25. "CÁI BIẾT" TRONG CHƠN LÝ CỦA ĐỨC TỔ SƯ

Chủ nhật - 09/09/2018 10:18
"CÁI BIẾT" TRONG CHƠN LÝ CỦA ĐỨC TỔ SƯ của TKN.TS. Liên Hòa - Tịnh xá Ngọc Túc – An Khê – Gia Lai
Đức Tổ sư Minh Đăng Quang khai sáng Đạo Pht Kht Sĩ Việt Nam vào năm 1947. Nhìn trên tng th, đây là mt dòng truyền thừa Pht giáo kết tinh những nét đặc thcủa truyền thng Pht giáo Nguyên thy và truyền thng Pht giáo Đi thừa. Hphái Kht Sĩ lâu nay vn thường được xem là mt dòng truyền thừa ra đời mun nht. Nhn xét này không sai. Mi người đều có lý do để phát biểu suy nghĩ riêng của mình và cố nhiên đức Tổ sư cũng có mt lý do rt chính đáng để mở ra mt truyền thng tu mi, rt phhợp với căn cơ trình độ con người thời đi và tuyệt vời trên hết là tiêu cgiáo điển rt gn, rt đúng với ý chỉ của đức Như Lai bui đu.

Đạo Pht xut hiện trong đời trên 2600 năm và lưu li cho nhân loi trên thế giới kim nn ngc ngữ của đức Thế Tôn còn giữ khá nguyên vẹn trong Kinh Lut Lun mãi đến ngày nay. Giáo pháp của cPht như mt dòng chy xuyên sut qua không gian, thời gian. Du rằng thời - không vn hành không dứt, tâm thức chúng sinh biến chuyển, ý pháp của đức Thế Tôn vn như sợi chỉ đỏ kết li tt cả những viên ngc pháp của các tông ch, trường phái, của các dòng truyền thừa sớm mun..., thành tràng ngc có giá trị bt khả tư nghì. Muôn đời vn thế, cái vô thường hn nhiên vô tư li che chn giữ gìn cho cái chân thường bt hư bt diệt.

Từ pháp hi Linh Sơn, hình nh và ý nghĩa đức Thế Tôn im lng nâng cành hoa sen trước hi chúng mà chỉ mi Sơ Tổ Thiền tông Ca-
 


diếp mỉm cười lãnh hi, đến ý pháp nhiệm mu của Sơ Tổ Thiền tông Trung Hoa Đt-ma, chín năm lng yên diện bích” đã thm gởi gm điều gì với hu lai? Cũng thế, từ Hoa Nghiêm đến Chơn l, tuy xa mà gn, tuy hai mà mt. Đó là diệu pháp vô nn vô tự, là tự nhiên pháp, là vô vi pháp mà những ai chiêm nghiệm, thu rõ và sng với diệu pháp y sẽ trở thành bậc Thánh giữa nhân gian, là người an lạc nht trên thế giới này. Không dng văn pháp kiểu cách, không dng ngữ cú văn chương, không dng mỹ từ xa lạ, chỉ bng lời văn mc mạc chân cht của người miền Nam nước Việt, đức Tổ sư đã diễn ging “cái biếtvới đy đủ ý pháp thâm diệu của mười phương cPht.

Cũng như văn hc Nikaya, người hc đc qua bao thế knay đều cm nhn sự gn gũi mà thiêng liêng, sự gin dị mà vĩ đi của đức Thế Tôn - bậc Thy của Trời người. Và khi đc đến Chơn l, người con Pht càng cm nhn chân thành hơn những lời dy mc mạc mà sâu sắc, ging gii tường tn sâu xa ý đạo của cPht ba đời dường như đang gởi đến hi chúng người Việt vy. Li ging dy, khai triển Pht pháp đặc thnày xut phát từ lòng từ bi, vì lợi ích chung, vì hnh phúc và an lạc cho tt cả chúng sinh của Tổ sư.

Trvvới tánh biết, dù nhiều hành giả lão thành cho đó chỉ là mức độ hành trì rt ban sơ, tuy nhiên đy li là nền tng tu tp căn bn nht. Trong bChơn l, cái biết” như mt yếu pháp được đức Tổ sư phân tích, ging trạch, chứng minh rt nhiều ln để những ai đy đủ niềm tin với đạo pháp thm thu và nhn rõ trên con đường cu pháp thực tp gii thoát. Thế mới rõ, trong sự hc hiểu và tu tp, mi hành giả cn phi tht sự hiểu đúng tm quan trọng của nó, cn phi thm thu ý Tổ sư.

Trong mười hai chi phn ca Thập nhị nhân duyên, vô minh sinh hành, hành sinh thức và thức chính là cái biết, cái sng ca chúng sinh. Thế thì trong mỗi chúng sinh, ai ai cũng đu sn ccái biết c. Chng phi người trí mi ccái biết còn người ngu thì không có. Chng phi người tu biết thực tập mi có cái biết, còn người dân bình thường không ccái biết. Chng phi người lớn mi ccái biết mà trẻ nhỏ không có. Tlúc còn nm trong bụng m, thai nhi đã có
 


cái biết vì cái biết y chính là cái sng trong thai bào vy (Chơn l
Thp nhnhân duyên”).

Trong Chơn lChơn như, Đức Tổ sư cũng bảo: “Cái biết ca ta nó cũng vn là tự nhiên không vọng động, và từ nơi tự nhiên không vọng động, có sn từ lâu, tự hi o, cho phi mới chiện ti đây. Vì nếu không ctrước kia, thì bây giđâu có. Sdĩ trước kia nchưa xut lra, chưa tập thành tướng, là chính nđang ở n trong các pháp chúng sanh vn vt đthôi, nên gi là cái sống biết linh, có sn nơi chúng sanh vn vt các pháp, vn là tự nhiên ở trong võ tr”.

Đây là điểm mà giáo lý Pht giáo phát triển gọi là chân tâm thường trú, thể tánh tịnh minh,Pht tánh, diệu tâm, chơn như, Niết-bàn... Ngay phm đu trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, đức Pht dy cho Tôn giả A-nan, đng thời chuyển đến cho chúng ta thông điệp gì?

Khi đức Thế Tôn hi Tôn giả A-nan về cái tâm, ln đu tiên Tôn giả thưa rằng tâm là sự hiểu biết, là cái sinh ra sự thích ưa, ham mun trong mi người. Bng chứng là khi nhìn thy thân tướng đẹp đẽ của đức Thế Tôn, Tôn giả đã phát tâm xut gia tu hành. Lúc by giờ đức Thế Tôn đã khai thị cho Tôn giả A-nan và đi chúng: Này A-nan, ông nên biết, hết thy chúng sanh từ vô thđến nay, sống chết tương tc đều do không biết Chân tâm thường trú, Thtánh tnh minh, hàng ngày chdùng c vọng tưởng; mà vọng tưởng thì không chơn, vì vy nên mới cluân hi. Và Ngài cnh tỉnh rằng nếu quan niệm do tâm và con mt mà có sự ưa mun, nhưng không biết tâm và con mt ở đâu thì người tu tp không thhàng phục được trn lao. Tôn giả A-nan quay li, rà soát tìm xem tâm và con mt của mình hiện ở chnào. Tôn giả đưa ra nhiều giả thiết rằng tâm ở trong thân, tâm ở ngoài thân, tâm núp sau con mt, v.v... song, đức Thế Tôn đều phủ nhn các ý niệm không chính xác về tâm của Tôn giả A-nan.

Không phi chỉ qua vn dng tư duy trong nghiên cứu hc Pht mà cn phi dng công thực tp tht sự mới hiểu thu về tâm. Trong Kinh Pháp Cú, đức Thế Tôn dy: “Ý dn đu c pháp, ý làm chủ ý tạo..., hoặc trong Kinh Hoa Nghiêm có viết: Tâm ncông ha sư,
 


ha chủng chủng ngũ un. Tt cả nói lên rằng các pháp trong thế giới này đều do tâm biến hiện ra. Bởi tâm biến hiện nên tướng của nó không có tht. Song chỉ có chân tâm không hư vọng, không sinh, không diệt, không sch, không dơ, không tăng, không gim, không đến, không đi, luôn thanh tịnh sáng rỡ, đó là tht tướng chân tâm, là chân tâm thường trú.

Đức Tổ sư mang chân tâm y về gn chúng ta gọi mc mạc là cái biết. Cái biết y nào có xa lạ, ai cũng sở hữu nó từ lúc còn trong bng m. Chân tâm y nào có cao vi, nó vn thường trực nơi mi chúng sinh. Để quên tánh biết này là chúng sinh phàm phu trn ly, luôn sng với chân tâm thường trú sẽ thành Pht, thành bậc Thánh. Trvvới cái biết, với chân tâm là nền tng tu tp để thành tựu con đường gii thoát giác ng. Hàng ngàn công án, thoi đu của chư thiền sư Trung Hoa, Nht Bn cũng không ngoài mục tiêu nhắc người cu đạo hãy trvvới chính mình. Người hc đạo không đi tìm, không mong chứng đt gì từ bên ngoài mà hãy quay về tự tánh của mình. Đánh thức vị Pht trong ta, lau chùi li viên ngc sáng long lanh trong chéo áo của chúng ta.

Trong Chơn lSám hi, Đức Tổ sư viết: Đi với ktu nhp đnh yên lng được, thì sẽ cứng chc yên vui còn mãi và cthn thông, gi là Pht Thánh. Còn kít mê trần nghiệp ti, thì ít lon vọng nên dchịu, chịu được cnh im lng ti đen không không, về sau chừng vững khá linh thiêng thì còn biết đường thy chnhp thai; hoặc bquma hóa ra Pht Thánh Trời Tiên dn dụ gt gm, hay byêu tinh biến ra quyến thuc nhn nn, lôi cun, cũng là còn khá. Chnếu kẻ sanh tiền ti li ác gian nhiều, khi chết đi ngàn năm ức kiếp cái biết không ra khi cnh y đng, hoặc phi dit tiêu, là bởi lon tâm, dc vọng, phiền não, tht tình, làm cho càng yếu ớt, hoi ln cái biết, đến hết biết là tiêu diệt”. Ngài mun nhắc nhngười hc Pht rằng chỉ vì chúng sinh bkhi vô minh che mnên đánh mt sự nhn biết, không nhn ra chân tâm thường trú này. Không khéo dng công, chúng sinh để rơi rng mt chân tâm mà lm sng với vọng tưởng, đng nht mình với mi cm thghét, thương, bun, gin,... và rồi phi chu loanh
 


quanh mãi trong ba cõi sáu đường. Ngài chỉ cho người hc tu ngày nay phi điềm tĩnh quán chiếu những điều rt gn trong cuc sng đời thường, rằng đôi khi thương quá hết biết, gt quá hết biết, mừng hay gin quá hết biết, bun hay vui quá hết biết, ưa mun, dc vọng, hi hn, phiền não quá hết biết.... Những lúc như thế, cái biết hay tâm thức vốn trong sáng chơn như kia, không còn sáng rỡ mà bmây mcủa tht tình lục dục bao phủ và dn đến tình trạng không còn phân biệt đúng sai, tt xu, cứ phn ứng hành hot thiếu suy nghĩ. y chính là cái ác quy là sự hư hoi ca ti tạo ra sẽ sanh phiền não là con sâu, con sâu phiền não sẽ đc phá ln cái biết tâm ht tiêu hoi”. Đức Tổ sư cnh tỉnh: “Cái biết trong sch thiện lành là nht lớn cứng già cũng được khá; nng sao bng chính cái biết đnh yên chơn như, mới phi ht chín cứng khô, sống mãi đđời, kêu là gc chơn, Pht hay là ta đ” (Chơn lSám hi”).

Cái biết hay trạng thái biết luôn có mt trong mi chúng ta. Khi nhìn thy mây bay, ta biết mây đang bay trên bu tri. Nhìn thy cnh vt, ta biết đy là hoa, là người, là vt, là nhà, là sông, là núi... Ai cho chúng ta cái biết y? Tự thân chúng ta biết chứ không ai cho cả. Khi nghe âm thanh, ta biết đó là tiếng chim hót, tiếng xe, tiếng hát, tiếng cười, tiếng người, tiếng vt... Cũng không ai cho cái biết y cả, tự thân ta biết nghe. Khi mũi ngửi mi, lưỡi nếm v, thân xúc chm, tự thân chúng ta đều có cái biết. Cái biết y phân biệt rõ ràng mi thứ (Chơn lKht sĩ”).

Mt thiền sư ni tiếng cn đi, Ngài Ajahn Chah cũng từng tâm sự: Tôi đi tìm khp nơi mt chn tht thun tiện hu giúp tôi thiền đnh, thế nng tôi không ngờ chn y li đang ở ti nơi này, đang ở bên trong con tim và tâm thức tôi. Mi phép thiền đnh cũng chỉ ở nơi này, trong mi con người chúng ta. Sự sinh, già nua, bnh tt và cái chết cũng chỉ ở nơi y. Tôi lang thang khp nơi cho đến lúc kiệt lực, thế nng khi dừng li thì tôi mới khám phá ra rằng những gì tôi đi tìm - nđang ở trong tôi. Tht tuyệt diệu ! Truyền thng Pht giáo Nguyên Thuchuyên nht dng tu trên pháp môn căn bn là Tứ niệm xứ, mt phương thức tu tp được chính kim khu đức Thế Tôn truyền
 


dy vào thời kỳ đu thành lp Tăng đoàn cũng đt trên nền tng quan trọng là hướng dn hành giả quay về sự nhn biết nơi tự thân.

Chúng sinh gm căn thân và chthức (là người nhận biết) (Chơn lKht sĩ”). Trong mi chúng ta có hai phần thân vt lý tâm. Mi ni khổ ca chúng sinh đều bt đu tslầm lẫn đánh đng xem ta là thân này. Ta là snhận biết, là cái biết, không phải là thân tđại đt, nước, gió, lửa hp tnh. Vì vy, đức Tsư thường nhc nhở chúng ta rằng: Thế nên, cái biết chủ cn phi sng, lớn, ăn, vui, yên và còn mãi mãi. Chính biết là ta, là mục đích ca chúng sinh, là chơn lcuộc đời, là tinh ba vũ tr. Có nghĩa là chúng ta thường tp cnh niệm, trở về vi chính nh, cũng tức là trở về vi tánh biết ca nh. Phải hằng nuôi ỡng sbiết, không đtht niệm đui theo những thứ phù phiếm hư huyn bên ngoài, bỏ quên mt cái biết y.

Đức Tổ sư khng định rằng chúng sinh không ai mà không có định (Chơn lNhp định”). Chỉ vì lâu nay chúng ta hp ln trong mớ vt cht, trong ăn mặc ở bệnh mà xao lãng tánh biết vn đang ở trong ta. Bởi vt cht hữu hình hữu hoi, vô thường biến đi mà ta li đng nht ta với chúng nên vô lượng kiếp rồi chúng ta cứ mãi ngp ln trong biển khy. Không những thân vt lý này không phi là ta mà ý căn cũng không phi là ta. Đức Tổ sư đã phân tích rõ rằng: “Ý dc phát sanh nơi loài cây ctrước nht, khi đến thú thì nrt ác, được làm người thì ý cchút thiện hơn. Nng ý vọng động không ngừng, cho nên ai ly ý làm ta tức phi chịu khổ sở điên đo. Vy ta phi nht nli và đi nra cái trí là sự hiểu trắng biết phân biệt, có được hc thức thì mới khi sai lm theo ý dt nát mun càn mà tnh được khổ sở nn tai. Người sống bng cái trí sáng láng hay khéo gi là bậc Trời. Nng cái trí khôn ngoan y cũng chưa phi là hết khổ sở tht bi, người ta phi cn đi trí ra làm cái gc, giác là cái biết sáng sut chc chn chơn tht không mê lm. Chính người sống chơn tht do nơi biết sáng mới vững bền yên vui kết quả, hơn là sự khéo xo mưu mô ca trí” (Chơn lNhp định”).

Ngài lại giảng rõ hơn: Trí có hai: Trí say và trí hu! Trí say là
 


biết phân biệt, hiu trng đen mà ca chu tnh dứt bđiu vng quy. Trí huệ là cái hiu trng bng sự tht hành dứt bđược các điu tội lỗi dối trá, giđược chơn như yên lng tnh định chắc thiệt. Cho nên cũng gọi trí huệ là chơn trí, chính chơn trí cũng gọi là giác hay tánh. Vy thì tt cả cũng là mt cái biết, tùy theo mỗi chỗ đt tên. Cái biết sa ngã theo thọ tình hai ltương đối kêu là ý. Cái biết thy trng phân biệt kêu là trí (trí bch). Cái biết sáng sut chơn tht tự nhiên kêu là giác. Cả thy đu là cái biết tâm, nơi ý thức lúc đu là tâm vng giả tm, đến giác chơn sau mi là tâm chơn chắc thiệt vĩnh viễn. Tâm chơn tức là tâm ca chư Pht, tt cả y nhau như mt, trọn sáng lành. Chng phi như tâm vng non nt ca chúng sanh, kẻ vy người khác, gidi hư hoi ác tà, lm khi tiêu hoi chng còn có được(Chơn lNhp định”).

Đức Tổ sư lý gii vchữ Tâm rt logic và hợp lý. Xưa nay khi bàn đến chữ Tâm, mi người thường ly câu Hán ngữ: Tam điểm ntinh tượng, hoành câu tnguyt tà, phi mao tùng thử đc, tPht gido tha. Cách ví von chữ Tâm trong bài thơ này tht hay. Chữ Tâm được mô tả là có ba chm như ba ni sao, còn móc câu nm ngang như ánh trăng nghiêng nghiêng. Làm thân trâu ngựa, mang lông đi sừng là do tâm này, thành Pht cũng chính từ nó mà được. Trong Chơn l, Ngài lý lun như sau: “Hình ca chữ tâm, trên cba điểm cũng tức là thcm, tư tưởng, hành vi. Còn cái câu móc bên dưới là nh đứa nh, ngi trong thai o bụng mẹ, kêu là sc thân. Vy nên nh chữ tâm đây là ba m: th, tưởng, hành, ở trên sc thân làm sự sng, cái biết và linh thiêng” (Chơn lTâm”). Cách lý gii của Ngài quả tht mới lạ và sâu sắc.

Ngài tm phân loi như sau, ở nơi thú người, tâm là sự biết; ở nơi trời Pht, tâm là sự linh thiêng, huyền bí, n mt, thn thông, yên lng, linh diệu, nuôi lớn các cái biết, cái sng, nên gọi tâm Trời Pht là linh diệu (Chơn lTâm”). Lý lẽ này li mt ln nữa cho thy, rằng chúng ta đã có cái biết, thế nhưng vì ln ngp trong hng trn, để cho tham sân si ngự tr, sự biết nơi tâm dn rơi vào quên lãng. Sut ngày rượt đui vt dục thế thường, đêm vmệt mi, chúng ta
 


vt tay lên trán trn trc chưa ngủ vì mãi còn ngngợi bao điều thị phi, được mt. Chúng ta nào biết suy tư rằng ta từ đâu sinh ra đây? Khi sinh ra chúng ta nào có đem theo món gì gọi là của ci mà giờ đây chúng ta li cố chp là của ta? Ta nào biết rằng mình đã, đang và sẽ vay mượn rt nhiều từ xung quanh. Sẽ có mt ngày từ giã cõi tm này, ta li mang theo được gì? Thế sao hôm nay ta li ích kbn xẻn chỉ biết mình, người thân mình? Ta trách mt tên trộm vt thực của người khác, sao ta không nghĩ li chính người được gọi là chủ nhân kia còn trộm nhiều thứ lớn lao hơn của vũ tr. Ông ta đã trộm đt, trộm nước, đn cây, giết thú... Cây cỏ kia tưởng chừng vô tình nhưng chúng vn đau đớn run lên từng hi dưới nhát búa của con người. Thú vt kia tưởng chừng ngu si đn đn nhưng chúng đang kêu khóc thm thiết giãy giụa van xin con người cho được sng. Chúng ta tht sự chìm trong mng mị của tham lam, sân hn, si mê, không thy rõ đạo lý sng. Làm người có cái biết, phi giữ cái biết y hng sáng, biết phân biệt, biết bao dung thương yêu người vt đang còn ở mức tiến hóa thức tri chưa cao. Ngược li, chúng ta đang tâm giành git, hơn thua, hiếp đáp kyếu chng chút xót thương. Chúng ta ít khi nhìn li mình nhưng luôn thích nhìn ngó kkhác. Chúng ta thích nói tt về mình và thích nói, thích nghe chuyện xu của người. Bn nhân tâm trong mi chúng ta chính là kho báu vĩnh cửu sn có trong nhà, nhưng chúng ta chng nhni, giữ gìn, chng phát huy nó khởi sắc tt đẹp thánh thiện hơn (Chơn lTâm”).

Cũng bởi lm chp thân này trường tn bt hoi, tìm kiếm rượt đui mớ danh lợi vt cht hư huyễn bên ngoài để vun bi sắc thân, tưởng đy là vui. Nào ngờ thân tứ đi luôn bng quay vô thường chi phi, luân hi sinh tử vô lượng kiếp rồi, chúng ta cứ mãi loanh quanh trong dòng ái hà vui ít khổ nhiều không sao thoát ra được. Chính vô minh si mê khỏa lp ánh sáng trí tuệ trong tự thân khiến chúng ta lao đao như thế. Chỉ cn mt bước nhy vượt khi chp thân này tức thì an lạc, chơn như, tịch tĩnh liền tràn ngp cả thế giới. Nhà ti vô minh ngàn năm nhưng chỉ cn mt tia sáng từ đuc tuệ vô nsoi vào, bóng ti liền tan biến như chưa từng có. Thế nên, sự tu hc rt cn thiết để mời gọi tia sángy trv. Làm người cn phi tu
 


hc. Cái biết y chính là hc, cái khổ là tu, cái sng là sng mãi (Chơn lKhvà Vui”).

Đức Tổ sư mở ra trước mt mi người mt trú xứ trang nghiêm thun tịnh, chỉ luôn nghe thy tiếng an vui, lành thiện, người đời gọi cnh y là xứ thiên đường hay Cực lạc giới. Con người ta chính bởi khi hiểu rõ được vn pháp trong thế giới này đều do nhiều nhân duyên kết hợp tạo thành, nên người ta không còn tham luyến thân này, không còn mến tiếc của ci, thân tâm thnh thơi nhẹ nhàng. Do vì hiểu rõ không có mt cái ta nào chtể cả nên con người ta sng mt đời đúng với chơn lý, tự ti trước vô thường thay đi của mi sự mi vt. Chúng sinh trvvới tánh biết và biết hoàn toàn viên mãn, chính là Pht toàn giác vy. Nơi đây là xứ thiên đường, là cõi Cực lạc bởi chúng sanh không còn tranh chp, tự trvề tánh biết rỡ ràng nơi tự thân, đời sng tự nhiên, hòa ái, tùy thun, an lạc, hnh phúc (Chơn lXứ thiên đường”).

Để người tu hc hiểu rõ mà tu tp, đức Tổ sư chỉ rõ: “trong xứ Cực lc, người ta ch thba cái mc đích chơn lý ca võ tr là cái sng, cái biết và cái linh, mà nơi mi sc thân đều có. Người ta cho đlà ca ci sự vic ca người ta, ri người ta đã gc ngộ Pht là không còn đi lo những vic sái quy, by bvô ích bên ngoài nữa. Mun sng khi đã ccái sống là phi sống chung, học go lý sống chung, tập chung sống. Mun linh là cứ đtâm định yên lng nó sẽ linh, phi học tập cái linh trong yên lng y. Đã ccái biết là phi học tập cho biết khp cả sự vt các pháp, bng sự tht gc ng, toàn gc. Cái sng, biết, linh ca ta phi dung a với cái sống biết linh ca võ trụ, là tứ đi vn vt, yên lng và các pháp. Đó tức là đạo đức ca võ tr chơn lý, mà không ai trái cãi để tự chiêu khọa. Bởi dân trong xứ Cực lc sống chung tu học bng ba mc đích nnhau cmt, nên miếng đt y được trong sch lm, người ta mới kêu là Tnh đhay Tnh th” (Chơn l“Đời đạo đức”).

Ngài còn chỉ bảo chi tiết hơn, đó là mun hc cái biết cn phải để tâm yên lng, trống không. Bởi vì chỉ khi nào tâm không, chúng ta mới nhchứa ra hết thy sự hc, mới nghiên cứu quán xét rõ ràng, mới tịnh định được. Li nữa, mun được tâm không thì đừng say



đm nơi cái có, đừng để rối lon theo sự suy nghay bun vui mừng gin, thương ghét, mun ưa nơi ngoi cnh (Chơn l“Đi hc”).

Trong dòng chy Pht giáo sut hơn 26 thế knay, mi dòng truyền thừa tùy duyên theo quc đ, tp tục văn hóa con người mà phhóa giáo pháp, đem lợi lạc đến chúng sinh, song điểm trọng yếu vn chú trọng pháp tu tp chuyển hóa tâm thức. Dù là 20 tông phái Pht giáo thời bphái, hay 10 tông phái Pht giáo ở Trung Hoa, hay các tông phái Pht giáo ở Nht Bn, vic tu tp như thế nào để trvvới sự nhn biết nguyên sơ mới đáng được tôn vinh, trân trọng. Dù thiền Nguyên thy, thiền Đi thừa, thiền Vipassana hay thiền Đông đ,... hết thy đều quy chiếu vmt nền tng tu tp căn bn, đó là quán tâm. Đạo Pht Kht Sĩ ra đời vmt lịch sử tuy mun màng, song pháp tu của Hphái vn không hề li nhp với dòng chy tu tp tìm vmch ngun gii thoát giác ngcủa đạo Pht. Trvvới cái biết ban sơ và làm cái biết thăng hoa trở thành cái linh, cái giác là điều mi người tu hc Pht đều đang cố gng hướng về thực tp.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây