1. Quan niệm của Phật giáo về gia đình và kiến tạo gia đình hòa hợp Nguyễn Thị Thường

Thứ ba - 30/04/2019 13:08
1. Quan niệm của Phật giáo về gia đình và kiến tạo gia đình hòa hợp
Nguyễn Thị Thường
3



 
QUANNIMCAPHT GIÁOVGIAĐÌNH VÀ KIẾN TO GIA ĐÌNH HÒA HỢP

Nguyễn Thị Thường*





M TT
Phật giáo một triết thuyết tôn giáo tầm thước hội rộng lớn. Khi du nhập vào Việt Nam, Phật giáo đã được biến đổi tích hợp với văn hóa tín ngưỡng bản địa, đạt đến quy chế của một quốc giáo, ảnh hưởng sâu sắc trong đời sống hội nói chung đời sống gia đình Việt nói riêng. Bài viết này cố gắng làm sáng tỏ sở luận của triết lý Phật giáo về gia đình trên sở phân tích những tưởng nhân sinh cốt lõi của triết thuyết này. T đó, tác giả đi sâu nghiên cứu những kiến giải của Phật giáo về đạo hiếu, đạo vợ chồng, anh em như những ngun tắc nền tảng để kiến tạo gia đình hạnh phúc, hòa hợp. Bài viết cũng làm nổi bật những điểm thực sự độc đáo của Phật giáo trong quan niệm về gia đình; ý nghĩa của sự thấu triệt tư tưởng Phật học về gia đình sự tu tập theo tinh thần Phật go để xây dựng gia đình a hợp, góp phn o sự ổn định phát triển hội.
***
Phật giáo một học thuyết triết học - tôn giáo độc đáo của Ấn Đ cổ đại, được xem triết lý thâm trầm, sâu sắc về con người. Vượt ra ngoài bn giới quốc gia, Phật go được truyền bá rộng rãi, trở thành một tôn giáo thế giới tầm ảnh hưởng lớn lao trong đời sống tinh thn của nhiều dân tộc.
Việc đánh giá vai trò của Phật giáo trong đời sống đương đại


*. PGS. TS., Giảng viên cao cấp, Khoa Triết học, Trường Đại học phạm Hà Nội, Việt Nam.
 


xem xét quan niệm của Phật giáo về gia đình kiến tạo gia đình hòa hợp đang một ý nghĩa đặc biệt. Chúng tôi khá tâm đắc với chia sẻ của Thượng tọa Thích Nhật T trong dịp ra mắt bộ ba cuốn sách về hôn nhân gia đình cuối năm 2017: Hy vọng có cơ hội để được đóng góp cho quý độc giả vừa đọc vừa cảm nhận th mang vào trong cuộc sống của mình những điều đó từ triết của Phật giáo dưới góc độ ứng dụng(Tuân-Úc, 2018).
  1. PHT GIÁO NN T GÓC ĐỘ NN TNG CỦA TRIẾT VỀ GIA ĐÌNH
    1. Tm thước của Pht giáo
Phật go một triết thuyết tôn go ra đời o khong cuối thế kỷ VI TCN tại miền Bắc Ấn Độ. Điểm độc đáo đầu tiên của Phật giáo chính ở chỗ nó một tôn giáo được sáng lập bởi một con người cụ thể siêu phàm như huyền thoại. Đó Đức Phật Thích Ca, n chính Siddhartha Gautama, sinh ngày 8 tháng 4 năm 563
- 483 TCN tại Kapilavastu, vốn thái tử con vua bộ tộc Sakya. Ra đời trong làn sóng phản đối sự ngự trị của Đạo la môn chế độ đẳng cấp khắc nghiệt, đạo Phật với triết lý nhân sinh sâu sắc đã trở thành ngọn cờ của phong trào đòi tự do tư tưởng bình đẳng hội ở Ấn Đ cổ đại. Nó dẫn đến việc đặt lại vấn đề về tính hiệu quả cùng giá trị thực sự của tôn giáo trong đời sống hội đương thời cũng như c thời đại về sau.
Đo Phật được xây dựng trên cơ sở cuộc đời tưởng triết lý của Thích Ca Mâu Ni. với tinh thần cải cách tích cực, Phật giáo đã nói n khát vọng giải phóng con người, tuyên truyền tình thương yêu từ bi rộng mở. Đức Phật nhiệt thành xây dựng một nền luân nhân sinh trên nền tảng của thực nghiệm tâm . Nói như nhà ng- hiên cứu Nguyễn Đăng Thục, đạo Phật không khynh hướng thần học ác cảm với suy luận siêu hình (Nguyễn, 1991).
Với tưởng tôn vinh con người, đề cao tinh thần từ bi, hướng thiện, vị tha, bao dung, tư tưởng bình đẳng, công bằng, ý thức về trách nhiệm nhân, khả năng chế ngự dục vọng vai trò tự giải thoát của con người, Phật go triết thuyết hàm chứa nhiều giá trị nhân sinh sâu sắc, nhờ đó thịnh đạt, tỏa bóng rộng lớn bao trùm những tôn giáo khác ở Ấn Đ gần 1500 m (Lương, 1996). Vượt ra ngoài bn giới quốc gia, Phật go đã lan truyền rộng rãi tầm
 


vóc cùng rộng lớn trên phạm vi quốc tế. Nó trở thành một trong những tôn go đại nhất thống lĩnh thế giới suốt 2500 năm qua vẫn mt trong những tôn giáo tính chất quốc tế quan trọng nht của nhân loại thế kỷ XX với hơn 500 triệu tín đồ(Lương, 1996) rải khắp các quốc gia châu Á và cả ở Liên Xô (cũ). Trong nửa thế kgn đây, Phật giáo vượt ra khỏi châu Á, bắt rễ sang các nước châu M, châu Âu ngày càng thêm nhiều tín đồ ở phương Tây. Đạo Phật thực sự tôn go m linh sâu sắc nhất hiểu biết nhất được biết đến trong lịch sử tinh thn của nhân loai.
    1. i nét về sự du nhập đặc điểm của Phật giáo Việt Nam - con đường phương thức lan ta
Phật giáo được du nhập vào Việt Nam vào khoảng đầu công nguyên theo con đường H tiêu (đường biển). Luy Lâu trị sở của Quận Giao chỉ xưa (nay chùa Dâu thuộc huyện Thuận Thành tỉnh Bc Ninh) sớm trở thành trung m Phật go quan trọng của nước ta thời bấy giờ. Nối gót các nhà truyền giáo Ấn Đ, Phật giáo Bắc tông tiếp tục được truyền vào Việt Nam qua con đường Đồng cỏ (đường bộ). Bằng những con đường khác nhau đó, Phật giáo, một tôn giáo chung của nhiều quốc gia Nam Á Đông Nam Á lúc bấy giờ cũng tìm được chỗ đứngViệt Nam.
Phật giáo đã nhanh chóng bám rễ vào đời sống tinh thần của người Việt bởi go lý của nó n bn phù hợp với truyền thống n hóa Việt Nam không mâu thuẫn với tín ngưỡng bản địa. Hơn thế nữa, Phật go còn đem lại những ch giải thích mới mẻ về nỗi khổ của con người, về nguyên nhân khổ đau, về con đường thoát khổ vốn những day dứt băn khoăn bao đời của con người, đồng thời kêu gọi từ, bi, hỷ, xả, một chủ trương đáp ứng lòng mong mỏi khát vọng hnh phúc của con người trong cuộc sống đầy dẫy tai họa rủi ro của họ. Vì vậy, Phật giáo nhanh chóng được người Việt tiếp nhận và phát trin mạnh m. Trong một số triu đại (Lý, Trn) Pht giáo đã đạt đến quy chế của một quốc giáo. Phật giáo nói chung, triết nhân sinh của Phật giáo nói riêng đã đồng hành cùng dân tộc trở thành một trong những hệ tưởng, tôn giáo sức sống lâu dài ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống hội tinh thần người Việt Nam.
Phải nói rng khi du nhập từ n Đvà Trung Quốc vào Vit Nam, Phật giáo đã được bản địa hóa. Người Việt đã tiếp thu những
 


giá trị tốt đẹp của Phật giáo, kết hợp với tín ngưỡng dân gian truyền thống văn hóa dân tộc để hình thành nên Phật giáo Việt Nam với những đặc điểm khác biệt so với Phật giáo nguyên thủy Ấn Đ Phật giáocác quốc gia khác trên thế giới.

Mt tính dung a

Phật giáo được biết đến như một tôn giáo đa lưu với nhiều hệ phái khác biệt. SongViệt Nam không tông phái nào biệt lập, thuần khiết. Tuy chủ trương của Thiền tông bất lập ngôn ( ngôn), song Việt Nam chính các thiền đã để lại nhiều trước tác giá trị. Phật giáo Việt Nam cũng tổng hợp các con đường giải thoát bằng tự lực tha lực, phối hợp Thiền tông với Tịnh Đ tông.
Các chùa phía Bắc những Phật điện cùng phong phú với hàng chục pho tượng Phật, Bồ tát, La Hán của các tông phái khác nhau. phía Nam, Đại thừa Tiểu thừa kết hợp mật thiết với nhau: nhiều chùa mang hình thức Tiểu thừa (thờ Phật Th Ca, nhà mặc áo vàng) nhưng lại theo giáo Đại thừa, bên cạnh Phật Th Ca lớn vẫn nhiều tượng nhỏ, bên cạnh áo vàng vẫn đồ nâu lam.
Tính dung hòa của Phật giáo Việt Nam còn biểu hiệnsự kết hợp của nó với tín ngưỡng bn đa và sự hỗn dung tôn giáo. Trước khi biết đến Phật giáo,dân Việt đã những loại hình tín ngưỡng dân gian của mình như: thờ cúng tổ tiên, thờ Mẫu, thờ thành hoàng… khá phát triển. Phật giáo thờ Phật trong chùa, tín ngưỡng truyền thống Việt Nam thờ thần trong miếu thờ Mẫu trong phủ. Bốn vị thần được cư dân nông nghiệp bản địa thờ nhiều nhất là Mây-Mưa-Sm-Chớp, đã được “Pht giáo hóa, được điêu khc theo tiêu chuẩn của một pho tượng Phật được gọi T pháp: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp điện. Các vị Phật T pháp này đều mang hình hài của những phụ nữ nhân từ, đức hạnh. Chùa Tpp thờ phng theo nguyên tc tin Pht, hu Mẫu. Sự hình thành hệ thống c ngôi chùa T pháp minh chứng sinh động cho sự kết hợp chặt chẽ giữa Phật go với tín ngưỡng bn địa. Vì thế màđồng bằng Bắc bộ mới những ngôi chùa vừa thờ Phật vừa thờ Mẫu rất độc đáo.
Dòng thiền Tì-ni-đa-lưu-chi thì pha trộn với Đạo giáo Đạo Mẫu. Nhiều thiền phái này, nhất những vị sống dưới thời Lý như Vn Hạnh, T Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không đều nổi tiếng
 


giỏi pháp thuật, tài biến hóa thần thông. Phật giáo mang màu sắc của Đạo giáo khi các nhà cũng tham gia vào việc cầu siêu, giải bùa, dâng sao, giải hạn…Phật giáo Việt Nam cũng gắnchặt chẽ với các tôn giáo khác như Nho giáo Lão giáo làm nên hiện tượng hỗn dung tôn giáo, to tnh quan nim Tam giáo đồng nguyên(ba tôn giáo cùng phát nguyên từ một gc) và Tam giáo đồng quy”(ba tôn giáo cùng quy về một đích), thể hiện tinh thần khoan dung tôn go đc sắc của người Việt.

Hai tính linh hoạt

Ngay từ đầu người Việt Nam đã tạo ra một lịch sử Phật giáo cho riêng mình và tập tục thờ Pht mới là tục thờ TPp. Trong dân gian lưu truyền câu chuyện nổi tiếng về nhà Ấn Đ Khâu Đà La (Kandra) mẫu Man nương. Đây câu chuyện huyền tích chép trong cuốn “Cổ châu pháp vân Phật bản hạnh ngữ lục soạn năm 1752 viết bằng chữ Nôm. Theo đó, nhà Khâu Đà La đến chùa Linh Quang Phật tích bên bờ Bắc sông Đuống lập am tu hành, thuyết pháp nàng Man, gái làng Dâu Bắc Ninh, một trong những đệ tử đầu tiên của Phật giáo, trở thành Phật tổ với ngày sinh ngày Phật đản mùng 8 tháng 4 (âm lịch), nay đổi thành ngày 15 tháng 4. Man nương trở thành Phật Mẫu đã sinh ra T pháp.
Với cảm quan thiết thực, người Việt Nam coi trọng việc sống phúc đức, trung thực, tu tập tâm Phật ngay giữa đời chứ không chỉ một cứu cánh lên chùa: Thứ nhất tu tại gia, thứ nhì tu chợ, thba tu chùa. Trong các chúng đệ tử của Pht giáo, lượng cư sĩ tại gia đông gấp nhiều lần so với đệ tử xuất gia. Người Việt cũng không coi trọng lễ nghi bằng việc thực hành nhân sinh:“Dù y chín bậc phù đồ, không bằng m phúc cứu cho mt người”; coi trọng truyền thống thờ cha mẹ, ông bà: Tu đâu cho bằng tu nhà, th cha kính m mới là chân tu”.
Vào Việt Nam, Phật được đồng nhất với những vị thần trong tín ngưỡng truyền thống khả năng cứu giúp mọi người thoát khỏi mọi tai họa: Nghiêng vai ngửa vái Phật, trời, đương cơn hoạn nạn độ người trầm luân; làm nên mây mưa sấm chớp để mùa màng tốt tươi (hệ thống chùa T Pháp); ban cho người hiếm muộn con (tục đi chùa cầu tự); ban lộc cho người bình dân để quanh năm làm ăn phát đạt (tục đi chùa lễ Phật hái lộc lúc giao thừa).
 
 

Ba là tính nhập thế

Phật giáo Việt Nam kết hợp chặt chẽ việc đạo với việc đời. Vốn một tôn giáo chủ trương xuất thế nhưng khi vào Việt Nam, Phật giáo đã nhanh chóng hòa nhập vào đời sống của dân tộc mang đm tính nhp thế. Các cao ng dưới triều Lý - Trần được nhà nước mời tham chính hoặc cố vấn trong các công việc hệ trọng của đất nước. S gắn đạo đời không chỉ thể hiệnviệc các nhà tham gia chính sự ngược lại còn khá nhiều vua quan quý tộc đi tu. Trong sáu thế hệ đệ tử của phái Tho Đường thì đã có tới chín người vua quan đương nhiệm. Đời sống tinh thn của c Phật tử chịu ảnh hưởng nhiều của các hoạt động mang tính nhập thế của nhà chùa chứ ít chú trọng đi sâu vào kinh kệ, giáo .
Với truyền thống gắnvới đời, đầu thế kỷ XX, Phật tử Việt Nam đã hăng hái tham gia vào các hoạt động hội như cuộc vận động đòi ân xá Phan Bi Châu và đám tang Phan Chu Trinh. Thời Diệm - Thiệu, Phật tử miền Nam đã tích cực tham gia vào phong trào đấu tranh đòi hòa bình độc lập dân tộc, nổi bật sự kiện Phật tử xuống đường đấu tranh phản đối nền độc tài của gia đình họ N, đỉnh cao sự kiện Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu vào mùanăm 1963. Tính nhập thế này đã khiến cho Phật giáo ngày càng ảnh hưởng mạnh mẽ, sâu rộng trong đời sống dân tộc dần trở thành một phần của đạo đức lối sống của người dân Việt Nam.
Việt Nam, làng quê nào cũng chùa. ChùaViệt Nam trong bốn mùa đều mang vẻ đẹp kín đáo, thầm lặng, lắng sâu, hướng tâm hồn con người về điều thiện. Đến chùa lễ Phật không chỉ Phật tử còn nhu cầu của nhiều người dân. H đến dâng hương lễ Phật tại chùa cầu mong sức khỏe, điềm lành, cuộc sống yên vui, hạnh phúc hay phát nguyện cầu cho người thân đã khuất được siêu linh tịnh độ, thể hiện ước vọng chính đáng của những người đang sống. thp n ngọn lửa của tình thương yêu từ bi của con người.
Như vậy, khi du nhập vào Việt Nam, Phật giáo ít nhiều đã được thay đổi để phù hợp với văn hóa bản địa vẫn không ảnh hưởng đến những tinh túy về trí tuệ lòng bi mẫn. S tích hợp này đã giúp Phật giáo bắt rễ vào đời sống dân tộc, phát huy được giá trị tầm ảnh hưởng của mình, tạo cho nó một địa vị đặc biệt không
 


một tôn giáo ngoại nhập nào thể được trong đời sống tinh thần dân tộc Việt Nam.
    1. Triết lý nhân sinh Phật go - cơ slý lun của nhng kiến giải v gia đình hòa hợp
Triết lý nn sinh của Pht giáo là giáo lý được bàn đến nhiu nhất trong hệ thống giáonhà Phật. Đồng thời nó cũng sức hút lớn nht đi với đông đo qun chúng nn dân. Triết lý đó là hệ thống những quan điểm, cách nhìn mang tính chất nền tảng của Phật giáo về các vấn đề nhân sinh (còn gọi nhân sinh quan) như mục đích, bản chất, ý nghĩa của cuộc đời, hành vi số phận con người… Nó quyết định khuynh hướng lựa chọn giá trị thái độ sống của con người, quyết định mục đích của hoạt động thực tiễn định hướng đường đi cho cuộc đời. Vì thế,cũng sở, nền tảng để Phật giáo kiến giải các vấn đề về gia đình. Nghiên cứu quan niệm của Phật go về gia đình xây dựng gia đình a hợp không thể không dựa trên nền tảng đó. Cốt lõi của nhân sinh quan Phật giáo thuyết Duyên khởi, Nhân quả, Nghiệp báo- Luân hồi T diu đế.
Một thuyết Duyên khởi: Phật giáo coi Duyên khởi nguyên phổ quát của mọi tồn tại. Thuyết Duyên khởi còn được gọi Duyên sinh hay Thập nhị nn duyên. Trong đó nn là mầm to quả, dun điều kiện, phương tiện, xúc c. Nhân dun a hợp thì vạn pháp sinh, nhân duyên tan thì vạn pháp diệt. Tùy theo nhân dun mà hợp thành c pháp (sự vật, hiện tượng) khác nhau. Phật giáo quan niệm con người một pháp đặc biêt của thế giới. Mi pp đu giới hạn, tương đi và phụ thuộc vào nhau. Trong Kinh Phật tự thuyết, thuộc Tiểu bộ kinh I, Đức Phật đúc kết nguyên Dun khởi như sau:
Cái này thời cái kia
Cái này không thời cái kia không Cái này sinh thời cái kia sinh
i y diệt thời cái kia diệt ại-tạng-kinh-Việt-Nam, 1999)
Theo thuyết Duyên khởi thì con người sinh - diệt chỉ sự hợp tan của ngũ uẩn được tạo thành do nhân duyên. Con người do duyên sinh nên cũng ngã, cũng phải chịu chi phối bởi luật
 


thường. Vô ngã (nghĩa không cái tôi thường hằng) bản chất của ngã trong trong dòng dun khởi của thp nhị nhân dun. Thuyết Dun khởi được Đức Phật vận dụng để phân tích thực chất quy luật sinh diệt của con người, đời người. Nhn thức đúng go Dun khởi sẽ giúp chúng ta thấy rõ sự thật của con người, cuộc đời giá trị hạnh phúc. Với triết lý “vô ngã” Phật giáo không phủ nhận hiện sinh ngược lại đem đến cho con người khả năng cải đổi, tự nâng mình từ giới hạn ràng buộc hiện sinh - mê muội giữ chặt cái Tôilên sự tự do khai png. Trên bình din đo đức học, cái nhìn “vô ngã” điều kiện cho hành động đạo đức, bởi khai thông khả năng chuyển đổi con người, tạo điều kiện xả bỏ vị kỷ, phá chấp ngã, chuẩn bị tâm linh hòa nhập cảm thông với tha nhân, mở rộng tình thương từ bi với muôn loài.
Hai luật nhân quả: Theo Phật giáo nhân quả nguyên lý tự nhiên của vạn vật. V mặt nhân sinh, luật nhân quả thực tế chỉ nhân quả báo ứng. Theo đó, thiện giả thiện báo, ác giả ác báo. Gieo nhân khi hội tụ đủ duyên thì gặt quả ấy. Với thuyết nhân quả, Phật giáo hướng con người đến việc hành thiện tránh ác. Nó cho rằng mọi hành vi thiện ác của con người, dù nhỏ , dù được bưng bít hay che giấu cũng khó tránh khỏi quả báo. Đức Phật đã dạy: Những kẻ tạo nghiệp ác dù có lên rừng, xuống biển hay vào hang núi cũng không nơi o th trn thoát”(Nguyễn, 2004).
Không chỉ dừng lạiviệc lên tiếng chống lại trừng phạt cái ác, còn cổ cho con người sống ngay thẳng, thật thà, tự tin làm chủ cuộc đời của mình, tin o chân lý gieo nhân nào gặt quả ấy. Bởi thế, con người cần tích cực hành thiện để được hưởng phúc đức về sau cho bản thân con cháu mình.
Bên cạnh tính hướng thiện, triết lý nhân quả của Phật giáo còn thể hiện một tinh thần vị tha, bao dung với một thái độ sống lạc quan khi cho rằng nhân qủa bất ho không nhất thiết cố định nếu chúng ta biết cải đổi thành nhân hiền thiện. Nếu chp cho nhân quả cố định thì đâu cần phải tu hành chuyển hóa làm . Với quan niệm này, thể thấy rằng, con người trong triết học Phật go không hn bi quan, yếm thế như nhiều người vẫn nghĩ.
Ba là thuyết Nghiệp báo Luân hồi: Quan niệm nhân quả của triết học Phật giáo gắn bó một cách chặt chẽ, không tách rời với thuyết nghiệp báo luân hồi.
 


Nghiệp (Karma) nghĩa đen hành động nhưng theo nghĩa sâu xa, những m, sở thiện ác. Nghiệp được hiểu những hành động, lời nói, việc làm của mỗi con người trong cuộc sống hàng ngày, gồm thân nghiệp, khu nghiệp ý nghiệp. Tất cả hành vi thân
- khu - ý to cho mi người một nghip hoặc Thin hoặc Ác. Trong cuộc sống ai hay làm điều thiện, thật thà thường xuyên giúp đỡ người khác thì sẽ tạo được nghiệp Thiện. Ngược lại, ai hay m điều ác, lừa đảo, dối trá, mưu toan hại người thì sẽ tạo nghiệp Ác. Việc mỗi người thụ quả báo vui hoặc khổ, được đưa đến cảnh giới này hay cảnh giới khác tùy thuộc vào nghiệp thiện hay ác họ đã tạo ra. Với thuyết nghiệp báo, Phật giáo gieo vào lòng người niềm tin sâu sắc rằng, những khổ vui chúng ta nhận được đều xuất phát từ những hành vi thiện ác của mình. Thuyết nghiệp báo sở để Phật go xây dựng nền luân lý của mình. Theo đó, quan tòa của mỗi chúng sinh chính nghiệp của bản thân. Phật giáo mong muốn con người m việc thiện xuất phát từ m, thân, khu. Vớitưởng “nghiệp chính hành động của chính mình tác động lại chính minh, mi người tự mình gây nghip, tự mình thực hin, tự mình lĩnh quả báo, thuyết nghiệp chủ trương trách nhiệm thuộc vềnhân. Vì thế nếu tin vào nghiệp báo thì không cần người khác cứu giúp chỉ cần vững lòng trông cậy vào chính mình để tự thanh tịnh hóa. T đó, học thuyết về nghiệp của Phật giáo hé mở một con đường giải phóng con người khỏi khổ hạnh bằng sự tu dưỡng. V điều này, học giả Thích Chân Quang đã lời bàn khá sâu sắc: Luật nghiệp báo vẫn chân tối hậu chi phối tt cả, con người thực sự thượng đế của chính mình trong việc tạo cho mình mt đời sống tt đẹp bằng cách tu tạo phước đức. Không aith đem lại hạnh phúc cho mình bằng chính mình. Ch chính mình bằng cách tạo nhiều nghiệp phước, bằng cách đem nhiều niềm vui đến cho người khác mới m cho mình trở nên an vui hạnh lạc (Thích, 2009).
Thuyết nghiệp báo gắn liền với tưởng luân hồi (Samsara). Luân hồi giáo lý của nhà Phật dựa trên luật nhân quả liên tục. con người, luân hồi sự dịch chuyển linh hồn qua các kiếp hay tái kiếp. Luân hồi được hiển thị bởi hình ảnh bánh xe quay tròn. Đó biểu trưng cho sự xoay chuyển, n xuống, xuất hiện của mỗi chúng sinh trong quá trình tiếp nối sinh tử không ngừng. S sống chết của con người chỉ sự hợp tan của ngũ uẩn. Sau khi chết đi con người
 


thể tái sinh trở lại các kiếp khác trong lục đạo luân hồi: thần, người, Atula, ngạ quỷ, súc sinh, địa ngục. Việc tái sinh trở lại vào kiếp (quả) nào phụ thuộc vào nghiệp (nhân) con người tạo ra lúc còn sống.
Điểm thực sự độc đáo của Phật giáo ở chỗ nó một triết học tôn giáo thần. Tinh thần của luật nhân quả nghiệp báo - luân hồi của Phật giáo loại trừ thuyết định mệnh. Theo đó, số phận của mỗi người do bản thân mỗi người định đoạt chứ không do một thế lực siêu nhiên nào đó định sẵn từ trước. Nghiệp không phải số phận, cũng không phải định mệnh đặt vào chúng ta bằng một quyền lực thầnkhông thể biết, khiến chúng ta phải phục tùng. Mọi thành công hay thất bại đều do nỗ lực của bản thân con người. Đây một quan điểm hết sức tiến bộ của Phật giáo, tạo niềm tin tiếp thêm sức mạnh tinh thần cho chúng sinh trong cuộc sống, tự mình phấn đấu thay đổi cuộc đời không trông chờ o sự may rủi s phận.
Phật go đặt niềm tin rất lớn o sự hướng thiện của con người, khun con người sống a đồng, yêu thương lẫn nhau, thực hành ngũ giới thập thin. Trong công trình “n bn luật nhân qu” thy Thích Chân Quang khẳng định: Vũ trụ luôn tồn tại mt sự công bằng tuyệt đối, luật Nhân qủa, Nghiệp báo cách thức để vũ trụ thực hiện sự công bằng đó. Những ta đối xử với tha nhân sẽ trở lại với ta mt cách ng phng, ng bằng và hợp lý (Thích, 2013).
Tinh thần hướng thiện, vị tha, bao dung của đạo đức Phật giáo hệ quả được rút ra từ triết lý nhân quả, vô ngã, vô thường, thuyết nghiệp báo, tưởng bình đẳng công bằng. Nó tác dụng giúp cho tâm, thân của chúng sinh được rộng rãi, tư, đồng thời hình thành trong con người tấm lòng khoan dung rộng lớn. Đó cũng những những giá trị nền tảng để kiến tạo đời sống gia đình hạnh phúc bền vững.
Bốn là thuyết T diệu đế: Con người được quan niệm một pháp của thế gian, chịu sự chi phối của lý Dun khởi, nhân quả nghiệp báo luân hồi. Đ thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi, Phật giáo đưa ra thuyết T diệu đế - bốn chântuyệt diệu thiêng liêng chỉ ra bản chất của đời người, ngun nhân, ch thức con đường giải thoát nhân loại khỏi khổ đau. Đó khổ đế, tập đế, diệt đế đạo đế.
Khổ đế chân về nỗi khổ của nhân sinh, rằng sự thật về cuộc
 


sống con người không ngoài những ng buộc, đau khổ, hệ lụy, thiếu tự do. Bởi thế, khổ bản chất của cuộc đời con người. Đó tám nỗi khổ (bát khổ) ai cũng phải chịu: sinh, lão, bệnh, tử, ái biệt ly, oán tăng hội, sở cầu bất đắc, ngũ thụ uẩn. Con người ngụp lặn trong bể khổ để tồn tại. Khổ đau tận tuyệt đối. Ý nghĩa của triết lý này ở chỗ hiểu được chân lý khổ đế thì con người mới bớt bám víu, chp thủ, biết chp nhn những thay đổi của cuộc đời, trở n tự do tự tại.
Phật giáo chỉ ra nguyên nhân của nỗi khổ trong chânthứ hai: Tập đế. Đó thập nhị nhân duyên (12 nguyên nhân) nằm trong mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau, trong đó minh ái dục ngun nhân chủ yếu, đầu mối của sự khổ.
Diệt đế chân thứ ba nói về lối thoát cho khổ đau đạt tới Niết bàn, rằng nỗi khổ thể diệt trừ khi tận diệt được nguyên nhân của . Khi nhìn cuộc đời bể khổ, Phật giáo không khuyên con người chấp nhận khổ đau phải tìm cách nhận thức diệt trừ , giải thoát khỏi nhữnglầm, làm chủ bản thân, vượt lên số phận, hướng tới xây dựng những giá trị tốt đẹp để cuộc sống hnh phúc. Điều này cho thấy, Phật go không chủ trương né tránh cuộc đời chỉ muốn cảnh tỉnh chúng sinh, khiến họ dũng cảm nhìn o hiện thực cuộc sống, giúp họ tự cứu ri cuộc đời của chính mình, đt tới trng thái Niết bàn. Trong tác phẩm “Tư tưởng Phât học”(Thích nữ T Hải dịch), tác giả Walpola Rahula đã phân tích khá sâu sắc trạng thái này: Người đã chứng ngộ chân - Niết bàn người hạnh phúc nht trần gian. Người ấy phải tht khỏi mọi phiền não lo âu…H sống hoàn toàn trong hiện ti…H vui vẻ, hoan hỉ, thưởng thức sự sống thuần khiết…H giải tht khỏi dục vọng ích kỷ, hận thù, minh, kiêu căng, ngã mn…H trong sạch, từ hòa, đầy lòng thương bao quát, từ bi, tử tế, thiện cảm bao dung. H phục kẻ khác mt cách trong sạch nht không còn nghĩ về mình. H không kiếm chác gì, ngay cả những thuộc địa ht tâm linh, bởih đã tht khỏi o tưởng v ngã và ng khao khát tr thành”… (Rahula, 2011).
Thiết nghĩ, n cạnh ý nghĩa biểu đạt trạng thái giải thoát, chm dứt vòng luân hồi, Niết bàn cũng thể xem một cảnh giới của hạnh phúc thế gian, trong đó phần can dự của hạnh phúc gia đinh. Bởi quan hệ gia đình, sự hòa hợp bền vững của gia đình không thể không kiến tạo trên nền tảng của những phm hnh ấy.
 


Phần quan trọng nhất của T diệu đế Đạo đế - con đường diệt khổ để đạt tới Niết bàn. Đó con đường tu đạo - hoàn thiện đạo đức gồm tám nguyên tắc (bát chính đạo): chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh, chính tinh tiến, chính niệm chính định. Bát chính đạo được thu về, thâu tóm vào ba điều học tập, rèn luyện (tam học) của nhà Phật Giới- Định -Tuệ. Chủ thuyết của Phật giáo khuyên con người nên tu tập theo tam học. Trong đó, giới là nhng điu răn về tn nghip, khu nghip, quy định hành vi đạo đức, dùng để đối trị với tâm tham của con người; Định chính kỷ luật của tâm linh, làm cho thân, tâm an lạc, không bị chi phối bởi hoàn cảnh; Tuệ trí tuệ, sự cảm nhận chân m đúng đn, tránh được o tưởng, mê lầm đưa đến sự ng tỏ bản nhiên. Tuệ nền tảng cho quá trình tu dưỡng kết hợp với giới định. Bát chính đạo con đường dẫn đến thực chứng chân tối hậu, dẫn đến tự do hoàn toàn, hạnh phúc bình an nhờ sự hoàn thiện về đo đức, m linh trí tuệ.
  1. KIẾN GIẢI CỦA PHẬT GIÁO VỀ GIA ĐÌNH VÀ PHƯƠNG THỨC KIẾN TO GIA ĐÌNH A HỢP
    1. Thiết chế gia đình dưới góc nhìn Phật học
Gia đình tế bào của hội, nơi con người được sinh ra, nuôi dưỡng trưởng thành. Gia đình được nhìn nhận như một thiết chế hội đặc thù. Đó một thể chế mang tính toàn cầu. Vai trò to lớn của gia đình vớicách tế bào của hội được thể hiện hai chức năng bản tái sản xuất ra con người văn hóa hóa con người. Chức năng thứ nhất đáp ứng nhu cầu tự nhiên, bảo tồn nòi giống, đồng thời mang ý nghĩa hội lớn lao cung cấp những công dân mới, những lớp người mới đm bo cho sự phát triển liên tục trường tồn của hội loài người. Chức năng thứ hai gia đình đảm nhận làm cái nôi bồi dưỡng nhân cách tâm hồn con người, trường học đầu tiên giáo dưỡng con người. Do vậy, sức mạnh trường tồn của quốc gia, dân tộc phụ thuộc rất nhiều vào sự tồn tại phát triển của gia đình.
Gia đình vấn đề của mọi dân tộc thời đại. Trên thế giới tồn tại nhiều hình thức gia đình với cấu trúc, chức năng, quy định lối sống khác nhau. Vì vậy rất nhiều quan niệm khác nhau về gia đình ở các hệ thống chính trị - hội văn hóa khác nhau.
 


Đó chưa kể một thực tế trên thế giới hiện nay xuất hiện nhiều dạng gia đình biến thái khiến cho mọi định nghĩa về gia đình đều trở nên bất cập. Chẳng hạn, James W.Vander Zanden- một học giả phương Tây cho biết: Mt cuộc thăm gần đây cho thấy 45% người M ngày nay cho rằng mt đôi không cần kết hôn mà cùng chung sống với nhau thì được coi mt gia đình đích thực. 33% coi các cặp đôi cùng giới tínhnuôi nấng con cái gia đình, còn 20% thì coi các cặp đồng tính chung sống với nhau mt gia đình (Zanden, 1990). Đây thể sự mở rộng thái quá trong quan niệm về gia đình các nền văn hóa truyền thống phương Đông trong đó Phật giáo khó lòng chấp nhận. Đối với người Á Đông nói chung, người Việt Nam nói riêng, gia đình một giá trị hội quan trọng bậc nhất. Nếu châu Âu gia đình nhiều khi đơn giản chỉ được coi một nhóm hội thì ở Á Đông gia đình được coi một tế bào hội tính sản sinh với đầy đủ các yếu tố cấu thành của nó như cha - mẹ - vợ - chồng- con cái. Tuy rất khó để tìm được chương nào cụ thể trong kinh Pàli bàn trực tiếp về khái niệm cấu trúc gia đình nhưng không phải Đức Phật các môn đồ của Ngài không quan m tới vn đề gia đình. Trong khi chú trng vào vic đt được Niết- bàn giải thoát (Nibbāna), Phật giáo cũng nhấn mạnh đến việc dùng đạo đức để được hạnh phúc nhân gian, trong đó cả cuộc sống gia đình - vốn một phần quan trọng trong hội toàn cầu. Phật giáo xem gia đình một tổ chức thu nhỏ của hội, trong đó c mối quan hệ chính quan hệ giữa chồng vợ, giữa ông bà cha mẹ con cháu, giữa anh chị em với nhau. Khi gia đình được xây dựng phát triển ổn định thì hội, quốc gia mới hưng thịnh. Dựa trên thuyết Duyên sinh, Phật giáo lý giải sự tương thuộc lẫn nhau giữa cá nhân, gia đình hội. Theo đó, hạnh phúc của người này cũng an lạc của kẻ khác, khổ đau của người này cũng chính bất hạnh của người khác. Nói khác đi, cuộc sống của mỗi người luôn “dự phần” vào cuộc sống chung của mọi người. Đ kiến tạo nên gia đình hòa hợp, hạnh phúc thì mỗi cá nhân thành viên đều phải triệt để làm tròn trách nhiệm của mình. Kinh Sīgalovāda giảng giải các trách nhiệm tương hỗ khác nhau của mỗi cá nhân trong quan hệ với cha mẹ, con cái, vợ chồng… Ngoài ra, mọi thành viên trong gia đình đều phải trách nhiệm đối với những thành viên khác trách nhiệm xây dựng cuộc sống chung của gia đình.
 


Xây dựng cuộc sống gia đình hòa hợp, hạnh phúc ước vọng chính đáng của con người. Khi quan niệm sống khổ đau, Đức Phật không phủ nhận hạnh phúc trong sự sống. Trái lại, Ngài chấp nhận những hình thái khác nhau về hạnh phúc cả vật chất cũng như tinh thn cho người thế tục cũng như cho người xuất thế. Trong kinh Tăng chi b(Anguttara-nikàya) một trong năm tạng kinh ngun thủy bng tiếng Pali, chứa đựng những bài thuyết pháp của Đức Phật, bảng về những hình thái của hạnh phúc (sukkàni) như hạnh phúc của cuộc đời ẩn hạnh phúc của cuộc sống gia đình, hạnh phúc của khoái lạc giác quan hạnh phúc của sự từ bỏ thế tục, hnh phúc của sự ng buộc hnh phúc của sự giải thoát, hạnh phúc vật hạnh phúc tâm linh
Trong kinh Điềm Lành Lớn (Đi-tạng-kinh-Vit-Nam, 1999), Đức Phật cho rằng hiếu dưỡng cha mẹ, nuôi dưỡng vợ (chồng) con, m nghề không rắc ri, nuôi dưỡng, thương u, chăm sóc cho những người thân trong gia đình, xây dựng tốt c mối quan hệ trong gia đình, nghề nghiệp lương thiện ổn định cuộc sống gia đình một hnh phúc lớn lao, điềm nh ti thượng.
    1. Đo Hiếu - nguyên tắc đo đức căn bản của gia đình Phật giáo
Quan hệ giữa cha mẹ con cái mối quan hệ huyết thống thâm sâu. Tuy nhiên, hội càng phát triển thì càng nảy sinh nhiều mâu thuẫn giữa c thế hệ. Ngày nay, đối mặt với nhu cầu mưu sinh vật chất, không ít bậc làm cha, làm mẹ quên lãng trách nhiệm giáo dục con cái n đã dn đến nhiều vấn nn thương m: một bộ phn thanh thiếu niên suy thoái đạo đức, bất hiếu, những hành động mất nhân tính, con giết cha, con đánh mẹ, con hành hạ cha mẹ Đ thiết lập mối quan hệ tốt đẹp giữa cha mẹ con cái, từ hàng nghìn năm trước, trong kinh Giáo th Thi-ca-la-việt (Sigalovada Sutra), Đức Phật đã đề cập đến năm nguyên tắc đạo đức (trách nhiệm) của cha mẹ đối với con cái nuôi nấng con khôn lớn giáo dục con nên người, giúp con nghề nghiệp, hướng con theo đường lành, dựng vợ gả chồng cho con trao của thừa tự cho con đúng lúc. Những lời dạy này cho chúng ta thấy, Đức Phật khuyên các bậc cha mẹ không chỉ chăm lo cho con về phương diện vật chất cả phương diện tinh thần, nhân cách đạo đức. Chỉ sự chăm sóc giáo dục toàn diện như thế mới mong giúp con trở thành những người con ngoan, trò giỏi, người công dân tốt, hữu ích cho hội.
 


Trong kho ng kinh Pht có rt nhiu bài kinh Đức Pht dy v đời sống, quan hệ gia đình. Đc biệt gođo Phật những quan niệm hết sức sâu sắc về đạo hiếu. Kinh điển Phật giáo bàn về hiếu hạnh thể liệt bộ như kinh Vu lan bồn, kinh Báo ân, kinh Thai cốt kinh Huyết bồn, kinh Hiếu tử, kinh Địa tạng, m pháp Mục Kiều Liên, kinh Thiện Sinh hay Giáo th Thi-ca-la-việt còn nhiều kinh sách khác. Chữ hiếu được bàn đến khắp kinh điển Phật giáo đến nỗi người ta cho rằng kinh điển nhà Phật kinh dạy về Hiếu. Đạo Phật đạo hiếu. Đọc kinh Phật giáo để trở thành người con hiếu thảo. Bất luận người tại gia hay xuất gia, đều được Đức Phật dạy cho biết cách hiếu thuận. Đạo hiếu chuẩn mực đạo đức đặc trưng cho quan hệ giữa cha mẹ con cái, tiêu chí của một gia đình an lạc, trên thuận dưới a. Đức Phật dạy rằng, m hiếu m Phật, hạnh hiếu hạnh Phật, cha mẹ tại tiền như Phật tại thế. Đức Phật so sánh thâm ơn dưỡng dục của cha mẹ sâu dày đến mức, hai vai cõng cha mẹ đi giáp vòng hòn núi Tu Di, trải qua trăm ngàn kiếp cũng chưa đền đáp được ơn đức của cha mẹ.
Theo tinh thần của Phật giáo thì người con hiếu người con nhiều hạnh lành khác hiếu nền tảng của muôn hạnh lành, sở của nhân thừa, nhịp cầu giải thoát. Kinh Phạm võng, quyển hạ nói rằng, hiếu pháp chí đạo, cho nên lấy hiếu làm giới.
Hiếu nghĩa con cái đối với cha mẹ phải tận tâm tận lực cung phụng, hầu hạ, cúng dường, còn gọi hiếu thuận, hiếu dưỡng. Nội dung của hiếu đo trong quan niệm Phật go được lý giải về nhiều phương diện.
Trước hết, đối với cha mẹ hai đấng sinh thành, đức Phật dạy bổn phận m con phải hiếu kính, phụng dưỡng, xem cha m như vị trời Phm Thiên(Đi-Tng-kinh-Vit-Nam, 1996a). Đạo Pht khẳng định biết ơn đền ơn cha mẹ hạnh hiếu đáng khen. Làm con không biết ơn đền ơn công lao dưỡng dục của cha mẹ người con bất hiếu. Người như vậy sẽ bị hội lên án, đời sống đạo đức suy giảm đời sống về sau sẽ bị thối đọa:Ai thành tựu thân m ác với cha mẹ, lời nói ác với cha mẹ, ý nghĩ ác đối với cha mẹ, không biết ơn, không trả ơn, sẽ tương xứng rời vào địa ngục hiện đời sẽ bị đau kh(Đi-Tng-kinh-Vit-Nam, 1996a). Hnh tri ân và đn đáp công ơn cha mẹ được xem như những cao quý nhất. Kinh Tăng chi còn cho biết sự hiếu dưỡng bi công tích đức cho cha mẹ là
 


một trong những yếu t chính để được tái sinh về c i trời thiên chúng sẽ được sung mãn và các Atula sẽ bị gim thiểu(Đi-Tng-kinh- Việt-Nam, 1996a). Kinh Hạnh phúc còn cho rằng, hiếu kính cha mẹ không chỉ một loại hạnh phúc còn hạnh phúc tốt lành nhất trong c hnh phúc của con người.
Người hiếu dưỡng cha mẹ đúng pháp không chỉ được gọi bc chân nhân, bậc thiện nhân cao quý còn được sánh ngang với Phạm thiên. Những gia đình được những người con hiếu thảo như vậy xứng đáng được cúng dường tán thán. Người con hiếu thảo sẽ nhn được quả phước: nếu gặp nn sẽ được thoát hiểm một cách an toàn, nếu giàu thì trọn hưởng gia tài không bị nghịch cảnh chướng duyên, nếu nghèo thì đời sống thanh sạch, trời người yêu mến, danh thơm xông khắp, không bị nợ nn, ít bệnh tật, được ng trưởng tui th. Trong hin tại thường được các bậc hin trí ngợi khen, kết giao tn thin, sau khi chết được sinh vào cõi Tri.
Thứ hai, Phật go lý giải sao phải hiếu kính cha mẹ. Kinh điển Phật giáo chỉ ra ba lý do: Một về phương diện thai dựng, cha mẹ khổ cực chín tháng cưu mang ba năm bồng ẵm (m Pháp Mục Liên); Hai về phương diện go dục, cha mẹ đã nuôi dưỡng chúng ta thành người tốt trong hội đưa ta vào đời (kinh Báo trọng ân cha m); Ba về phương diện đạo đức, cha mẹ hướng dẫn con cái đến với con đường chính pp của Đức Pht (kinh Tăng chi I).
Th ba, Phật go u n phương thức báo hiếu. Theo tinh thn Phật dạy, người Phật tử sẽ đền ơn cha mẹ trên hai phương diện vật chất tinh thn, tương thích với chính pháp.
V phương diện vật chất: Người con n báo đáp cha mẹ bng của cải vật chất, tiền bc, sự chăm sóc, thăm viếng lòng thương kính, phụng dưỡng cha mẹ bng tất cả kh năng của mình nhưng không phải với ý niệm “kể tháng kể ngày với bầu nhiệt huyết của sự kính thương lòng hãnh diện. Người Phật tử phải nhn thức được rằng, không thứ hạnh phúc nào to lớn quý báu bằng hạnh phúc khi cha mẹ còn sống với ta. Cha mẹ niềm phúc đức an lạc cho con cái. Cha mẹ một nửa hồn máu huyết của con cái. Cha mẹ đã đóng góp đời mình cho sự trưởng thành của con cái. Do đó, m con phải hiếu thảo phụng dưỡng kính thờ cha mẹ đúng pháp.
V phương diện này, kinh Phật dạy rằng, mọi tài sản vật chất mà
 


con cái đền đáp cho cha mẹ phải tài sản hợp pháp, chân chính, phát sinh từ đời sống chính mệnh chính nghiệp. Người nuôi dưỡng cha mẹ bằng các nghề bất chính, vi phạm pháp luật, tổn thương hnh phúc của người khác không những không phải ch báo hiếu đúng nghĩa còn thể tình gián tiếp đưa cha mẹ vào vòng nh hưởng của cộng nghiệp bất thiện ti lỗi.
Như vậy, hiếu hạnh trong đạo Phật được đặt trên định hướng đạo đức nhân quả. Quả báo của hiếu hạnh sẽ sự an lạc từ hành vi báo hiếu chân chính, làm cho cha mẹ được hạnh phúc thật sự. Tiêu chí đó được thể hin trong kinh Tăng chi như sau: “Này Mah- anam, người conhiếu với những tài sản mình nỗ lực có được, do sức mạnh của đôi tay, bằng những giọt m hôi đổ ra mt cách hợp pháp, cung kính, tôn trng, cúng dường cha m với thiện ý thì sẽ được cha m hoan h, thương tưởng và hằng cầu mong cho con sống lâu mạnh giỏi... vậy thì gia đình ấy chắc chắn sẽ thịnh vượng, không bao giờ suy giảm (Đi-Tng-kinh-Vit-Nam, 1996b).
Trong knh Giáo thọ Thi-ca-la-việt, Đức Pht nêu ra năm nguyên tắc đạo đức phù hợp chính pháp người con hiếu thảo phải thực hành để đền đáp công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ kính yêu phụng dưỡng cha mẹ, giúp cha m những việc cần m, giữ gìn gia phong truyền thng, bảo vệ tt các tài sản thừa tự chu đáo tang lễ khi cha mqua đời(Đi-Tng-kinh-Vit-Nam, 1991).
Theo Đức Phật, ngoài việc hiếu dưỡng cha mẹ về đời sống vật chất, còn phải hiếu dưỡng về tinh thần. Kinh Hiếu tử dạy rằng hiếu đơn thuần về phương diện vật chất sẽ giá trị giới hạn so với báo hiếu về phương diện tinh thần. Công ơn cha mẹ lượng, biên. Hiếu về phương diện vật chất, Phật giáo gọi hiếu thế gian cách thường tình ai cũng thể làm cũng chỉ mới đền đáp được phần nào công ơn cha mẹ nên mới chỉ tiểu hiếu, chưa phải tận hiếu. Tn hiếu thực sự hay đại hiếu theo quan niệm của Phật giáo phải hiếu về phương diện tinh thần còn gọi hiếu xuất thế gian, tức khun cha mẹ m nh, giữ giới, ăn chay, niệm Pht.
Hiếu thảo về phương diện m thức hay tinh thn đòi hỏi người con trước hết phải tự nỗ lực gạt bỏ những cặn nhơ, xa lánh những điều xấu xa, tội lỗi như tham, sân, si, không sát sinh, không trộm cắp, không dâm, không nói dối, không uống rượu, nỗ lực m việc
 


thiện đem lại lợi ích cho mình tha nhân, đem tiếng thơm về cho gia đình, để cha mẹ thể tự hào với mọi người. Nói chung hiếu thảo tự hoàn thiện đạo đức bằng việc thực hành ngũ giới thập thiện để cha mẹ an tâm, hoan hỷ, hãnh diện.
Mặt khác, người con hiếu thảo còn phải biết tích cực tập công đức để hồi hướng cho cha mẹ đã quá cố để đền đáp thâm ân. Kế đến, người con hiếu thảo còn phải đủ bn lĩnh, sẵn ng khéo o khun cha mẹ m c việc nh để giúp cha mẹ loại trừ c nghiệp ác. Nếu cha mẹ ương ngạnh, si mê kiến, hung hiểm bạo ngược, gây nhiều nghiệp dữ, chưa biết đến tam bảo thì phải khuyên can, hướng cha mẹ trở về con đường chính đạo, mở lòng bồ đề, tu thiền niệm Phật, làm cho cha mẹ thật sự an lạc (m pháp Mục Kiều Liên).
Dựa trên thuyết Nghiệp, Phật go chủ trương rằng đo hiếu đó mỗi người phải tự thực hiện, không thể trông nhờ ai khác bởi không ai thể làm thay việc báo hiếu. Ngay cả chư Phật cũng đích thân cúng dường lợi cha mẹ mình trong ba đời huống hồ chúng Phật tử. Bởi vậy, chúng ta phải tự mình báo hiếu đừng tưởng rằng đến mùa Vu lan thì ghi tên ông bà, tổ tiên gửi tiền xin lễ cầu siêu trong chùa xong hiếu sự. Như vậy, hiếu dưỡng cha mẹ chính những nguyên tắc đạo đức của Phật giáo hướng đạo cho sự tồn tại, hưng thịnh phúc lợi của gia đình Phật tử.
    1. Đo nghĩa vợ chng - nền tảng của hạnh phúc gia đình
Quan hệ vợ chồng quan hệ căn bản của mọi gia đình. V chồng hòa hợp thì hôn nhân hạnh phúc, gia đình bền vững, hưng thịnh. Quan niệm về tình yêu, hôn nhân, quan hệ chồng vợ được Đức Pht lý giải khá độc đáo và tiến b. Trong vic lp gia đình, người phụ nữ hay người đàn ông đều muốn tìm được một người bạn đời mà họ thương yêu phù hợp để thể xây dựng một gia đình hnh phúc, trọn kiếp bên nhau, dẫu rằng thực tế thì không phải gia đình nào cũng được an lạc. Mặctheo Phật giáo, vợ chồng do duyên nợ c thành hay nói đúng hơn nghiệp lực đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hai người đến với nhau để trở thành vợ chồng nhưng nói vậy không phải để mọi người buông xuôi thụ động, mc cho nghiệp xoay vần. Ý thức về sự hiện hữu của nghiệp nhân, nghiệp quả sẽ hướng đạo nam nữ Phật tử biết áp dụng lời Phật dạy trong cuộc sống gia đình để khc phục những lỗi lầm, nghiệp chướng của
 


mình, trở thành người chồng tốt hay người vợ tốt, từ đó xây dựng gia đình hạnh phúc. Phật giáo đề xướng hôn nhân dựa trên sự tìm hiểu lẫn nhau, hiểu biết về nhau giữa nam nữ, sự phù hợp tương đồng giữa hai người rồi mới đi tới hôn nhân chứ không phải hôn nhân do sự ép buộc hoặc những lý do không chính đáng. Hôn nhân này hạnh phúc hay khổ đau phụ thuộc vào phẩm chất đạo đức, nn cách của đôi vợ chồng. Trong quan nim của Pht giáo, hôn nhân một khế ước giữa hai người bình đẳng với nhau. Hôn nhân, gia đình được xây dựng trên nền tảng của sự hiểu biết cộng đồng trách nhiệm.
Trong Trường Bộ II, kinh Giáo thọ Thi-ca-la-việt, Đức Pht dy về đạo nghĩa vợ chồng rất giản dị thâm diệu. Theo Ngài, năm điều người chồng phải đối xử với người vợ yêu thương, tôn trọng vợ, quan tâm chăm sóc chu đáo đời sống vật chất lẫn tinh thần, chung thủy với vợ, giao quyền hành cho vợ, sắm đồ nữ trang cho vợ. Người vợ được chồng đối xử như vậy cũng phải lòng thương tưởng chồng theo năm ch: thương u, kính trọng chồng, trung thành với chồng, quảntốt nhà cửa, giữ gìn tài sản của chồng, khéo o nhanh nhẹn m mọi công việc.
Trong kinh Thiện sinh, Đức Pht ct nghĩa cụ thể hơn về điu này. Theo Đức Phật, phương Tây tượng trưng cho đạo vợ chồng. Người chồng tưởng phải tôn trọng vợ với năm bổn phận. Một lấy lễ đối đãi với vợ. Hai chuẩn mực nhưng không khắc. Ba tùy thời cung cấp y, thực. Bốn tùy thời tặng trang sức đẹp. Năm cùng vợ làm tốt việc nhà. Người vợ mẫu mực phải đối đãi chồng với năm bổn phận: Một siêng năng, thức dậy trước chồng. Hai nể chồng, trước, sau, trong, ngoài. Ba dùng lời hòa nhã, xây dựng. Bốn nhún nhường, ủng hộ điều hay. Năm hiểu chồng, cảm thông, chia sẻ.
Như vậy, theo tinh thần Phật giáo, người chồng trong gia đình phải đm nhn vai trò trụ cột cho vợ con nương tựa, thấu hiểu nỗi lòng của vợ, phải luôn biết thương yêu, đối xử công bằng chăm chỉ để kiến lập gia đình, đem lại sự kính thuận tinh tấn cho người vợ. V phía người vợ, phải tấm gương của lòng nhân từ bác ái, giọt nước cam lồ an ủi nỗi lòng chồng, biết hoàn thành bổn phận khéo o quản công việc gia đình, tạo chính khí cho sự hưng thịnh gia nghiệp của chồng. Việc hoàn thành những bổn phận trách
 


nhiệm đối với nhau được Đức Phật xem điều thiết yếu để tạo n một mối quan hệ hôn nhân hòa thuận một gia đình hạnh phúc. Đó cũng phép ứng xử hợp tình, hợp , nếp sống đạo đức lành mạnh, nhân tố tạo nên hạnh phúc gia đình. Có thể nói quan niệm về đo nghĩa vợ chồng của Phật go hàm chứa nhữngtưởng tiến bộ đi trước thời đi. Trong phép đi xử của vợ chồng, Đức Pht đã đưa ra những cải cách các nước trên thế giới phải ngàn năm sau mới thực hiện. Tư tưởng bình đẳng trong quan hệ vợ chồng điểm hết sức độc đáo trong cái nhìn của Đức Phật. Theo đó, vợ chồng phải tương kính ln nhau. Trong xã hi phụ quyn, người chồng thường tâm xem nhẹ nhân phẩm người vợ, chính vậy, Đức Phật nhấn mạnh đến sự tương kính trong mối quan hệ này. Tôn trọng vợ, người chồng phải giao quyền hành cho vợ vợ quyền được quảntài sản của chồng. Điều ý nghĩa nhất đây lời giáo huấn của Phật ứng dụng cho cả đôi bên: hôn nhân một quan hệ tương đồng cả về trách nhiệm lẫn quyền hành giữa hai người trong cuộc.
Đức Phật cũng quy định chung thủy nghĩa vụ chung của cả vợ chồng, coi đó điều tất yếu tối cần thiết trong việc gữi gìn hạnh phúc gia đình. Đây hẳn nhiên môt quan niệm tiến bộ đương thời khó học thuyết nào sánh được. Đ ngăn chặn nhị m, hạn chế nhng khổ đau có thể gây ra cho gia đình, Đức Pht đã dy người cư sĩ tại gia phải giữ giới cm “Kng tà dâm, nghĩa không được phép quan hệ tình dục với người không phải vợ hoặc chồng của mình. Điều này đã trở thành một giới điều căn bản của một người cư sĩ tại gia, dù theo truyền thống Nam hay Bắc tông Phật giáo, hay bất cứ tông phái nào thuộc Phật giáo xuất hiện sau Phật nhập Niết-bàn. Hiện thực ngày nay đã cho thấy rằng, việc thiếu chung thủy trong quan hệ chồng vợ một trong những nguyên nhân chủ yếu đưa đến sự tan vỡ của hôn nhân gia đình. Đức Phật dạy rằng, hnh phúc hôn nhân do hai vợ chồng cùng nhau xây dựng và gìn giữ, kng phải tự nhiên mà có. Trong cuộc sng gia đình luôn tiềm ẩn muôn vàn cạm bẫy khó khăn, vợ chồng cần những đức tính chung thủy, bao dung, cần mn, chân thành, nhẫn nại khiêm tốn, thương yêu tôn trọng lẫn nhau, trách nhiệm về đời sống của nhau, phải biết dung hòa, chia sẻ với nhau mới thể tạo lập được gia đình a hợp, hnh phúc. Điều này ng
 


ý nghĩa trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường hiện nay khi chủ nghĩa nhân đề cao cái tôi (tự ngã) thái quá, khi các gia đình Phật tử đang phải đối diện với nhiều vấn nn của đời sống mưu sinh và slan tràn của li sng thực dụng. Trong đo lý Vit Nam có câu phu thê nghĩa trng tình thâm, nhằm đề cao tình cm, đo nghĩa v chồng: no ấm, giàu sang thì cùng hưởng thụ, khó khăn, bệnh tật, hàn thì cùng nhau chia sẻ, gánh vác. Đó cũng chính ý nghĩa Phật giáo truyền dậy về quan hệ vợ chồng trong gia đình. Theo đó, nếu một cặp vợ chồng thể chia sẻ niềm vui nỗi khổ trong đời sống hàng ngày cho nhau thì họ sẽ tiếp thêm sức sống, đem lại hạnh phúc cho nhau, giảm thiếu tối đa những muộn phiền than n. Những vấn đề được đem ra bàn thảo cùng nhau sẽ mang lại cho họ niềm tin để sống cùng nhau trong sự hiểu biết yêu thương.
Những đổ vỡ, bất ổn trong đời sống gia đình dẫn đến đau khổ, bất hạnh, tình trạng ly dị, ly thân, ngoại tình, gây ảnh hưởng tiêu cực đến hội, làm giảm chất lượng cuộc sống đã khiến cho nhân loại sau hơn hai mươi lăm thế kỷ phải nhìn lại nhận ra những giá trị tích cực trong lời Phật dạy về quan hệ vợ chồng. Nam nữ Phật tử nếu thực hành đo nghĩa vợ chồng theo đúng tinh thn Phật giáo chăc chắn sẽ giữ vững được hạnh phúc lâu dài cho tổ ấm gia đình chng những trong hiện đời mà còn m cho người bn đời của mình mong muốn được gặp lại cùng chung sống trong kiếp vị lai.
    1. Mối quan h giữa các anh chị em trong gia đình
Trong truyn thống, các gia đình Á Đông đu là đại gia đình nhiều thế hệ đông con cháu, rất coi trọng mối quan hệ giữa các anh chị em trong gia đình, bởi một gia đình mẫu mực,tưởng trên thuận dưới hòa không chỉ được xây dựng trên nền tảng của hiếu, nghĩa còn sự thuận hòa của quan hệ anh em. Là thành viên của gia đình, mỗi người đều can dự vào hiện trạng của gia đình cần phải ý thức một điều, ấy khổ đau hay hạnh phúc của mỗi nhân trong gia đình đều ảnh hưởng đến các thành viên khác, nhất đối với những gia đình Á đông trong đó gia đình Việt Nam, những gia đình sự ràng buộc, gắn kết giữa các thành viên khá chặt chẽ. Hạnh phúc hay khổ đau không phải vấn đề của cá nhân nữa, của cả gia đình. Khi con cái khổ đau, anh em bất a thì cha mẹ cũng không thể hnh phúc, gia đình không thể an lạc.
 


Ngày nay, mâu thuẫn giữa các anh chị em trong gia đình đã không còn hiện tượng hiếm hoi, nhiều khi đưa đến những hậu quả hết sức thương m: anh chị em oán hn không nhìn mặt nhau, mưu hại nhau thậm chí chém giết lẫn nhau khiến không ít gia đình rơi vào bấn loạn. Những nguyên nhân chính dẫn đến mâu thuẫn, bất hòa trong mối quan hệ giữa các anh chị em trong gia đình thường do ganh tị, đố kỵ lẫn nhau sự bất bình đẳng về những quyền lợi vật chất cũng như tinh thần, đôi khi chỉ hơn thua nhau về năng lực, nhan sắc, sự thành đạt,… hoặc do lòng vị kỷ, thiếu sự thương yêu nhường nhịn.
Đ hóa giải những rắc rối, mâu thuẫn giữa anh chị em trong gia đình, theo tinh thn pháp Phật, c thành viên gia đình n thường xuyên quan tâm, chia sẻ giúp đỡ lẫn nhau để thiết lập tình cảm thân thiết với nhau, để hiểu nhau thương yêu lẫn nhau. Theo đó, để xây dựng cuộc sống gia đình ấm no, hạnh phúc về phương diện vật chất, mọi thành viên trong gia đình cần siêng năng tháo vát trong việc tạo ra tài sản, biết sử dụng tài sản một ch hợp lý quan tâm giữ gìn tài sản, không để tài sản thất thoát, tiêu tán. V phương diện tinh thần, cần thực hành pháp tu T lượng tâm: từ, bi, hỷ, xả. Xuất phát từ quan điểm vô ngã, Phật go khun mỗi người mở rộng phạm vi cái tôi bằng lối sống vị tha. V tha một nội dung của hạnh từ bi, đồng nghĩa với tư tưởng mình vì mi người, biết cảm thông chia sẻ nỗi đau của người khác, không chỉ lo riêng cho lợi ích của bản thân; bằng hành động, lời nói đồng cảm với các anh chị em trong gia đình. Đồng thời làm cho mọi người được vui vẻ (hỷ). H cũng tùy hỷ, tức bản thân ta cảm thấy vui theo niềm vui, hạnh phúc, sự thành đạt của những thành viên khác trong gia đình. Nếu các anh chị em trong gia đình biết tu tập tâm hỷ, tùy hỷ, thì sẽ không chỗ cho lòng ganh tị, đố kỵ. X nghĩa xả bỏ mọi định kiến, kng ôm lòng n hn. Trong gia đình đôi khi xy ra bt hòa, mâu thuẫn, thực tập m xả chính buông bỏ khi đã giải quyết xong rắc ri, không giữ lòng định kiến n hn. Thấu triệt lý vô ngã, con người mới thoát khỏi sự ràng buộc của cái tôi ích kỷ, tham lam chiếm hữu, vượt qua những giới hn hẹp hòi của cá nhân được thái độ sống an nhiên tự tại, hướng đến một lối sống cao đẹp đầy tình người, góp phn xây dựng cuộc sống gia đinh hnh phúc.
Thay cho lời kết, thể nói Phật giáo một tôn giáo quan tâm
 


nhiều đến cuộc đời con người hiện thực. Phật giáo đã mang tới cho nn loại một li sng đy minh triết. Triết lý nn sinh của Pht giáo đã ảnh hưởng sâu sắc tới suy nghĩ, tình cảm, đạosống của mi tầng lớp người dân Vit Nam. Trong bi cnh đua tranh của kinh tế thị trường hiện nay, khi mối quan hệ giữa cá nhân, gia đình hội ngày càng trở nên lỏng lẻo, sự giao cảm giữa cá nhân với cộng đồng ngày ng giảm sút thì việc tĩnh m suy xét về vấn đề gia đình trong mối liên hệ với triết lý nhân sinh Phật go sẽ cho ta thấy lại được ý nghĩa của cá nhân trong vai trò một thành viên của gia đình vai trò của gia đình vớicách một thành tố của hội. Trên tinh thần chung tay góp sức lợi lc qun sinh, vô ngã vị tha, Phật giáo ngày nay đang nỗ lực hàn gắn vết rạn trong mối quan hệ giữa con người với con người bng việc go dục tình thương u, sự cảm thông, chia sẻ, gắn bó. Tinh thn đoàn kết, tương thân tương ái của người Việt Nam hôm nay một phn nh hưởng không nhỏ từ Phật giáo. Với những giá trị nhân sinh cao đẹp, Phật go sẽ vẫn tiếp tục đồng hành cùng dân tộc nhân loại trong cuộc trường sinh.




 
***


 

Tài liệu tham khảo

Đi-Tng-Kinh-Vit-Nam 1991. Trường Bộ Kinh II. Kinh Giáo th Thi Ca La Việt. Nxb TP. H C Minh.
Đi-Tng-Kinh-Vit-Nam 1996a. Tăng Chi Bộ kinh I. chương Ba pháp, phm Sứ giả của Trời, kinh Ngang bằng với Phạm thiên. TP. H C Minh: Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam.
Đi-Tng-Kinh-Vit-Nam 1996b. Tăng Chi Bộ kinh III. TP. HC Minh: Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam.
Đi-Tng-Kinh-Vit-Nam 1999. Kinh Tiu b. Nxb TP HCMinh.
Lương, D. T. 1996. Đại cương văn hóa phương Đông. TP. HCM: Nxb Giáo dục.
Nguyễn, Đ. T. 1991. Lịch sử triết học phương Đông. III. Nxb thành phố HCM.
Nguyễn, H. H. 2004. Đại cương triết học Phật giáo Việt Nam. tập 1.
NXB KHXH.
Rahula, W. 2011. Tư tưởng Phật học. TP H C Minh: Nxb Phương Đông.
Thích, C. Q. 2009. Nghiệp Kết quả. Hà Nội: Nxb Tôn giáo. Thích, C. Q. 2013. Căn bản luật nhân quả. Nxb Hồng Đức.
Tuân-Úc. 2018. inhìn Phtgiáovinhngvnđhônnhân, giađình [Online]. Zing.vn. Available: https://news.zing.vn/cai-nhin- phat-giao-voi-nhung-van-de-hon-nhan-gia-dinh-post808381. html [Accessed].
Zanden, J. W. V. 1990. Sociology the Core. Mc. Graw Publising Com- pany.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây