31. MỘT SỐ ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG GIỮA TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO NGUYÊN THUỶ VÀ CHƠN LÝ CỦA TỔ SƯ MINH ĐĂNG QUANG

Chủ nhật - 09/09/2018 11:06
MỘT SỐ ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG GIỮA TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO NGUYÊN THUỶ VÀ CHƠN LÝ CỦA TỔ SƯ MINH ĐĂNG QUANG
NT. Mai Liên Giáo phẩm Ni giới thuộc Ni giới Giáo đoàn IV Trụ trì Tịnh xá Ngọc Lâm – Long Hải
Tổ sư sinh ra giữa cõi đời ly lon, Pht giáo đang trong tình trạng suy vi cng cực. Chỉ trong ng 10 năm tu tp và hong dương Pht pháp, Ngài đã để li bChơn ltng cng 69 bài gồm những tinh hoa trí tuệ do Ngài đã tích lũy, suy gm và tu hc, tự thân thnghiệm, diễn bày được diệu nghĩa chân thường, lý sự viên dung, hnh gii tương ưng, tht là vi diệu, uyên thâm bt khả tư nghì. Do đó, bChơn lbao hàm những tư tưởng Pht hc siêu xut có lợi ích cho Tăng Ni và Pht tử H phái ly đó làm kim chỉ nam tu hc.

Bài viết này nêu lên mt sgiáo lý căn bn trong bChơn lso sánh đi chiếu với những lời dy của Đức Pht Thích-ca trong kinh tng, ngõ hu làm sáng tỏ tư tưởng Pht giáo Nguyên thy trong bChơn lcủa Đức Tổ sư.
  1. Võ trquan
 
    • Phật giáo Ngun thy: Hết thy vn pháp trên thế gian đều hiện hữu trong vũ tr, trong đó con người là mt tiểu vũ tr. Cách đây trên 2.500 năm, Đức Pht đã nhn thy trong bát nước có vô svi trùng như trong kTỳ-ni chúng ta thường đc mi khi ung nước:

Pht xem mt bát nước, Tám muôn bn ngàn trùng,
 


Nếu không niệm chú này, N ăn thịt chúng sanh.
Thế mà khoa hc ngày nay phi dng kính hiển vi mới thy được. Cũng như Đức Pht đã thy sự hình thành và phát triển thai nhi khi Pht thuyết kinh Đi Bửu Tích ch đây trên 25 thế k, trong khi đó khoa hc ngày nay mới có những khám phá trng hp.

- Trong Chơn lVõ trquan, Tổ sư đã dn gii rành mch cho thy con người cũng là mt vũ trụ nho nh, tri qua sự sanh diệt tiến hóa từ từ và Tổ đã xác định các nguyên tắc cu thành vũ trụ tri qua 4 giai đon: thành - trụ - hoi - không hay là sanh - trụ - dị - diệt. Trong sự hình thành và hoi diệt của vũ trụ vn pháp, Tổ đã xác minh tính vô thường chi phi bởi nhân quả. Trong Chơn lý, Tổ viết: Từ vt cht đến tinh thn, từ ác đến thiện, tinh thn không cht, vt cht không hao, sự nlà có, lnlà không. Cho nên ai biết lkhông ri chng còn phi kh, điên, mquáng về sự thay đi lăn xoay nữa(Chơn l trquan, tp 1, tr. 22).

Qua bài Chơn lVõ trquan” ta thy Đức Sư Tphân tách vũ trchi li bng trí tu, siêu thức thực chứng nói về thcủa vũ tr, nhơn duyên và sự hình thành của quả địa cu, sự tiến hóa và sự tan hoi của quả địa cu mt cách rt dễ hiểu. Trong khi đó khoa hc ngày nay đang từng bước khám phá, kiểm chứng. Quan điểm vũ trụ hình thành của Tổ sư Minh Đăng Quang trong bChơn ltuy gii thích theo từng bước tun tự từ “Thể ca vũ trđến nhân duyên ca mi quđa cu, nh thđa cu, ánh sáng ca đa cu… chúng sanh trong vũ trụ… cui cùng là chơn lvũ tr. Trong đó, Tổ đều vn dng thuyết Nhân duyên trong nhà Pht để gii thích.
  1. Nun
 
    • Phật giáo Nguyên thy: Giáo lý ngũ un nhiều ln được đề cp trong tam tng Pāli. Trong bài Kinh Vô ngã tướng, Pht thuyết cho năm vị Tỳ-kheo nhóm ông Kiều-trn-như ti vườn Lc Uyển vgiáo lý ngũ un rt cn kẽ. Bài kinh nhn mnh về tính vô thường, khnão vô ncủa ngũ un. Sau khi nghe Đức Pht ging dy, nhóm ông
 


Kiều-trn-như sanh tâm nhàm chán, đon dứt lục dục, trí tuệ phát sinh, chứng nggii thoát.

Li trong Kinh tng Pāli, Pht dy La-hu-la mun quán vô nphi nhìn sâu vào Ngũ un để thy ngũ un không phi ngã, không phi dngã, cũng không phi tương tn. Vượt qua được 3 kiến chp y rồi mới thực sự chứng nghiệm được Ngũ un đều là không, ý niệm vncũng không còn nương tựa vào đâu để tn ti. Mt khi đã chứng được vô ngã, tt cả phiền não và đau khổ đều tan biến, Niết- bàn an lạc thanh tịnh hiện ra trước mt.
    • Ngũ un trong Chơn lý: Tnói ngũ un hay nm là 5 pháp cái trong thế gian và vũ trụ vn vt. Mi vt trên thế gian này du có hình tướng hay không hình tướng, đều được hình thành bởi ngũ un cả. Năm pháp cái đó là: sắc un, thọ un, tưởng un, hành un và thức un.

Ngũ un là ngun gc phát sinh ra sự kh. Mun hết khổ ta phi chuyển Ngũ un phàm thành Pháp thân thanh tịnh viên mãn, tức là không còn ngũ un gọi là giác chơn, giác chơn tức là lý không, hay nói ngược là không thức trí mới gọi giác chơn. Cho nên T nói:

Mun gc chơn phi dit trừ thức trí. Mun không thức trí phi bhành vi. Mun không hành vi phi đừng tư tưởng. Mun không tư tưởng phi dứt thcm. Mun không thcm phi không sc thân.
(Chơn lNgũ un, tp 1, tr. 37)

Giác chơn là trọn yên vui, không khnão, cnh cao viễn nht của chúng sanh, cũng là bậc không còn trở li.
  1. Thp nhị nhơn dun
 
    • Kinh đin Phật giáo Nguyên thy: Giáo lý Thp nhị nhơn duyên được trình bày rt nhiều trong tam tng kinh điển Nguyên thy.
 


Trong bài kinh Pht thuyết về 12 nhân duyên ở Tịnh xá Jetavana, Tôn giả A-nan nghe xong bch với Pht: “Bch Đức Thế Tôn, go lnày dnghe, dhiểu,…, nhưng Pht đã xác minh cho A-nan rõ: “Go lnày rt thâm sâu khhiu. Vì thế, chúng ta không nên khinh thường dể duôi, hãy thường quán xét để sớm thoát khi ng ti buc của 12 nhân duyên này. Do 12 nhơn duyên mà chúng sanh phi sinh tử luân hi và nhờ sự tn diệt tham ái, ng luân hi mới chm dứt.
    • Chơn lý Thp nhị nhơn dun”: Mười hai nhơn duyên trong bChơn lgồm: Vô minh sanh ra hành, hành sanh ra thức, thức sanh ra danh sc, danh sc sanh ra lc nhp, lc nhp sanh ra xúc, xúc sanh ra th, thọ sanh ra ái, ái sanh ta thủ, thủ sanh ra hữu, hữu sanh ra sanh, sanh sanh ra tử”.

Mười hai chi này chuyền níu với nhau không đu mi. Tcũng nói: Mười hai nhân duyên cũng ví nmt đám rừng có 12 cửa, nmt bánh xe có 12 căm, động mt cây là động tt cả, vào mt cửa là vào trn trong rừng. Trong mt nhân duyên sn chứa mười mt nhơn duyên khác dính nhau ndây xích liên hoàn, chúng sanh vừa chm phi mt mc là đã bqun đeo”.

Sự luân hi xoay đi ln li, nào biết ai lớn nh, ai là trước sau, cứ mãi bám u ly nhau lăn tròn chng mt. Vy nên chúng ta mun hết khluân hi, thì tùy sự xét thy nh ở cửa nào hãy lui ra khi cửa đó, quay đu li là xong, chmãi đi tới lun tuông. Miễn gc ngộ là thy được đường (Chơn lThp nhị nhơn duyên, tp 1, tr. 87).
  1. Bát Chánh đạo
 
    • Phật giáo Nguyên Thy: Trong bài Kinh Tứ Diệu Đế, Pht đề cp đến phn Bát chánh đạo là tám đường chánh để diệt kh, hướng đến tịch tịnh Niết-bàn. Con đường chánh đạo y là gì? Đó là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mng, chánh tinh tn, chánh niệm và chánh định.

Trong Kinh Chuyển Pháp Luân, Pht nói: Như Lai đã từ bhai cực đoan y, theo con đường Trung đo. Này c Tkheo, thế nào là con đường Trung đo đphát triển nhãn quan, tri kiến và tiến đến an tnh,
 


trí tucao siêu gc ngộ Niết-bàn? Con đường Trung đạo đlà: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghip, chánh mng, chánh tinh tn, chánh niệm, chánh định”.
    • Bát chánh đo trong Chơn lý: Bát chánh đạo cũng kêu là Bát Thánh đạo là pháp tự độ độ tha, sng chung với tt cả để cùng nhau lên đến nơi cng tt là Niết-bàn. Tổ đã trình bày khá chi tiết, phân tích ở nhiều mt. Tám đường chánh y là:
 
  • Chánh kiến đo là con đường thy chánh.
 
  • Chánh tư duy đo là con đường suy ngm chánh.
 
  • Chánh ngữ đạo là con đường nói chánh.
 
  • Chánh nghiệp đo là con đường làm chánh.
 
  • Chánh mng đạo là con đường sống chánh.
 
  • Chánh tinh tn đo là con đường siêng năng chánh.
 
  • Chánh niệm đo là con đường tưởng nhchánh.
 
  • Chánh đnh đo là con đường yên nghchánh.

(Chơn lBát chánh đạo, tp 1, tr. 94)

Tổ đã nhn định vBát chánh đạo như sau: Tt cc pháp lành trong thế gian đều thuc vtám phn ca Bát chánh đo không thnói viết cho cùng. Bát chánh đo gm cTam tng Pháp bảo, tám muôn bn ngàn pháp môn, ba ngàn pháp cái mà chơn như (chánh đnh) là mc đích chcmt(Chơn lBát chánh đạo, tp 1, tr. 105).
  1. Chánh Kiến
 
    • Phật giáo Nguyên thy: Ti ging đường Lc Mu, Đức Pht dy rằng chánh kiến là căn bn của chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mng, chánh tinh tn, chánh niệm và chánh định. Chánh kiến là sự thy biết tt cả muôn sự muôn vt đều vô thường, duyên hợp không có tự ngã, do đó đều bình đẳng.

- Chánh kiến trong bộ Chơn lý: Trong vic chn hưng Pht go, Tổ đã mnh dn chỉ trích những sai lm và thực tế hiện trạng xã hi
 


cũng như cuc sng của qun chúng hiện thời là chỉ làm vic xu hướng mà không hiểu nghĩa lý của vic làm y, chỉ hành đng theo sự “xưa bày nay làm” rt tai hi, sbngười chế nho. Tnói:

Trong xứ mà dân tộc mê tín thì cũng ngia đình mt nhm, ai mun dt dn bảo sao nghe vy và cứ nhm mt làm theo, thì còn gì sự tự chvà tiến hóa, láng ging kkhác ai li chng xỏ mũi cười khinh(Chơn lChánh kiến, tp 2, tr. 29).

Vy chánh kiến là như thế nào? Chánh kiến là sự thy rõ lẽ chánh để thực hành theo.

Trong phn cúng tế, Tổ dy: Cúng tế đbiết khiêm nhường k chết đng không ngang bạo giết hi người sống, mang ơn mến đức mà thờ, nghe dy là lyVy nên sự cúng tế là tt cho tâm tu, trí học, mà nên cúng tế Thánh hiền chớ đừng cu vái ma qu(Chơn lChánh kiến, tp 2, tr. 37, 38).

Sphá chp vmê tín dđoan ca Trất cnh xác, Ngài chỉ rõ những tp tc cổ h, gii tch ci ngun các bậc gi là thần linh mà chúng sinh đang tín nỡng. Ngài nói rõ ý nghĩa lbái, bậc đáng lbái đmi người không còn sai lm, không còn lễ bái những kvô nh đâu đâu không thực có. Bi cung kính là đvâng lời, vâng lời là đtht nh, tht nh là kết quả, quy là bn tâm. Như vy, Tđã nêu cao tinh thần chánh kiến đphá trtp tc mê tín, hướng mi người trv chánh đạo qua sthy biết chơn chánh ca cnh nh.
  1. Thin định
 
    • Phật giáo Nguyên thy: Thiền định là pháp hành quan trọng trong đạo Pht. Từ sau Pht nhp diệt đến nay đã có rt nhiều sách kinh viết và ging gii về thiền. Nghiên cứu xa hơn nữa, chúng ta thy thiền có liên quan đến phương pháp tu luyện cổ truyền, có lẽ từ thuở khởi nguyên của văn hóa n Đ. Thiền, nói đủ là thiền-na, được dịch nghĩa là tĩnh lự, chỉ cho trạng thái tâm an tịnh, không lon đng. Có nhiều phương pháp tu tp thiền định, như Sổ tức quan, Tứ niệm xứ v.v… nhưng tt cả đều cng mt mục đích là trụ tâm vào
 


mt ch, không cho tán lon, để đi đến định và phát sanh trí tu.

Có mt đon kinh ghi: Mt thời Thế Tôn du hành ở Kosala, Ngài dy các Tỳ-kheo: Này c Tỳ-kheo, đon tn sáu pháp này, cthđt được và an trú Sơ thiền. Thế nào là sáu? Dc tham, sân, hôn trầm, thy miên, tro hi, nghi và ntht khéo thy với chánh trí tuvnguy hi trong c dc. Đon tn sáu pháp này, ny c Tỳ-kheo, cthđt được và an trú trong Sơ thin”. Trong bài kinh này Đức Pht dy phòng hộ tâm, nếu thực hành được có thể thành tựu thiền định, chứng được tuệ giác gii thoát.

- Bài Nhập định” trong Chơn lý, Tổ sư đã ging gii về nhp định rt cn ksâu sát. Tnói: Người cđnh thì thân khu ý mới trong sch, tuy ít nói mà nói hay, tuy ít làm mà làm nên, tuy ít nhmà nhphi là được kết quyên vui biết bao nhiêu. Và cũng nhđnh, mt tai mũi lưỡi thân ý mới trn lành hữu dụng, tt đp trang nghiêm, mới ra con người cgiá trị, xứng đáng đnêu gương(Chơn lNhập định, tr. 352).

Mun nhp định không phi mt ln mà được định. Chúng ta phi thn trọng bước đi từng bước, kiên nhn, tinh tn hành trì. Định là kho tàng vô tn, là phòng bí mt, là tủ đựng kinh… trong định trí mới hu, có huệ trừ vọng mới chơn. Nghĩa là định nhiều thì huệ nhiều, phép linh nhiều; định ít thì huệ ít, phép linh ít.

Có đon Tổ dy chúng ta điều phục ý rt hay như: “Đừng cho nó gn 5 cửa: mt, tai, mũi, lưỡi, thân (hay là thân khu) với kác tà, với đcu trược, thp thi xu dơ mà phi đnlên cao chthanh tnh, mc cho áo tt bng sự vng lng, cho năn đngon là thiện lành, thì nmới lớn nên người được(Chơn lNhp định” tp 1, tr. 356).

Trong cnh tâm đnh thường cnhững sự vui như: da ni c, tn mát lnh, nthy hào quang, nthy nh nhbay bổng lên không trung và bay theo mây gió. Điều mà phi tnh là trong khi nhp đnh, hãy để tự nhiên cho nđnh chớ đừng vọng tưởng, nng khi vọng tưởng hot động thì phi xả đứng dy đi ra, chớ đừng ngi nán e thy quy suy nghĩ nhby...(Chơn lNhp định” tp 1, tr. 361).

 

Kết lun


Tư tưởng Pht giáo Nguyên thy rt rõ nét nhiều nơi trong bChơn lcủa Tổ sư, nhưng bài này chỉ nêu lên mt số điểm cụ thể để thy rằng Đức Tổ sư đã nghiên tm từ hai hệ tư tưởng Nam truyền và Bắc truyền, đặc biệt ở đây là tư tưởng Nam truyền hay còn gọi là Pht giáo Nguyên thy. Qua đó, chúng ta thy Tổ sư đã y theo phương châm Ni truyền Thích-ca Chánh phápđể kế thừa và phát huy tư tưởng của các truyền thng Pht giáo ở thời kỳ cách Pht quá xa. Thể hiện hướng đi Trung đạo, Tổ sư đã nghiên cứu hai hệ tư tưởng Nam và Bắc truyền dung hợp li thành mt dòng truyền thừa mi, riêng biệt, mang tính sáng tạo. Những giáo lý, tư tưởng quan trọng của hai trường phái lớn đều được kết tp trong bChơn l. Từ giá trị của bsách quý báu này, ngày nay các hc giả, nhà nghiên cứu càng lúc càng thy rõ hơn sự siêu việt của mt bậc phi thường hy hữu. Sự xut hiện của Tổ trong thời kpháp nhược ma cường, quả tht như ánh đuc thiêng sáng ngi, soi rọi thế gian u ti, khơi dy niềm tin và giác tánh cho vô sngười hữu duyên, khiến cho số đông được an lạc, gii thoát. Mặc dTkhông còn hiện hữu, nhưng chúng con tin chắc rằng Chơn lcủa Ngài đã sáng t, đang sáng t, smãi sáng tỏ trong lòng nhân thế, để tiếp tục cứu độ bao sanh linh thng kh, trvno gii thoát an vui. Công đức của Tổ sư to lớn vô vàn, chúng con xin mượn lời thơ sau đây để kết li bài viết:

… Ôi tht đáng cho đời kính ngưỡng, Công đức Ngài vô lượng vô biên,
Hỡi cđệ tử hữu duyên,

Nhớ ơn Sư Tcn chuyên tu hành.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây