánh, như Kim Cang Bát-nhã dng danh tTrí tuBát-nhã, Chân không diệu hữu, Tht tướng Bát-nhã, Bát-nhã chân không; Kinh Hoa Nghiêm dng danh tPháp giới; Đi thừa khi tín lun dng danh tChơn như tâm, Như Lai tng, Bn giác; Kinh Viên giác dng danh tVn giác diệu tâm, Bn tâm thanh tnh, Như Lai tng; Kinh Pháp Hoa dng
  1.  
  1. Pháp thân bất diệt” xuất hiện trong bài tựa của Tăng Nhất A Hàm《增 壹阿含經序品: 釋 師 出 世 壽 極短,肉 體 雖 逝 法 身 在。(T.2, P.549c)
  2. Theo Lữ Trừng, Khái lun tư tưởng Pht học Trung Quc.
  3. Đi sư n Thun, n ĐPht giáo tư tưởng sử.
 


danh tTri kiến Pht, Pht tánh; Kinh ThLăng Nghiêm dng danh tChơn tâm, ThLăng Nghiêm tam-mui; Kinh Đi Bát Niết-bàn dng tPháp thân thường trú, Pht tánh; Kinh Thng Man dng tNhư Lai tng, Như Lai tng ttánh thanh tnh tâm; Kinh Lăng Già cũng dng danh tNhư Lai tng; Thin Tông dng tÔng ch, Bn lai diện mc, Tánhđchbmt tht muôn đời của nh. Tên tuy kc nng ý nghĩa ging nhau. Như Kinh Niết-bàn, Pht nói: Pht tánh cnhiu tên, cũng gi là Pháp tánh, Niết-bàn, Bát-nhã, Nht thừa, ThLăng Nghiêm Tam mui, Sư thng tam mui20 Tt cnhững danh tkhái niệm trên đây đều dng đchcho cái thtánh bt sinh bt diệt, thường hng, thường trú của mi chúng sanh và nhn mnh đến vic tu tp khai mtrí hu, đhiển lchân tâm Pht tánh là tư tưởng trọng yếu của các bkinh này.

Căn cứ theo Kinh Niết-bàn quyển 7 (bn Bắc)21 thì: “Tt cchúng sinh đều cPht tánh, nng phàm phu do vì phiền não che đy nên không hiển bày ra được. Nếu đon trừ được hết phiền não thì sẽ hiển bày ra Pht tánh22.

Đức Pht khi mới thành đạo dưới ci cây Bồ-đề đã tht lên: Lạ thay! Lạ thay! Tt cchúng sanh đều cbn tâm thanh tnh thường nhiên, trí tuệ đức tướng ca Như Lai, chvì ngu si mê hoặc, vọng tưởng chp trước, nên không hay không biết mà btrôi lăn trong vòng luân hi sanh t23.

Tự tánh thanh tịnh vốn đy đủ hết thy trí tu, phước đức nhưng do những niệm vô minh vọng tưởng nên chưa bày tỏ ra. Mi người


20.《大乘玄論》:涅槃經自說佛性有種種名。於一佛性亦名法性涅 槃。亦名般若一乘。亦名首楞嚴三昧師子吼三昧(T.45, P.41c)
21. Kinh Đi Bát Niết Bàn, 40 quyển, do ngài Đàm-vô-sm (385-433) dịch vào thời Bắc Lương (397-439) được gọi là Kinh Niết Bàn bn Bắc. Kinh Pht Thuyết Đi Bát Nê Hoàn, 6 quyển, do ngài Pháp Hiển (337/340?-422?) dịch vào thời Đông Tn (317-420) được gọi là Kinh Niết Bàn bn Nam.
22.《大般涅槃經》:一切眾生悉有佛性。煩惱覆故不知不見。是故
應當勤修方便斷壞煩惱。(T.12,   P.405a)
23.《大方廣佛華嚴經》:奇哉!奇哉!此諸眾生云何具有如來智
慧,愚癡迷惑,不知不見?我當教以聖道,令其永離妄想執著,自於身中
得見如來廣大智慧與佛無異。(T.10,    P.272c)
 


chúng ta phi buông bỏ tt cả các vọng tưởng vô minh, xoay li tánh giác của chính mình liền thy Đức Như Lai. Thy Như Lai tức là nhn được tánh giác ở nơi mình, hng sng với tánh giác đó, đây là chgiác ngộ cứu cánh.

Vphn này, Tổ sư đã gii thích rt tường tn, Ngài nói: Khi xưa, dưới gc cây Bồ-đchánh gc, Đức Pht nói lHoa Nghiêm, làm cho bậc Trời người nngác, chng hiểu chi cả. Kinh Hoa Nghiêm là chơn lý ca Pht gc ng, là ltht rt thường, thế mà khi đem cái thường tht y nói ra thì không ai hiểu. y bởi chúng sanh quá say đm, lạc lm, chp ly cái thy nghe nơi ti li làm quen tâm trí, cho đlà tht ca nh, là chánh phi trúng hay thì nào cnghe được lời chơn tht ngay thng ca Pht!24.

Kinh Hoa Nghiêm có đon: “Tt cpháp thế gian đều do vọng tưởng sanh, là pháp vọng tưởng, tánh đchưa từng có. Tướng chân tht nthị, chcPht mới hay cứu cánh, nếu cthbiết được nvy thì thy được bậc Đo sư25.

Cng tư tưởng trên, Đức Tổ sư nói: Thân hành và khu thức, cũng gi là trí phàm. Tâm vọng nói đây là cái tim sống hay là ngòi sống phát sanh từ nơi tứ đi, trước nhứt là ccây thú. Tâm vọng sanh trí phàm là sự khổ sở điên đảo, do đmới cpháp thánh chơn, đnuôi tánh gc là Pht26.

Sau 49 năm hong pháp đsanh, Đức Pht chvi mt mc đích khai thcho chúng sanh ngnhp Pht tri kiếncnh là quay trvvi chơn tâm Pht tánh thường hng, bt sanh bt diệt vốn có của nh. Do đã gc nggii thoát, đã nhn chân được chơn tâm Pht tánh của nh nên Đức Pht thường an trtrong bn ththanh tnh sáng sut, còn chúng sanh vì bvô minh phiền não che lp nên vn còn xoay vn trong vòng luân hi sanh t triền miên, ca ththành Pht được.



24. Chơn l, tp I, “ Học chơn lý, tr.467. 25.《大方廣佛華嚴經》:一切諸世間,皆從妄想生,是諸妄想法,
其性未曾有。如是真實相,唯佛能究竟,若能如是知,是則見導師。(T.9,
P.424b)
26. Chơn lý, tp I, Sanh và Tử”, tr.147.
 


Trong nhiều kinh điển Đi thừa, Đức Pht đã nói: Tt cchúng sanh đều cPht tánh, tt cchúng sanh đều cththành Pht, “Tt cchúng sanh vn đã thành Pht, tt cchúng sanh vn là Pht27, mà bn tánh của tâm tức là Pht tánh vốn có đy đủ của mi người. Bn tánh của tâm là cái tâm tánh bt sanh bt diệt. Bn thcủa tâm tánh lìa các vọng niệm, rộng khp tt cả, rộng lớn như hư không, cũng gọi là Pháp thân bình đẳngcủa Như Lai. Pháp thân này tt cả chúng sanh sn có, nên gọi là tánh Pht sn có.

Vì thế, chúng ta phi quay vvi chơn tâm bn tánh tsnlực tu hành của tnh, bng cách chuyn mê thành ng, chuyn ác thành hiền, chuyn phiền o thành Bồ-đ, chuyn sanh t thành Niết-bàn.

Trong Kinh Hoa Nghiêm: “Tâm, Pht, chúng sanh đều không sai khác28. Ai cũng có thể thành Pht, bởi vì đy đủ chân tâm Pht tánh, đều có chng tánh thành Pht. Nhưng do vì sự vọng tưởng chp trước nng nhcủa chúng sanh mà có tri, người, a-tu-la, địa ngục, ngạ qu, súc sanh. Trong Chơn lquyển 51, Đức Tổ sư có dn chứng trong Kinh Pháp Hoa để nói vPht tánh là chng tử, ht ging vốn có của mi người, do chng tử này mà mi người đều có thể thành Pht, chỉ khác ở chmau hay chm:

Kmà nghe đến mt tiếng Pht cũng là cht giống Pht trong tâm, mai sau cũng sthành Pht đng. Kìa như Đề-bà-đt-đa, khi Pht, bsa đa ngục, chlâu sau cũng sthành Pht, là do nhcsn ht giống29.


Như Kinh Lăng Nghiêm có đon: Tt cchúng sanh từ vô thy đến nay, sanh tử ni tiếp, đều do không biết chân tâm thường trụ, thtánh thanh tnh sáng sut, li dùng c vọng tưởng, c vọng tưởng này

27. 《華嚴一乘成佛妙義》:一切眾生本來成佛。(T.45,     P.791a)
《法華義疏》:一切眾生本來是佛(T.34, P.616c)。《大般涅槃經》:
一切眾生悉有佛性(T.12, P.402b)
28 .《大方廣佛華嚴經》:心佛及眾生,是三無差別。T.9,
P.465c)《般若波羅蜜多心經幽贊》心佛及眾生,此三無差別。T.33,
P.526a).
29. Chơn l, tp III, Thphượng, 2009, tr.247. Nguyên văn妙法蓮華
經提婆達多品》:若人散亂心,入於塔廟中,一稱南無佛,皆已成
佛道。(T.9, P.7c).
 


không phi chân tht, nên cluân chuyn30.

Như thế tức là Đức Pht dy bo chúng ta nên hãy nhn ra cái chơn như võ trđo đức không vọng động, không không vng lng, tự nhiên chơn tht, làm tâm, làm trung tâm, trct, chđến. Kìa như cái biết ca ta ncũng vn là tnhiên không vọng động, và tnơi tnhiên không vọng động, csn tlâu, thi nào, chnào phi mi chiện ti đây. Vì nếu không ctrước kia, thì bây giđâu có. Sở dĩ trước kia nca xut lra, ca tp thành tướng, là chính nđang ở n trong c pháp chúng sanh vn vt đthôi, nên gi là cái sống biết linh, csn nơi chúng sanh vn vt c pháp, vn là tnhiên ở trong võ tr. Thế nghĩa là cái biết ca chúng sanh đã có, đang có, scó, chchng phi không. Nlà cái csanh ra, csn, ở trong võ trhư vô chơn như đo đức. Và cũng là chơn như đo đức võ trhư vô, đang csn ở trong mi cái31.

Trong Kinh Kim Cang, Đức Pht đã nhiều ln nhắc nhTu-bồ- đề là quả vị Vô thượng Bồ-đề không phi dành riêng cho mt mình Đức Như Lai, vì tt cả chúng sanh ai cũng có đy đủ Ttuệ Bát-nhã, đy đủ Như Lai tng, sớm mun gì mình cũng thành tựu đạo quả vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Đức Tsư nói: Trong cái chơn không mực trung không vọng, thì đâu cchi là cái chay không cái sc thân, thcm, tư tưởng, hành vi, thức trí ca nun; tâm đã là đnh chơn n, thì trong đđâu cchp biết gì: sanh, già, bnh, chết, sáu căn, sáu trn, sáu thức, kh, tp, dit, đo; như vy thì đâu còn cpháp gì là vô minh! Đâu ccái trí, cái đc mà mong mun Niết-bàn32.


Pht giáo phát xut từ n Đ, sau khi truyền vào Trung Quc, các kinh lun về Như Lai tng cũng được phiên dịch rt nhiều. Tuy nhiên, ti n Đ, tư tưởng Pht tánh trong thời kPht giáo Đi thừa li không được xiển dương mnh mẽ và thịnh hành như ở Trung

30.《大佛頂如來密因修證了義諸菩薩萬行首楞嚴經》:一切 眾生, 從無始來生死相續,皆由不知常住真心,性淨明體,用諸妄想,此想不 真,故有輪轉。(T.19, P.106c)
  1. Chơn lý, tp III,Chơn như, tr.335-336.
  2. Sđd, tr.332.
 


Quc. Tư tưởng Pht tánh đã được các bậc cao Tăng triển khai sâu rộng ti Trung Quc, xoay quanh các vn đề bn tánh của Pht là gì? Chúng sanh có thể thành Pht hay không? Từ đời Đông Tn, sau khi ngài Đạo Sanh mnh dn khởi xướng tt cả chúng sanh đều có Pht tánh, Nht-xiển-đề cũng có thể thành Pht và Kinh Niết-bàn (bn Bắc) được truyền dịch, tư tưởng Pht tánh đã được nhiều người quan tâm và thnh hành cho đến ngày hôm nay, nht là trong tư tưởng Thiền tông, tức tâm tức Pht, trực chnhân tâm kiến tánh thành Pht.

4. Tư tưởng Pht tánh theo Thin tông


Tông chỉ của Thiền tông là trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Pht” (chỉ thng tâm người, thy tánh thành Pht). Tự tánh vốn thanh tịnh sánh sut, đy đủ trí huệ phước đức, mt khi phiền não, vô minh, vọng tưởng, chp trước không còn thì bn lai chính là Pht. Tt cả những phiền não chp trước, thị phi, thiện ác, xu tt, đều do tâm phân biệt vọng tưởng, vì thế người xưa nói: buông bỏ dao đồ tể lp tức thành Pht. Dao đồ tbiểu trưng cho những phiền não vọng tưởng phân biệt chp trước đó, mt khi buông bỏ thì chính là Pht. Trong Kinh Lăng Nghiêm: Tt cchúng sanh từ vô thđến nay, mê nh là vt, bmt bn tâm, bvt xoay chuyển, cho nên trong đthy lớn thy nh. Nếu chuyển được vt, đồng với Như Lai33. Chính ở trong cái tâm không, không schp, trong y mi thy rõ cái bn tánh, là cái ta chơn tht34.

Trên núi Linh Thứu, Đức Pht đã đưa cành hoa sen lên để khai thị đi chúng, trong Pháp hi chỉ có Ngài Ca-diếp mỉm cười, đã để li giai thoi niêm hoa vi tiếu” được ghi chép trong nhiều kinh điển của Thiền tông. Lúc đó Đức Pht dy: Ta có Chánh pháp nhãn tng, Niết-bàn diệu tâm, thực tướng vô tướng, vi diệu pháp môn, bt lập văn tự, go ngoi bit truyền, nay giao cho Ca-diếp35. Và sau đó từ


33.大佛頂如來密因修證了義諸菩薩萬行首楞嚴經》: 一切眾生。 從無始來。迷己為物。失於本心。為物所轉。故於是中。觀大觀小。若能 轉物。則同如來。(T.19, P.111c)
34. Chơn lý, tp III, Khổ và Vui, tr.445.
35 .《禪宗無門關》:世尊昔在靈山會上。拈花示眾。是時眾皆默 然。惟迦葉尊者破顏微笑。世尊云。吾有正法眼藏涅槃妙心實相無相微妙
 


Ngài Ca-diếp truyền cho A-nan, và cho đến Tổ sư Bồ-đề-đt-ma khi đem pháp môn thiền truyền vào Trung Quc đã từ tông chỉ này nêu rõ chủ đích của Thiền tông. Mi cách tiếp hóa đệ tử của Tổ sư Thiền tông dù là gy đánh, tiếng hét, hay im lng cũng đều để dứt hn sự suy ngvọng tưởng, đều nhm chỉ thng bn tâm chúng ta, thy tánh liền thành Pht.

Đức Tổ sư cũng nhn mnh đến vn đề xem trọng bn tâm: Đức Pht dy chúng sanh phi biết ở trong bn tâm yên lng ca nh, chớ đừng ở đâu hết vì chnào cũng không bền. Và chccái chơn như, mới là gii thoát tt cluân hi sanh tử mà thôi36.

Đức Pht đã từng nói rằng: “Kinh điển ta nói ra nngón tay chmt tng, “Nchiếc bè qua sông, chánh pháp còn bhuống hlà phi pháphoặc sut từ khi thành đo đến lúc nhp Niết-bàn, ta không nói lời o37, nhưng mt khác Đức Pht li sử dng đủ thứ nn từ, đủ thứ phương tiện để chỉ cho chúng ta cái thể tánh bt sanh bt diệt đó. Trong nhiều bkinh, Đức Pht dng đủ pháp môn khác nhau nhm mun chỉ cho chúng ta cái mà chúng ta phi xa lìa nn ngữ, tư duy hình tướng mới trực nhn, mới thể nhp được. Tt cả những thứ đó như nn tay chỉ trăng giúp chúng ta nương vào đó nhìn thy ánh trăng bn th, ánh trăng chân lý, như thuyền bè qua sông đưa chúng ta đến bbên kia.


Trong Chơn l, Đức Tổ sư cũng đã nhn mnh tm quan trọng của sự siêu vượt nn ngữ, kiến tánh thành Pht: Go lý y bát không còn có nương theo văn tự, lời nói việc làm38... Vy nên ai cũng mun thy nó, thy bng ch nccho nh, nó ở với nh, nh đt được.

法門。不立文字教外別傳。付囑摩訶迦葉。(T.48, P.293c)
36. Chơn lý, tp II, Tam go, tr.78. 37.《大佛頂如來密因修證了義諸菩薩萬行首楞嚴經講錄》:要知我
說法者。如指月之人。汝聽法者。如看月之人。(T.15, P.24c)《大乘 入楞伽經》:如愚見指月,觀指不觀月;計著文字者,不見我真實T8, P.510c);《金刚经》:汝等比丘,知我說法,如筏喻者,法尚應捨,何 況非法。(T8,  P.749b)  《摩訶般若波羅蜜經》:我不說一字亦無聽者
(T.8, P.275b)。《入楞伽經》:何等夜證法,何等夜入滅,於此二中 間,我不說一字(T.16, P.576a)
  1. Sđd, tp I, Y bát chơn truyền, tr. 304.
 


Nthế là thy tánh thành Pht! Mà thy tánh là thy cái chơn như, không vọng động, thy cái gii thoát các pháp, các sở chp, do sự gc ngộ trí hulà Pht ca mình; chchng phi thy bng nói, nghe, chữ viết, suy gm, tưởng tượng39.

Mt khác, Ngài cũng không hoàn toàn loi bỏ văn tự nn ngữ, có lúc Ngài dy: Người hc đo cũng vy, họ nương văn tự, nh thức mt lúc đu, ri là hđi sâu vào trong huyền bí thâm u khó gp40. Trước dùng văn tự mtrí, đđi sâu vào chơn lnhiệm mu, hãy cht chứa gia tài là Pháp bảo41.

Nếu như Thiền sư Qung Nghiêm nói: “Nam nhi tự hữu xung thiên chí/ Hưu hướng Như Lai hành xứ hành, nam nhi phi tự mình có cng trời thm, chớ đi theo hướng li của Như Lai, thì Đức Tổ sư cũng khuyên chúng ta nên nhìn cho được cái chơn tâm bn tánh của mình, không quá câu nệ vào kinh sách văn tự. Ngài nói: “Còn như sự thờ cúng thì thct tượng đâu bng thkinh sách hc hành, du thkinh sách cũng chng bng thông thy dy đo cho nh hiện ti đang sống. Nng thông thy kia sao bng thbn tâm ca nh trong sch42.

Bn tâm, trong nhà Thiền thường dng danh tÔng chhay Bn lai diện mcđchcái tâm chân tht sn có i mi người chúng ta. Giác ngđược nh có bn tâm, thy được bmt tht muôn đời của nh và hng sng vi thtánh giác đó gọi là Kiến tánh.


Khi Lục THuệ Năng nghe người đc Kinh Kim Cang, đến câu Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” liền đi ng, và sau đó đến Hoàng Mai, sau bao tháng ngày thử thách giã gạo trong nhà bếp, cui cùng được NTHong Nhn truyền tâm n, đã nhn ra được chân tâm bn tánh của mình, nên đã tht lên: Đâu ngờ tự tánh vn tự thanh tnh, đâu ngờ tự tánh vn không sinh diệt, đâu ngờ tự tánh vn tự đy đủ, đâu ngờ tự tánh vn không dao động, đâu ngờ tự tánh hay sanh
  1. Sđd, tp III, Pht tánh, tr.9.
40. Sđd, tp II, Thn mt, tr.137.
  1. Sđd, Cư sĩ
  2. Sđd, Chánh kiến.
 


muôn pháp43.

Khi đã biết tự tánh của mình vốn thanh tịnh, vốn không sanh diệt, vốn không dao đng, hay sanh muôn pháp thì liền ngay lúc đó đng với Như Lai.

Đức Tổ sư nói: HuNăng nghĩa là năng trau gii trí huệ, trí hucra do nhthiền đnh; trong sự vng lng thiền đnh, là chctrí huệ, chđâu còn văn tự, hoặc cái chi trong y, mà không phi là dt, với cái khoe hc, mới hc44.

Đức Điều Ngự Giác Hoàng Trn Nhân Tông cũng giác ngộ được cái tâm chân tht này, trong bài phú Cư trn lạc đạo” đã viết:

Cư trn lạc đạo thtuduyên Cơ tắc xan hkhn tắc miên
Gia trung hữu bảo hưu tm mịch Ði cnh vô tâm mạc vn thiền. Nghĩa là :
đời vui đo hãy tùy duyên, Ðói đến thì ăn mt ngliền, Trong nhà cbáu thôi tìm kiếm,
Ði cnh không tâm chhi thiền45.


Đã nói lên tư tưởng Pht tánh trong nhà thiền, trong Pht go, đó là của báu ở trong nhà của chính mình, có gì đâu mà đi tìm kiếm. Pht tánh, Chơn như, Niết-bàn không phi do tu mới có, hay nhờ các duyên bên ngoài luyện tp mới thành, nó có sn trong mi chúng sanh từ vô thy đến nay, dù ở địa vị phàm phu cũng không gim, hay

43 .《 六 大 師 法 寶 壇 》 : 何 期 性 本 自 清 淨 。 期 自 性 本 不 生滅。何期自性本自具足。何期自性本無動搖。何期自性能生萬法。
(T.48, P.349a)
44. Chơn l, Học để tu.
45. Nguyên tác: 居塵樂道且隨緣, 饑則飧兮困則眠, 家中有宝休寻覓, 对鏡無心莫問禪:
 


chứng quả Thánh cũng không thêm.

5. Pháp môn tu hc


Mi bộ kinh, mi pháp môn, mi bphái đều có phương pháp tu hc riêng để hướng dn chúng sanh từ bến mê quay vbgiác, từ hóa thành” trvề “bảo s, quay trvvới tánh giác thanh tịnh của mình. Trong Chơn l, Đức Tổ sư đã nhn mnh rt nhiều pháp môn tu hc để quay trvvới bn tánh thanh tịnh của mình. Ngài nói: Vy thì sthành Pht là do nơi pháp nguyn, nguyn ca pháp gii thoát xut gia Kht sĩ, ai hành đúng thì chắc sẽ thành Pht. Pht là giác chơn, chơn như là do trí huệ, chánh giác là do Pháp Tạng đi nguyện; pháp nguyn là tbi, tinh tn, gii thoát, thin định, trí hu, thì chơn như t sẽ tnhiên xut hin tln mà đc đo đặng46.

Qua câu nói ở trên, chúng ta thy Đức Tsư đã đưa ra các pháp môn pháp nguyện, tbi, tinh tn, gii thoát, thiền định, trí hu, mun đắc đạo, mun đt đến chơn n, phi thực hành, tu tp các điều này. Trong đó, Ngài nhn mnh đến pháp nguyện, nguyn của pháp gii thoát xut gia Kht sĩ, ai hành đúng thì chắc sẽ thành Pht.

Mt đon khác, Đức Tsư dy: Nhbthí mà đến được stgii xut gia Kht sĩ gii thoát chứng quvô sanh, bc hin thánh. Nhnhn nhc mà đến được snhập định yên lng, cthn thông qulinh, chứng quDun Giác như tiên. Nhtinh tn mà đến được thu, sut thông đo lý, giáo hóa chúng sanh làm chư Bồ-tát, thi hành Pht sự, theo đường vô lu đến quchơn n, Niết-bàn u trí47.


đây Đức Tsư dy chúng ta phi tu tp từ Thanh Văn đến Duyên Gc ri tu lc đvn hnh của Bồ-tát và làm các việc Pht sự đđt đến quả chơn n. Và phương pháp tu tp, pháp môn hành trì trong Chơn lcòn rt nhiều, trong bài này, không thể triển khai hết tt cả các pháp môn mà Đức Tsư đã đcp, xin giới hn trong pháp môn tu học Giới Định Huệ theo tinh thn Kht sĩ gii thoát: Kht sĩ cđba báu: Giới, đnh, hu”; Go lý y bát không còn có nương theo
  1. Chơn lý, tp III, Vô Lượng Cam L, tr. 95 - 96.
  2. Sđd, tp I, Kht sĩ, tr. 263.
 


văn tự, lời nói việc làm, người Kht sĩ chcba pháp tu hc vn tt là: Giới, Đnh, Huệ... Giới lut là y bát là Kht sĩ. Kht sĩ là đnh huệ. Nếu Kht sĩ không ctu vđnh hudu mà ctrì giới không đi nữa, cũng chưa gi được trn là Kht sĩ, vì chữ sĩ đây là sự hc đo lvới qulinh, bng pháp tu đnh hu48.

Kht sĩ là tên riêng của Tỳ-kheo, tiếng Phn là Tỳ-kheo, tiếng Hán dịch là Kht sĩ. Đi trí đlun định nghĩa: Thế nào gi là Tỳ- kheo? Tỳ-kheo là Kht sĩ. Pháp Hoa nghĩa sớ có viết: Tỳ-kheo gi là Kht sĩ, trên xin pháp ca Như Lai đnuôi tâm, dưới xin phm thực ca người thế đnuôi thân, nên gi là Kht sĩ49. Kht sĩ cũng là mt trong 3 nghĩa của Tỳ-kheo. Hai nghĩa còn li: phá ác” là tiêu trừ tt cả các phiền não tham sân si trong tâm bng tam hc Giới Định Huệ; bố ma, người xut gia vượt ra khi ng khng chế của thiên ma 6 cõi dục, vượt qua 3 cõi, làm thiên ma kinh sợ.

Về ý nghĩa Kht sĩ, Đức Tổ sư đã dy: Ta là tt cả, tt clà ta, ta sống cho tt cả, tt cả sống cho ta, tiếng ta đây là tt cả, đó tức là chơn lvõ trụ. Ktht hành đúng chơn lý gi là Kht sĩ. KHT y là xin, SĨ đây là học. Xin y ri li cho. Hc đây ri li dy. XIN phm thực, đnuôi thân gitm, CHO sự thiện lành phước đức, đbảo giữ sự sống dài lâu. HC bng cách lượm lt phương pháp khp nơi, rút nhiều kinh nghiệm. DY là đem kết qutht hành đặc điểm, chli cho người. Cái xin, cái học, cái dy, cái cho, hai pháp nương sanh, m ra mt con đường xán ln cho tt ckvề sau tiến bước. Con đường y kêu là đạo. Đo ca sống là xin nhau sống chung, đạo ca biết là học chung, đạo ca linh là tu chung50.


Li nói: Người cgiới định humới được chơn như, chơn nlà ht giống sau chót ca các pháp, là pháp tn ti vĩnh viễn, kêu là ta, chơn ngã tức là tánh chơn, không vọng, tự nhiên không dời đi, mới gi là trung tâm điểm, ct yếu mc đích ca chúng ta, nên gi pháp chơn

 
  1. Sđd, tp I, Y Bát chơn truyn, tr.304 - 305. 49.《大智度論》:云何名比丘?比丘名乞士。(T.25,   P.79b)                                     ;《
法華義疏》:比丘者名為乞士,上從如來乞法以練神,下就俗人乞食以資 身,故名乞士。(T.34, P.457b)
50. Chơn lý, tp III, Hòa bình, tr.350.
 


tâm y là đạo ca chúng ta, đạo ca người gc ngộ hay đạo Pht51.

Giới Định Huệ là pháp tu quan trng trong Pht giáo, xuyên sut trong tt cả kinh điển Nguyên thy, Đi thừa, tùy theo kiến gii mà các vị T, các nhà nghiên cứu, nng căn bn đều gii tch theo tinh thn tam vô lu hc, nhân giới sanh định, nhân định phát hu. Do giữ giới thanh tnh mà thân tâm được định tĩnh, tđó phát sanh trí tu.

Đức Tổ sư nói: “Chúng ta ai ai cũng cththt hành gc ngộ được hết, mà điều cn nhứt là phi gii thoát; vì chcgiới định huệ cụ túc, mới nuôi chơn như cụ túc y đng52.

Qua các phân tích ở trên, chúng ta thy Đức Tsư rt xem trng pháp tu Gii Đnh Hu. Ngài dy chúng ta đi theo con đường Kht sĩ và nương vào Giới Định Huệ để viên thành bn tánh thanh tịnh sáng sut của mình. Có giác ngchơn chánh, Pht tánh, bn tâm thanh tịnh tn sáng mới tỏ lộ ra, còn không thì chỉ là những kchăn bò chỉ đếm bò cho người.

6. Kết lun


Đức Tổ sư khi tm đạo và sau khi chứng đạo đã đi nhiều nơi, tìm các vị cao Tăng để tham hc nghiên cứu vchơn lý, 3 năm ti xứ Chùa Tháp Campuchia tìm hiểu về tinh hoa của Pht giáo Nguyên thy, sau đó thăm viếng, tham vn các vị Thiền sư Minh Trực ở Pht Bửu tự, Đi sư Huệ Nht phái Thiền Lâm, Ngài Thiện Tường (Chùa Vn Thọ - Tân Định), Hòa thượng Thiên Thai (Bà Rịa - Vũng u) từ đó khéo dung hợp tinh hoa tư tưởng giáo lý của 2 truyền thng Pht giáo Bắc truyền và Pht giáo Nam truyền.

Tnhững pn ch trong bài, chúng ta có ththy tư tưởng Pht tánh ca Đức Tsư là mt mt vừa cht lc tinh yếu ca Pht giáo Nguyên thy, vừa kế thừa tư tưởng Pht tánh trong các kinh điển Pht giáo Đi thừa, mt khác phát huy tinh thần trực chnn tâm kiến tánh tnh Pht ca Thiền tông, cùng vi sự
  1. Sđd, tp I, Tâm, tr.410.
  2. Sđd, tp III, Pht tánh, tr.14.



chứng ngttn, đt trên nn tng căn bn ca pháp tu Giới Định Tutruyn thống ca đạo Pht, tđó nh tnh tư tưởng Pht tánh ca nh.

Đức Tổ sư với cnguyền Ni truyền Thích-ca Chánh pháp, noi gương Y bát của Pht Tăng xưa, khai sáng “Đạo Pht Kht Sĩ Việt Nam” để đem đạo mu ban ri khp muôn nơi, giúp cho mi người trong xã hi được giác nggiáo lý của đạo Pht, từ đó độ sanh chúng đang chìm đm trong bkhổ đưa đến bgiác an vui, quay trở li với bn th Pht tánh thanh tịnh của mình. Công đức Ngài tht vô lượng vô biên, chúng con hết dạ thành tâm phng thờ.


 

***


TÀI LIỆU THAM KHO
 
  • Tổ sư Minh Đăng Quang, Chơn l, Nxb. Tôn go, 2004.
 
  • Đi tng kinh Hán văn (bn điện tử).
 
  • Đi sư n Thun, Nghiên cứu Như Lai tạng (bn điện tử Hán văn).
 
  • Đi sư n Thun, n ĐPht go tư tưởng sử (bn điện tử Hán văn).
 
  • HKim Hoa, Duyên khởi – Pht tánh – Thành Pht, Nxb. Tôn giáo Văn hóa, 2003 (bn Hán).
 
  • Lữ Trừng, Khái lun tư tưởng Pht hc Trung Quc, Nxb. Thiên Hoa, 1999 (bn Hán).
 
  • Quách Bng, Trung Quc Pht go tư tưởng sử, Nxb. Phúc Kiến, 1994 (bn Hán).
  •  

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây