75. HOẠT ĐỘNG TỪ THIỆN - XÃ HỘI CỦA LIÊN TÔNG TỊNH ĐỘ NON BỒNG

Thứ năm - 06/09/2018 07:57
Bài tham luận của Bùi Tấn Huy
75. HOẠT ĐỘNG TỪ THIỆN - XÃ HỘI CỦA LIÊN TÔNG TỊNH ĐỘ NON BỒNG
 
  1. Dẫn nhập
Suốt chiều dài lịch sử của mình, Phật giáo Việt Nam luôn đồng hành với vận mệnh của Dân tộc. Trong xã hội ngày nay, mầm mống của chủ nghĩa hưởng lạc, chủ nghĩa kim tiền, chủ nghĩa cá nhân có nguy cơ ngày càng lan rộng và cùng với nó là sự xuất hiện của sự rạn nứt các mối dây liên kết trong xã hội, tình trạng vô cảm với người khác, sự hoang mang về định hướng giá trị, cũng như xuống cấp của nhân phẩm con người. Tình trạng này càng đặt ra sứ mệnh về mặt văn hóa và đạo đức đối với Phật giáo. Vai trò của Phật giáo trong lịch sử có giữ được trong hiện tại hay không nằm ở việc Phật giáo nhìn nhận và góp phần giải quyết các hình thái mới của những vấn nạn này như thế nào. Tôn giáo được con người tạo ra và cũng tồn tại để vì con người. Phật giáo cũng như vậy. Thực hiện trách nhiệm xã hội, nâng cao đời sống tinh thần con người, hóa giải các mâu thuẫn xã hội, xây dựng một xã hội hòa bình, ổn định cũng chính là sứ mệnh của Phật giáo Việt Nam.
Tham luận đề cập đến hoạt động Từ thiện xã hội (TTXH) của một môn phái có tên Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng, từ đó cũng nêu lên những thành tựu và hạn chế, làm bài học kinh nghiệm cho hoạt động TTXH của Phật giáo, góp phần nâng cao chất lượng đóng góp của Phật giáo vào việc an sinh xã hội.  
  1. Hoạt động phổ tế của Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng (LTTĐNB)
Phổ tế hay việc cứu  tế rộng rãi chính là việc làm từ thiện. Từ thiện là một từ Hán Việt. Theo từ điển Hán Việt Thiều Chửu, từ thiện (慈善) là kết hợp giữa hai từ Từ (thương yêu, như là nhân từ
(thương người), từ tâm (lòng thương)) và Thiện (tốt lành). Vậy từ thiện có nghĩa là làm việc tốt từ lòng yêu thương (người). Những hành vi, việc làm tốt mà không xuất phát từ lòng thương thì không được gọi là “Từ Thiện”. 
Theo từ điển Bách khoa toàn thư Wekipedia, Từ thiện là một hành động trợ giúp người yếu kém. Hoạt động từ thiện có thể thông qua hình thức quyên góp, hiến tặng bằng tiền, vật phẩm, thời gian hay là cứu trợ nhân đạo, xóa đói giảm nghèo, chăm sóc sức khỏe hay là những hành động trợ giúp tinh thần như an ủi. Từ thiện có thể là hành động của cá nhân hay là một tập thể, cộng đồng, thông qua các Tổ chức từ thiện. Ở đây chúng ta đề cập đến tổ chức từ thiện của Phật giáo.
Trong sáu pháp tu Ba la mật hành Bồ Tát hạnh, thì bố thí là pháp tu đứng đầu. Bố thí là cơ hội giúp đỡ người tu tập tăng trưởng năng lực xả ly vật chất, xóa đi dần sự chấp giữ vật chất, để con người trở nên nhẹ nhàng hơn, cũng là hành động gieo duyên đối với các đối tượng khó khăn trong xã hội, hay là giúp họ phần nào xoa dịu đi mặc cảm, giúp họ tự tin hơn vào năng lực phấn đấu tạo ra của cải vật chất, nâng cao chất lượng cuộc sống của chính bản thân họ qua các bài pháp thoại ngắn.
Trân trọng đối tượng nhận quà, tặng với tấm lòng trân trọng thì buổi tặng quà trở nên có ý nghĩa cao quý hơn, ngoài việc ta làm cho người nhận cảm thấy được tôn trọng, ta còn gieo vào lòng họ một hình ảnh thể hiện lòng từ bi của nhà Phật, từ đó dễ dàng giáo hóa và đưa họ đi vào cuộc sống với đầy lòng yêu thương, giúp đỡ họ phấn đấu xây dựng cuộc sống tốt đẹp và có ý nghĩa hơn
2.1. Khái quát quá trình hình thành, phát triển của LTTĐNB
Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng được chính thức thành lập vào năm 1959. Từ năm 1955, Đức Sư ông Bửu Đức đã truyền trao pháp tu đến Tôn sư Thiện Phước Nhựt Ý, thuộc dòng Lâm Tế thứ 41. Từ đây, nhiều ngôi chùa đã được tiếp tục dựng lên, đánh dấu thời kỳ hình thành của LTTĐNB. 
Năm 1956, vị Đạo nhân đi về miền Đông, kinh qua nhiều gian truân thử thách, qua nhiều trú xứ, đến cầu pháp với Đại lão Hòa thượng Hồng Ân Trí Châu, được truyền pháp "Thiền Tịnh song tu" pháp phái Tổ đình Quốc Ân Kim Cang, của Tổ sư Nguyên Thiều Siêu Bạch tại Long Sơn cổ tự, xã Tân Ba, quận Tân Uyên. Lúc bấy giờ, Đạo nhân được ban đạo hiệu là Nhựt Ý Thiện Phước và cuối cùng đăng sơn núi Dinh, Bà Rịa, được Yết Ma Sen giao phó Tổ Đình Linh Sơn cho Đạo nhân làm Trụ trì. Vị đạo nhân đó  là Đức tôn sư Hoà thượng Thiện Phước Nhựt Ý, biệt hiệu Đức Mẫu Trầu Bồng Lai, người sáng lập môn phái Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng, Chứng Minh Đạo Sư Quan Âm Tu Viện (QATV), nay đã có 170 ngôi Tự, Viện, Tịnh xá, Tịnh thất, Đạo tràng thuộc môn phái trên cả nước, giáo hóa hàng ngàn Tăng ni, hàng chục vạn tín đồ Phật tử quy y tu tập theo pháp môn.
Như vậy, từ đầu thế kỷ XX, ở Nam Kỳ đã xuất hiện một pháp môn tu hành học đạo theo Tịnh Độ tông, do Đức Sư ông thượng Bửu hạ Đức khởi xướng. Đến năm 1955, Đức Sư ông  truyền dạy pháp môn này cho ngài Thiện Phước Nhựt Ý và vào năm 1959 ngài
Thiện Phước chính thức thành lập Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng tại vùng đất Đồng Nai, khu vực núi Bồng Lai.
Để phát huy truyền thống Đạo pháp và Dân tộc, Tôn sư thể hiện Chơn lý trước tiên qua các Phật sự khẩn hoang, truyền thừa pháp môn tu khai sơn pháp phái, trùng hưng chùa cũ, tu bổ chùa hư nền sập trở lại khang trang tốt đẹp.
LTTĐNB chủ trương theo tinh thần Phật giáo dấn thân mạnh mẽ, đem đạo vào đời bằng cách tổ chức các hoạt động TTXH như: thành lập cơ sở nuôi dưỡng cô nhi, người già neo đơn, trồng rừng bảo vệ môi sinh, mở lớp dạy học, tham gia công tác giáo dục, xây Nhà tình thương, đem ánh sáng cho người mù…
Bài viết đề cập đến hoạt động TTXH của môn phái, trường hợp đại diện tại trung tâm môn phái là Quan Âm Tu Viện, Biên Hòa, Đồng Nai.
2.2. Hoạt động TTXH của môn phái này từ sau 1975 
 a. Thành lập Phật giáo Từ thiện Xã hội Miền Đông  
Ngày nay, chúng ta biết đến Quan Âm tu viện không chỉ là một cơ sở tín ngưỡng tôn giáo thờ tự, tu học, đào tạo Tăng ni, làm việc và sinh hoạt trang nghiêm theo Tông chỉ của hệ phái LTTĐNB, mà còn biết đến đây là một tổ chức tôn giáo tiêu biểu của tỉnh Đồng Nai, có nhiều đóng góp to lớn cho xã hội, nhất là phong trào trồng cây gây rừng và công tác từ thiện (X. Những Ngôi Chùa Đồng Nai, Nxb. Văn hóa Tp. Hồ Chí Minh).
Kiến tạo một công đức lớn đầu tiên là Đức Tôn sư thành lập Phật giáo Từ thiện Xã hội Miền Đông giữa cảnh non bồng nước nhược, hàng hàng lớp lớp Tăng ni, Phật tử kính phục sự giáo hóa của Ngài, phát bồ đề tâm theo Tôn sư vừa tu vừa làm việc từ thiện, phục vụ xã hội. 
Năm 1961, Ngài thành lập cô nhi viện Phước Lộc Thọ, nuôi cô nhi quả phụ, trẻ em tàn phế, tâm thần, bệnh hoạn bẩm sinh... Cơ sở Phước Lộc Thọ còn đùm bọc, nuôi dưỡng gia đình con em Cách mạng, những gia đình trong và ngoài đạo Phật gặp khó khăn... Ngài đều tiếp độ cho vào Phật đạo, để vơi đi những nỗi khổ ở trần gian.  Đến năm 1975, đất nước hòa bình thống nhất, lúc này số cô nhi đã lên đến trên 300 em, Hòa thượng Tôn sư phải về trụ ở chùa Long Phước Thọ, ấp 5, xã Long Phước, huyện Long Thành và cùng Tăng ni chúng khẩn hoang khai rẫy trồng lúa, bắp, khoai mì tạo kinh tế tự túc cho chùa.
 
Qua bảng số liệu và biểu đồ chúng ta thấy rõ các hoạt động TT-XH trải dài qua các lĩnh vực như xã hội hóa giáo dục, quỹ lạo quà tặng, xây nhà tình thương, hỗ trợ thiên tai lũ lụt, nuôi dưỡng người già bệnh, khuyết tật, khiếm thị, chuẩn trị y học, chữ thập đỏ... còn có các công tác như nuôi dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng, thăm Trường Sa, ủng hộ quỹ vì biển đảo, thăm tặng quà Côn Đảo, liệt sĩ, tặng xe lăn, phương tiện đi học và tặng áo quan cho người nghèo…
Tuy nhiên số liệu ở công tác xã hội hóa giáo dục còn thấp, tặng vật nuôi, đào giếng nước và xây Nhà tình thương còn thấp nhiều hơn so với việc tặng quà người nghèo, mang tính chất hỗ trợ nhất thời.
Nuôi dưỡng người già khuyết tật ít sử dụng kinh phí, do chúng ta sử dụng nguồn lực sẵn có, tại chỗ và tối ưu hóa việc tự cung cấp nguồn lực, như thăm khám bệnh miễn phí do các y, bác sĩ Tp. HCM thực hiện mỗi tháng, sữa, thuốc do các vị Phật tử hỗ trợ…
Thiên tai lũ lụt là mảng chuyên trách tăng giảm không đều do nhu cầu của từng địa phương và năm có hay không ảnh hưởng thiên tai.
2.2.2. Hoạt động xã hội “Trồng cây gây rừng” bảo vệ môi sinh 
Hưởng ứng chủ trương trồng cây gây rừng của Nhà nước, vào năm 1984, Hòa thượng Tôn sư chỉ đạo Ni trưởng Huệ Giác hướng dẫn Tăng ni trồng cây gây rừng được trên 80 ha tại Long Thành và Bà Rịa; mở phòng thuốc bố thí cho bà con lao động nghèo ở địa phương và khu kinh tế mới Bàu Cạn…
Là những Phật tử đầu tiên tại Đồng Nai hưởng ứng lời kêu gọi trong Nghị quyết kỳ III của Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam về phát triển “kinh tế nhà chùa”, từ năm 1982 LTTĐNB  tham gia trồng cây gây rừng tại xã Long Phước, huyện Long Thành, xã Tân Thành, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Cho đến năm 1984, nhà Chùa trồng được 60 ha rừng, gồm bạch đàn, tràm bông vàng, cây điều.
Đến năm 1984, được Ủy ban Nhân dân tỉnh Đồng Nai, ngành nông lâm nghiệp tỉnh, huyện Long Thành, huyện Châu Đức đôn đốc hỗ trợ giao đất giao rừng cho nhà chùa 195 ha để tiếp tục trồng các loại cây bạch đàn, tràm bông vàng, sao, dầu, xà cừ… tại xã Long Phước, xã Phước Thái, huyện Long Thành, xã Thiện Tân, huyện Vĩnh Cửu, phường Bửu Hòa, thành phố Biên Hòa thuộc tỉnh Đồng Nai. Năm 1985, trồng 50 ha tràm, bạch đàn tại xã Hội Bài, huyện Châu Đức thuộc Bà Rịa - Vũng Tàu.
Kể từ năm 1991, sau khi chia tách địa giới hành chính thành lập tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đến nay trồng và tự quản lý chăm sóc, phòng cháy chống cháy 450 ha rừng, gồm nhiều loại cây có giá trị kinh tế cao, như sao, dầu, xà cừ, bạch đàn cao sản, tràm cao sản, dó bầu, bằng lăng…
Hiện nay ở Lâm Đồng công tác trồng rừng, hợp tác bảo vệ rừng của LTTĐNB với cơ sở địa phương khoảng 300 ha, Bình Phước khoảng 100 ha rừng.
Việc trồng rừng, ngoài phong trào tạo môi trường sạch và xanh cho xã hội, còn là phương tiện giúp ổn định kinh phí hoạt động từ thiện. Có được nguồn kinh phí ổn định, hoạt động nuôi trẻ mồ côi và người già mới có thể tiếp tục lâu dài, bền vững. 
2.2.3. Nuôi dưỡng người già neo đơn
Đây là hoạt động mà môn phong đã vận hành xuyên suốt cả một thời gian dài từ khi thành lập đến nay. Sự tận tụy chăm sóc từ khi nhập tự cho đến khi các cụ qua đời là cả một quãng thời gian gắn bó cả vật chất lẫn tinh thần, ngoài việc hỗ trợ thuốc men, cơ sở vật chất, chúng ta còn hỗ trợ cho các cụ về tâm linh và nâng đỡ tinh thần khi các cụ không gần gia đình, con cháu.
Sư cô Diệu Thông, năm nay 82 tuổi, sống ở Quan Âm Tu Viện gần 20 năm, cụ tâm sự: “Ở đây cụ cảm thấy ấm áp, khi có món ăn gì ngon như nước yến, hay sữa thì Sư bà Viện chủ đều chia đều cho các cụ, hay thăm hỏi thức ăn các cụ có mềm và dễ ăn không, Sư bà hay xuống bếp để cân nhắc chế độ dinh dưỡng cho các cụ nữa…”. Còn về hạn chế, cụ nêu ra vấn đề các cụ già khác ít lo tu tập mà hay nhớ gia đình… nên khuyên các cụ lo cho mình nhiều hơn.
Còn cô Diệu Lượng thì tâm sự: “Được Sư bà lo lắng đồng đều hết, lâu lâu thì cho các cụ đồ mặc, mỗi người một bộ, có dầu hay sữa đều để dành cho các cụ già”. Về mặt hạn chế, cụ nói nơi ở nên có không gian rộng rãi yên tĩnh hơn, vì chúng tôi ai cũng già…
  1. Những thành tựu và hạn chế trong hoạt động TTXH của LTTĐNB
3.1. Những thành tựu
Phỏng vấn sâu Hòa thượng Thích Giác Quang, Thường trực môn phong, Phó ban Trị sự kiêm Chánh thư ký GHPGVN tỉnh Đồng Nai, được cho biết có ba thành tựu lớn. Hoạt động TTXH tuy chưa trùm khắp được, vì nó còn còn trong phạm vi nội bộ, nhưng trước nhất thì môn phong hoạt động mạnh mẽ trong miền Đông, tiếp đến khi nhận được nhiệm vụ của GHPGVN thì đáp ứng trong Đồng Nai, thì môn phong hoạt động có hiệu quả. Tất cả tự viện môn phong đều là thành viên của công tác TTXH, cho nên hoạt động từ năm 1960 đến nay rất hiệu quả.
Thứ nhất, thực hiện được việc thành lập cô nhi viện Phước Lộc Thọ (nuôi dưỡng trên 200 em cô nhi, gia đình cách mạng, người già) giúp cho nhiều đối tượng vượt qua được các khó khăn trong thời điểm lịch sử từ năm 1960 - 1975, và bắt đầu từ 1975 trở đi thì do chính sách Nhà nước quản lý, đó là mảng thứ nhất.
Thứ hai, trong hoạt động từ thiện môn phong, mình còn lập được viện nuôi người già, có hai phân viện, một là ở tại Quan Âm Tu Viện (QATV), hai là ở Huỳnh Mai Tịnh Viện, dường như khi nói tới non núi ai cũng ngại, cũng sợ, nhưng khi hoạt động thì hiệu quả, tất cả các sinh hoạt về người già đều hiệu quả, vì khi người ta ở, người ta cảm thấy an lạc, từ người khổ đau nhất của xã hội, khi được đưa vào Huỳnh Mai Tịnh Viện, người ta cảm thấy an lạc, một cuộc sống tự tại, không phải “lo bảy lo ba”, thiếu đủ trăm bề, ở QATV cũng vậy, nuôi là do lòng từ tâm của chư tăng ni QATV, cộng với lòng từ tâm của các vị Phật tử. Ở đây, mình không nuôi người già để nhận tài trợ, cho nên khiến cho các vị ở đây tâm người ta bình lặng, không có khởi tâm mong chờ nhận tài trợ, đồng thời tổ chức cũng vậy, QATV không trông chờ đón nhận tài trợ, chỉ có sự phát tâm của quý Phật tử, thì đó là hai hiệu quả trong hoạt động từ thiện từ 1960 cho đến hôm nay, theo chủ trương đức Hòa thượng Tôn sư thượng Thiện hạ Phước, với sự thừa hành của Ni trưởng Thích Nữ Huệ Giác, cũng như Chư Tôn đức Tăng ni khác cũng quan tâm đến công tác từ thiện này.
Thứ ba, một mảng tiếp không kém phần quan trọng là, QATV đối với cộng đồng, đối với xã hội, với các nước bạn, không riêng tỉnh Đồng Nai, mà trang trải ra các tỉnh miền Đông và các tỉnh miền Trung; vượt ra các quốc gia có liên quan như Campuchia, Cuba, Nhật Bản, Ấn Độ, thì ở QATV vẫn thực hiện được những công tác này. Qua chủ trương của GHPGVN, cũng như chủ trương của Nhà nước CHXHCN Việt Nam, với các hoạt động từ thiện hải ngoại, còn ở địa phương thì tự do theo lời kêu gọi hỗ trợ của từng địa phương, do Ni trưởng là Trưởng ban Từ thiện. Trong quá trình này, Ni trưởng hoạt động hiệu quả, tất cả các Phật tử, công ty, nhà mạnh thường quân đều hướng về và cộng tác có hiệu quả, cho nên hoạt động rất tốt, như các công ty ở Tp. HCM, Bình Dương đều đến để hỗ trợ. Những vị đó cũng là Phật tử của QATV thôi, do đó công tác Ni trưởng làm có tính hiệu quả cao, là mang tính liên tục. Qua ba nhiệm kỳ Ban Trị sự khóa 5, 6, 7, tuy tới đây do tuổi cao Ni trưởng sẽ nghĩ, nhưng vẫn sẽ hoạt động theo chủ trương, lời kêu gọi của Nhà nước, nhất là QATV là thành viên của UBMTTQ tỉnh Đồng Nai. Những gì do Mặt trận khởi xướng, QATV đều sẽ làm theo, hướng tới Ni trưởng nghĩ, nhưng cũng giao cho Ni sư Kim Sơn, dù là nhà giáo, nhưng cũng năng động trong các hoạt động này. Ni sư cũng luôn hướng dẫn đại chúng và Phật tử hướng về những nơi nào cần thiết. Ni sư cũng tới đó ủy lạo, tặng quà và an ủi đồng bào, trong đó có quà thực phẩm và tặng ghe, giếng nước, trâu bò, nhà tình thương, phương tiện đi học, đó là ni sư cũng thay thế Ni trưởng làm những việc đó hiệu quả.
Hướng tới, các tỉnh miền Trung, Bắc cũng có sự giao lưu kết nối, khi có việc cần thiết thì cũng liên hệ hỗ trợ. Tỉnh lân cận xa như Rạch Giá, Kiên Giang, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa, và cũng theo chủ trương Nhà nước mà hỗ trợ ra các nước bạn như Campuchia, Lào, các trung tâm nhân đạo ở Ấn Độ, hoặc ủng hộ thiết thực ở vai trò kêu gọi giúp đỡ các nước bị thiên tai sóng thần ở Nhật Bản, Thái Lan. 
3.2. Những hạn chế cần khắc phục để từng bước hoàn thiện công tác TTXH
Cần giao lưu thực tiễn với xã hội để từ đó thấy vai trò của người tu sĩ không chỉ lo tu tập, mà họ còn có các hoạt động thiết thực, trong đó chủ đạo là các hoạt động thiện nguyện, TTXH, như là nói lên tấm lòng từ bi của nhà Phật.
Hạn chế chủ yếu là về kinh tế tài chính, chúng ta chủ động trồng rừng, nhưng không đáp ứng đủ, chỉ mang tính chất tương đối, chủ yếu kêu gọi các tự viện hệ thống, các công ty, xí nghiệp là Phật tử của QATV, để làm công tác TTXH. Mà công tác TTXH là vô biên, nếu nói nó yếu về mặt tổ chức cũng chưa đúng lắm, vì tấm lòng con người không có khuôn thước trong hành chính, cho nên người ta có bao nhiêu thì ủng hộ bấy nhiêu, tùy theo kinh phí và quy mô của mạnh thường quân. Do đó, nói hạn chế về tổ chức, thấy nó có khuyết, nhưng nó không có khuyết, vì chúng ta đáp ứng lời kêu gọi theo nhu cầu từng nơi chúng ta đến, đúng nhu cầu của mọi người, không đòi hỏi nó hoàn hảo như tổ chức hành chính, đó là cái khuyết. Từ thiện Phật giáo là vô biên, tấm lòng con người là vô biên, nhưng vật chất là hữu hạn, đó là những cái khuyết mà không nói là khuyết được, không thể đánh giá đúng được. 
Tới các đợt kêu gọi cao trào như thiên tai, lũ lụt, mất mùa hạn hán, trung thu người nghèo, tết người nghèo, thì chúng ta chưa kết nối hết, mà bao biện, hỗ trợ trùm khắp được, chúng ta là một trong các tổ chức phối hợp hành động.
Từ đó công tác TTXH thành một nề nếp chung của chư Tăng ni, Phật tử QATV, nói đến công tác này thì người ta phấn khởi và làm việc năng nổ, thiết thực, với tấm lòng chân thật, người ta không làm chi để nó bị thất thoát hết, mà người ta sẽ cộng tác và góp phần thêm vào, mặc dù là tổ chức rộng rãi, nhưng mọi người cố gắng hoàn thiện nhất, để đáp ứng kịp thời, không chậm trễ, thất thoát, mà cống hiến nhiệt tình, mặc dù không có quỹ, hay quản lý về ngân quỹ, nhưng nó trở thành tấm lòng chân thật của Tăng ni Phật tử, và hạn chế luôn luôn được khắc phục cách tốt nhất, bởi tấm lòng của Tăng ni, Phật tử.
Theo Ni sư Kim Sơn - Trưởng Phân ban Đặc trách ni giới Tp.
Biên Hòa, là người luôn đồng hành, hướng dẫn các hoạt động từ thiện xã hội, thì chúng ta lập được các cô nhi viện hoạt động chính thức, như cơ sở bảo trợ xã hội dân lập Hoa Sen Trắng, hoạt động rất hiệu quả và các cô nhi viện đang hoạt động, nhưng chưa hợp thức hóa về mặt giấy tờ theo chủ trương của Nhà nước và về hoạt động TTXH thì cần khắc phục các mặt như đồng bộ hóa và thống nhất các hoạt động TTXH từ cấp tỉnh cho đến các quận huyện, cùng thực hiện quán triệt các mục tiêu cần thiết và thiết thực, như xây dựng Nhà tình thương, sửa chữa nhà, đào giếng hay các công cụ hỗ trợ lao động cho người dân, kết hợp chặt chẽ với các ban ngành nhà nước có liên quan.
Cơ quan ban ngành từ thiện xã hội Trung ương cần quán triệt với cơ quan ban ngành địa phương, Ban TTXH tỉnh/thành phố kết hợp các ban TTXH quận/huyện mở các trường đào tạo nghề tư thục, trường đào tạo nghề do Giáo hội Phật giáo tổ chức điều hành, do so với mặt bằng chung giữa các tôn giáo bạn thì Phật giáo chưa chú trọng việc hỗ trợ đào tạo nghề, mà thật ra hỗ trợ đào tạo nghề là các hỗ trợ có hiệu quả bền vững và lâu dài nhất, từ đó hỗ trợ cho các con em gia đình khó khăn thuộc diện ưu tiên, hay các gia đình có công, gia đình nghèo khó có nhu cầu.
Chuyển đổi mạnh mẽ, nâng tầm TTXH thành công tác xã hội, đào tạo nguồn nhân lực cho ban TTXH, trao quyền cho người sử dụng nguồn lực, để tác động sâu hơn hơn vào đời sống xã hội của người dân nghèo, hỗ trợ cho các thành phần yếu thế khác trong xã hội như: 
TTXH Phật giáo mạnh mẽ nhưng chưa thống nhất từ Trung ương đến địa phương, đó là mặt yếu nhất của hoạt động TTXH, do đó cần quán triệt mạnh mẽ chủ trương thành lập các nguồn quỹ của Ban TTXH theo từng địa phương, để chủ động trong công tác TTXH, không còn phụ thuộc nhiều vào sự hỗ trợ của Phật tử. Từ đó sử dụng có hiệu quả các nguồn quỹ của ban TTXH như: hỗ trợ học bổng toàn phần hay bán phần để các em sinh viên tiếp tục được học tập hay học nghề, hướng nghề cho tương lai, hỗ trợ học nghề cho người mù, khuyết tật tại địa phương….
Phân bổ có hiệu quả và cân bằng nguồn Tăng ni trẻ qua đào tạo ở các trường trung/cao cấp Phật học về hỗ trợ các địa phương sâu hay các vùng xa, hỗ trợ cho đồng bào Phật tử vùng sâu xa tiếp cận được các nguồn lực hỗ trợ về vật chất lẫn các phương tiện giáo dục khác, như mở lớp học, xây dựng cầu đường, gắn đèn đường cho địa phương nơi đông người, tránh tình trạng nơi được phân bổ nhiều nguồn, nơi thiếu thốn.
Cần thay đổi tư duy trong cách trao tặng quà từ thiện. Chuyển đổi các hoạt động tặng quà từ thiện thành hỗ trợ vốn làm ăn lâu dài cho bà con khó khăn, đó là hoạt động thiết thực, “trao cần câu, hơn trao con cá” tránh cách “cho”  làm người “nhận” thêm thụ động, mang tâm lý chờ đợi, ỷ lại vào các đoàn từ thiện, nâng tầm hỗ trợ quà tặng thành những dự án hỗ trợ lâu dài, để người dân hưởng lợi lâu dài từ dự án đó.
4. Kết Luận
Từ những họat động trên cho thấy nhận định “Phật giáo là tôn giáo bi quan yếm thế, không tạo ra của cải vật chất, không khuyến khích con người tạo ra của cải vật chất hay tham gia sản xuất kinh tế” hoàn toàn sai lệch. Vì mục đích tối hậu và căn bản nhất của Phật giáo là giác ngộ, giải thoát như hàm nghĩa của mục đích đó chính là ý thức được việc mình làm, chủ động làm chủ trong cuộc sống, không chủ trương sở hữu hay làm giàu bằng các con đường tiêu cực phi pháp, mà làm giàu và sở hữu tài sản một cách chân chính, do chính sức lao động trí tuệ hay do lao động tay chân của mình tạo ra, không mang tính chất cưỡng đoạt hay chiếm đoạt phi pháp. Từ đó đem các tài sản, vật chất ấy giúp đỡ, hỗ trợ xã hội bằng nhiều cách khác nhau với một tinh thần trách nhiệm xã hội cao cả, hành động vì lợi ích của cộng đồng, và lợi ích chung cho tất cả mọi người, mọi tầng lớp, mọi tôn giáo, không phân biệt, trên tinh thần bình đẳng, vị tha.
Qua bài tham luận, phần nào đưa ra các dữ kiện, dữ liệu và các công tác hoạt động TTXH của một môn phái Phật giáo, và đưa ra các nhận định, định hướng cần thay đổi, bổ sung trong hướng hoạt động sắp tới để phần nào hoàn chỉnh, cũng như hoạt động một các có hiệu quả nhất, sử dụng nguồn lực mang tính chất ổn định lâu dài hơn là hỗ trợ nhất thời, cũng như đề xuất nên chú trọng chuyên trách các lĩnh vực nào, để tạo ra thế mạnh và ổn định cho người hưởng lợi từ các hoạt động TTXH.
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
  1. Thích Thắng Hoan (2016) Những đặc điểm của văn hóa Phật giáo trong văn hóa Việt Nam. 
  2. Trần Hồng Liên (2010) Tìm hiểu chức năng xã hội của Phật giáo Việt Nam, Nxb. Tp. HCM.
  3. Nhiều tác giả (2002) Lịch sử các chùa trong tỉnh Đồng Nai, Nxb. Văn hóa Thông tin.
  4. Thích Giác Quang, (2016) “Hoa Sen bên núi xưa”, Nxb. Phương Đông.  
  5. Thích Giác Quang, (2016) Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng 57 năm hình thành và phát triển, Nxb. Hồng Đức.
  6. http://giaohoiphatgiaovietnam.vn/tin-tuc/bao-cao-tong-ketcong-tac-phat-su-nam-2016-cua-giao-hoi-phat-giao-viet-nam-2562   
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây