49. CÔNG TÁC TỪ THIỆN CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM HIỆN NAY - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP (QUA THỰC ĐỊA TẠI CHÙA BỒ ĐỀ, QUẬN LONG BIÊN, HÀ NỘI)

Thứ năm - 06/09/2018 01:47
CÔNG TÁC TỪ THIỆN CỦA PHẬT GIÁO....của PGS. TS. Trần Thị Kim Oanh  

Dẫn nhập
Tham gia các hoạt động từ thiện xã hội là một phần không thể thiếu của mọi tôn giáo, trong đó có Phật giáo. Với nguyên lý "Phụng sự chúng sinh là cúng dường chư Phật" và với tinh thần từ bi, nhân ái, nhập thế, Phật giáo trong hơn hai nghìn năm đã làm nên “máu thịt” Việt Nam. Phải nói rằng, ngay từ đầu du nhập Phật giáo Việt Nam đã đồng hành cùng dân tộc vượt qua mọi gian nan khó khăn để bảo vệ và xây dựng Tổ quốc. Nhằm thực hiện được ước nguyện đó, Phật giáo đã có những đóng góp quan trọng vào công tác từ thiện xã hội (XH) ở Việt Nam trong những năm qua và cả hiện nay. Nên đã có hàng nghìn trang giấy viết về chủ đề này nhưng vẫn chưa bộc bạch được hết. Thông qua Hội thảo với chủ đề “Phát huy vai trò Phật giáo tham gia công tác xã hội, từ thiện, người viết có một mong muốn nho nhỏ là từ một vấn đề được đúc kết và trải nhiệm thực tế tại một địa phương đó là chùa Bồ Đề, quận Long Biên, Hà Nội sẽ cho ta một góc nhìn khách quan để rồi cùng chung sức khắc phục những vấn đề đặt ra trong công tác từ thiện XH của Phật giáo Việt Nam hiện nay. Do đó, bài viết tập trung vào 2 nội dung chính: 1. Thực trạng công tác từ thiện của chùa Bồ Đề trước kia và hiện nay; 2. Nguyên nhân, giải pháp và khuyến nghị.
Nội dung 
  1. Thực trạng công tác từ thiện của chùa Bồ Đề
Phải nói rằng, một trong những biểu hiện nổi bật của đạo Phật có ảnh hưởng nhiều đến các tu sĩ Việt Nam trong lịch sử cũng như hiện tại đó là Tứ vô lượng tâm: “Từ, Bi, Hỷ, Xả”. Chính cái Tâm này mà người tu hạnh Bồ Tát không còn phân biệt kẻ lành người dữ, kẻ thiện người ác, nghĩa là luôn “thường hằng bình đẳng” và rồi cùng với sự nỗ lực của tập thể Tăng, Ni, Phật tử, mà công tác từ thiện XH của Phật giáo quận Long Biên nói chung, của chùa Bồ Đề nói riêng đã đặt được những thành tựu khả quan nhất định.
1.1. Về thành quả hoạt động từ thiện XH tại chùa Bồ Đề 
Với sự vận động của các cấp chính quyền đặc biệt là của Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phật giáo Việt Nam nói chung, Ban Trị sự Phật giáo quận Long Biên nói riêng mặc dù với số lượng Tăng, Ni còn khiêm tốn nhưng đã không ngừng hưởng ứng các đợt phát động phong trào làm công tác từ thiện XH như: mỗi khi có vấn đề thiên tai, dịch họa xảy ra, ngay lập tức Phật giáo quận Long Biên có công văn vận động Ban Từ thiện Xã hội của quận đứng ra kêu gọi các Tăng ni, Phật tử các chùa, các nhà hảo tâm đóng góp tiền, hàng, vật phẩm để gửi đến giúp đỡ. Việc làm nhanh, kịp thời đó đã giải quyết được ngay những nhu cầu cấp thiết lúc đó của người gặp nạn: cơm ăn, nước uống, quần áo mặc, nơi ở... Và xây dựng nhà tình thương, hỗ trợ giáo dục, nuôi dạy trẻ mồ côi, người già không nơi nương tựa, các trẻ khuyết tật, bệnh xã hội HIV, hiến máu nhân đạo, an sinh xã hội, phục vụ nhu cầu tín ngưỡng địa phương. 
Qua phỏng vấn tại địa phương thì được biết, Ban trị sự GHPGVN quận Long Biên đã đóng góp hàng trăm triệu đồng tham gia các hoạt động từ thiện xã hội, ủng hộ người nghèo, thăm hỏi gia đình chính sách, gia đình có người nhiễm HIV, gia đình thuộc diện khó khăn. Ngoài ra, Ban Trị sự GHPGVN quận Long Biên còn quan tâm đến đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu vùng xa. Vừa qua, Ni giới của quận đã ủng hộ hơn 80 triệu đồng để xây dựng trường cho học sinh nghèo tỉnh Lai Châu... Phật tử trong đạo tràng của các chùa còn tham gia công tác từ thiện như: nấu cháo cho bệnh nhân nghèo tại các bệnh viện, cưu mang những người nghèo, người nghiện hút, bệnh nhân nhiễm HIV/AID... Chỉ tính riêng chùa
Bồ Đề “chùa Bồ Đề có hai đạo tràng là Hội Pháp Môn Tịnh Độ Hội Pháp Môn Tu Thiền. Hội Pháp Môn Tịnh Độ gồm các Sư Ni trong chùa và Phật tử, số lượng khoảng từ 300 - 400 người (độ tuổi tham gia từ 40 - 70 tuổi). Lịch sinh hoạt chủ yếu vào các ngày mồng Một, ngày Rằm và các buổi tối. Hội Pháp môn Tu thiền có khoảng 300 Phật tử, lịch sinh hoạt vào các ngày cuối tuần (thứ bảy, chủ nhật) và các ngày cuối tháng (29, 30, mồng Một). Đạo tràng Pháp môn Tu thiền gồm những người trẻ (từ 20 - 40 tuổi).
Đặc biệt, chúng tôi muốn nói đến công tác nuôi dạy trẻ mồ côi trong những năm gần đây tại chùa Bồ Đề. Cơ sở này được thành lập vào năm 1989, do sự phát động phong trào của các cấp trung ương và địa phương, đốm lửa đầu tiên của cơ sở từ thiện này là do tâm Bồ Đề của Ni sư Thích Đàm Lan nuôi dưỡng có khoảng 10 trẻ mồ côi cả cha lẫn mẹ, sau  tăng lên dần là 15 trẻ. Lúc đó nhà chùa gặp rất nhiều khó khăn về mặt kinh tế, nhưng với lòng vị tha “Dù xây chín bậc phù đồ, không bằng làm phúc cứu cho một người” nên các Ni đã chắt chiu từng đồng để nuôi các trẻ. Không quản khó nhọc nhà chùa đã thường xuyên tiếp nhận các trẻ, người già yếu không nơi nương tựa, những người lầm lỡ cần nương vào chùa để sinh nở, số lượng ngày một tăng, có thời điểm lên tới 226 người. Đặc biệt những trẻ ở được nuôi ở đây có đủ các loại như: khỏe mạnh bình thường, đau ốm do suy dinh dưỡng, mắc bệnh xã hội, bệnh nan y bẩm sinh… Nhìn chung các hoạt động này được chính quyền và người dân ủng hộ, góp phần không nhỏ trong việc cùng địa phương quan tâm thực hiện chính sách an sinh xã hội trong quận, thể hiện mối quan hệ tốt đẹp giữa đạo và đời. Phải nói rằng những kết quả tích cực đạt được trong công tác từ thiện xã hội tại chùa Bồ Đề là do:
Thứ nhất: Sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước đối với công tác vận động chức sắc tham gia công tác từ thiện XH. 
Thứ hai: Sự quan tâm của cấp ủy, chính quyền tại địa phương cũng như Trung ương Giáo hội Phật giáo VN trực tiếp là Ban Từ thiện. 
Thứ ba: Công tác từ thiện XH của Phật giáo bước đầu đã được các cơ quan, ban, ngành có liên quan như Ban Tôn giáo, Ban Dân tộc, Mặt trận Tổ quốc, lực lượng vũ trang… quan tâm tiến hành với những nội dung, hình thức phong phú, đa dạng, thiết thực, phù hợp với tình hình thực tiễn của địa phương và chức năng nhiệm vụ của từng lực lượng tham gia. 
Thứ tư: Đội ngũ làm công tác tôn giáo nói chung và công tác từ thiện XH của Phật giáo nói riêng được quan tâm quy hoạch, đào tạo, nâng cao trình độ về mọi mặt, nhất là kiến thức về công tác từ thiện, vững vàng, tận tụy, có những sáng tạo nhất định trong công việc bước đầu đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ đặt ra.
Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đã đạt được thì công tác từ thiện xã hội tại chùa Bồ Đề vẫn còn những hạn chế nhất định.
1.2. Về hạn chế hoạt động từ thiện XH tại chùa Bồ Đề 
Thứ nhất, công tác từ thiện xã hội tại chùa Bồ Đề mới chỉ phát triển mạnh ở bề nổi, chưa thực sự phát triển theo bề sâu.
Ví như những việc làm cứu trợ nhanh, kịp thời nhưng chỉ là biện pháp giải quyết tình thế những nhu cầu cấp thiết lúc đó của người gặp nạn: cơm ăn, nước uống, quần áo mặc, nơi ở... Chứ chua có lộ trình để họ có một nơi ở, một nghề nghiệp ổn định cho cuộc sống, có nguồn thu nhập thường xuyên, có hướng tương lai cho các trẻ khi trưởng thành, có chế độ dinh dưỡng,…
Thứ hai, công tác từ thiện tại chùa Bồ Đề, cách thức làm còn manh mún, tự phát, chưa hệ thống, bài bản và thật sự có chất lượng.
Cơ sở nuôi dạy trẻ mồ côi tại đây là tự phát chủ yếu nuôi các trẻ xuất phát từ tình thương, lòng nhân ái với quy mô nhỏ nên điều kiện chăm sóc trẻ chưa thực sự được đảm bảo có chất lượng, chủ yếu trong chùa có gì thì ăn nấy hoặc nhờ cậy vào sự quyên góp, giúp đỡ nuôi nấng của các Phật tử hay đến chùa hay người dân quanh chùa… Đến khi đông quá thì tình trạng quá tải, điều kiện cơ sở vật chất không đủ đáp ứng, đội ngũ làm công tác chăm sóc lại thiếu tính chuyên nghiệp…
Thứ ba, công tác quản lý các hoạt động từ thiện của chùa Bồ Đề chưa chặt chẽ, chuyên nghiệp.
Qua khảo sát các cơ sở từ thiện của Phật giáo trên địa bàn quận Long Biên, Hà Nội cho thấy công tác quản lý các hoạt động từ thiện của Phật giáo tại đây chưa thật sự chặt chẽ và chuyên nghiệp. Những người đứng đầu cơ sở từ thiện đôi khi cũng không nắm bắt được hết các hoạt động diễn ra ở cơ sở mình. Họ giao các công việc cụ thể cho các cá nhân khác thực hiện (có khi là Ni có khi là Phật tử…), tuy nhiên lại không kiểm tra, giám sát được chặt chẽ, thường xuyên. Có nhiều lý so dẫn đến sự lỏng lẻo trong quản lý (sẽ phân tích rõ hơn ở phần sau) nên đã dẫn đến nhiều hệ lụy đáng tiếc. Mặc dù với tinh thần từ bi của nhà Phật hòa quyện với tinh thần “tương thân tương ái” của người Việt nên hầu hết các vị đều có tinh thần hướng thiện, làm việc thiện giúp đỡ mọi người đều không tính toán, vụ lợi hay những người Phật tử đến với các cơ sở từ thiện đều là những người thấm nhuần tinh thần Phật pháp, tự nguyện làm điều thiện, tuy nhiên sự quản lý không chặt chẽ đã tạo điều kiện cho nhiều kẻ xấu trà trộn, nhiều đối tượng lợi dụng danh nghĩa làm từ thiện để chuộc lợi cá nhân. Ví như hiện tượng bảo mẫu ở cơ sở nuôi dạy trẻ mồ côi này đã có các hành động: bớt khẩu phần ăn của các cháu, “đưa trẻ ra ngoài”,… mà người quản lý không hề hay biết.
Thứ tư, công tác từ thiện tại chùa Bồ Đề quận chưa có sự phối hợp, liên kết chặt chẽ với các cấp chính quyền địa phương và các cở sở từ thiện Phật giáo khác trong nước, đặc biệt chưa có nhiều sự hỗ trợ từ phía Giáo hội Phật giáo Trung ương.
Do nhiều nguyên nhân khác nhau: chủ quan lẫn khách quan từ cả hai phía, công tác từ thiện của Phật giáo tại đây chưa thật sự phối hợp chặt chẽ với các cấp chính quyền địa phương để nhận được sự ủng hộ, tạo điều kiện tối đa để công tác từ thiện đạt được kết quả tốt nhất. Trong hoạt động bảo trợ xã hội, trong thời gian vừa qua, do thiếu hiểu biết, thiếu sự phối hợp với các ban ngành địa phương nên đã có hiện tượng cơ sở nuôi dạy trẻ mồ côi, khuyết tật thuộc tổ chức tôn giáo bị lợi dụng, dẫn đến các hoạt động vi phạm pháp luật. Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín của các tổ chức tôn giáo nói chung và các hoạt động từ thiện xã hội nói riêng. 
  1. Nguyên nhân, giải pháp và khuyến nghị
 2.1. Nguyên nhân
Thứ nhất, xét về mặt vai trò của các cấp chính quyền: 
Về phía các cấp chính quyền, có nhiều nguyên nhân, nhưng theo tôi nguyên nhân chính là do trình độ nhận thức, năng lực quản lý, trình độ chuyên môn hoặc rào cản tâm lý nên chưa thực sự nhìn nhận đúng về vai trò của Phật giáo hoạt động công tác từ thiện xã hội vì thế chưa có sự quan tâm sát sao đúng mức đến các cơ sở đang làm hoặc nếu có quan tâm, quản lý thì cũng mới chỉ dừng ở mức độ phát động phong trào mà chưa thực sự đi hướng dẫn, theo dõi công việc, nên khi có vấn đề xảy ra, cần đề nghị hoặc xin phép thì các cấp chính quyền còn lúng túng trong việc giải quyết, hoặc giải quyết chưa kịp thời. Về vấn đề này, Hòa thượng Thích Quảng Tùng đã phát biểu: "Chính quyền một số địa phương chưa sâu sát thông cảm với việc làm từ thiện của Giáo hội để tạo điều kiện thuận duyên cho công tác này nên hiệu quả chưa cao". 
Hơn nữa, từ thực tiễn hoạt động và thực trạng công tác từ thiện trên địa bàn quận Long Biên cho thấy, một bộ phận cán bộ, kể cả những cán bộ làm công tác từ thiện chưa nhận thức đúng, đầy đủ về Phật giáo và vai trò của chức sắc trong Phật giáo. Cho nên, trong tiếp xúc, đối thoại với họ còn e dè. Một số cán bộ chưa  có nhận thức đúng đắn về uy tín, ảnh hưởng của hàng ngũ chức sắc đối với tín đồ cũng như vị trí, vai trò của họ đối với sự ổn định và phát triển của địa phương, ít quan tâm đến tâm tư, nguyện vọng, ý kiến đóng góp của chức sắc trong công tác từ thiện. Trong quá trình tiến hành công tác từ thiện còn để xảy ra sơ hở, thiếu sót, đụng chạm đến những vấn đề nhạy cảm trong tôn giáo do hạn chế về trình độ nhận thức, năng lực chuyên môn, sự am hiểu về giáo lý, giáo luật, lễ nghi, phong tục tập quán của địa phương, hạn chế trong kỹ năng giao tiếp, không thật sự nắm vững quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước...
Thứ hai, xét về phía Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam và cơ sở địa phương: 
Người tu sĩ Phật giáo, người Phật tử thấm nhuần tư tưởng, giáo lý Phật giáo, luôn thực hành và làm theo giáo lý Phật giáo. Trong giáo lý Phật giáo, Lục độ lại đặt hạnh Bố thí lên hàng đầu nên họ luôn sẵn sàng làm điều thiện ở bất cứ nơi đâu và trong hoàn cảnh nào cho phép. Tuy nhiên, chủ thể làm công tác từ thiện trình độ nhận thức còn hạn chế lại chưa từng được đào tạo bài bản, được hướng dẫn cụ thể, nên làm việc chủ yếu cảm tính, tình thương nên công tác từ thiện ở chùa còn chưa chuyên nghiệp, mặc dù có kết quả, nhưng hiệu quả công việc thì lại thấp. Một người tu sĩ Phật giáo luôn sẵn lòng đón nhận, cưu mang mọi hoàn cảnh khó khăn, cơ nhỡ nhưng khi đã đón nhận họ về lại lúng túng trong khâu tổ chức, sắp xếp một cơ sở từ thiện theo đúng chuẩn. Vì vậy, mọi việc làm vẫn chỉ mang tính chất tự phát: đói thì cho ăn, lạnh thì cho mặc, không có nhà thì cho nơi ở,… Lực lượng Tăng ni, Phật tử trực tiếp tham gia làm các công việc từ thiện còn mỏng, lại hạn chế về chuyên môn, thiếu tính tổ chức nên dẫn đến cảnh lộn xộn, thiếu tính hệ thống…
Giáo hội Phật giáo Việt Nam chưa thực sự có lộ trình, kế hoạch cho một ngành công tác từ thiện bài bản, quy mô, chuyên nghiệp. Chưa thật sự chú ý đến đầu tư phát triển nguồn nhân lực làm công tác từ thiện có trình độ cao để khai thác, phát huy hết khả năng, huy động được mọi nguồn lực để công tác từ thiện đạt hiệu quả cao.
2.2. Giải pháp và khuyến nghị
Thứ nhất, từ phía các cấp chính quyền: 
Các cấp chính quyền cần nâng cao nhận thức về vai trò của hoạt động từ thiện của các tổ chức tôn giáo nói chung, Phật giáo nói riêng. Cần nhìn nhận nó như là một nguồn lực cần phát huy để góp phần phát triển, ổn định xã hội. Từ đó, cần thật sự quan tâm sâu sát hơn nữa đến các hoạt động từ thiện của các tôn giáo trên địa bàn của mình. Sẵn sàng đón nhận sự hợp tác và tích cực hỗ trợ, tạo điều kiện, kịp thời giải quyết kịp thời các tình huống.
Chính quyền Trung ương cần hoàn thiện hành lang pháp lý về hoạt động từ thiện và có sự tuyên truyền, hướng dẫn rộng rãi đến mọi người dân trong xã hội nói chung, các tổ chức giáo hội, tín đồ của các tôn giáo nói riêng, trong đó có Phật giáo để người làm từ thiện nắm vững được quan điểm, chính sách, các điều luật về hoạt động từ thiện. Hướng dẫn họ tỉ mỉ cách thức làm từ thiện để thực sự đem lại hiệu quả.
Hỗ trợ về cơ sở vật chất (ví dụ như mặt bằng xây trường học, bệnh viện...), đơn giản hóa các thủ tục hành chính để các tôn giáo nói chung, Phật giáo nói riêng thuận lợi cho các hoạt động từ thiện. Khích lệ về mặt tinh thần bằng các biện pháp như cổ vũ, động viên, khen thưởng, nêu gương các việc tốt,...
Thứ hai, về phía Giáo hội Phật giáo Việt Nam:
Đối với Giáo hội Phật giáo Việt Nam: Theo điều 20, 21 Nội quy Ban Từ thiện Xã hội Trung ương, Hiến chương của Giáo hội, ngành Từ thiện Xã hội phải được thu về một mối và dưới sự giám sát của Giáo hội, không thể tách rời và hoạt động thiếu sự giám sát của Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Điều đó có nghĩa Giáo hội Phật giáo Việt Nam có vai trò to lớn trong việc định hướng sự phát triển của công tác từ thiện xã hội của Phật giáo Việt Nam hiện nay. Chính vì thế, Giáo hội cần quan tâm, sát sao, quản lý chặt chẽ hơn nữa đối với công tác từ thiện xã hội (cụ thể ở đây, đại diện là Ban Từ thiện Xã hội Trung ương và các cấp).
Ban Từ thiện Xã hội Trung ương cần tập trung vào các vấn đề sau:
Ban Từ thiện xã hội Trung ương cần chủ động hơn nữa trong việc xây dựng lộ trình, lập đề án cụ thể của công tác từ thiện (bao gồm cả các loại hình lộ trình ngắn, trung, dài kỳ). Hướng đến phát triển bền vững công tác từ thiện xã hội, giải quyết tận gốc những vấn đề của các đối tượng thụ hưởng như thay vì làm từ thiện tự phát, thụ động; tập trung xây dựng các cơ sở khám chữa bệnh uy tín, các cơ sở dạy nghề có chất lượng cao, các cơ sở sản xuất có quy mô lớn, được đảm bảo đầu ra sản phẩm để tạo công ăn việc làm ổn định cho người lao động… hay nói cách khác là tìm cách để trao phương tiện để người thụ hưởng chủ động duy trì và phát triển cuộc sống.
Để công tác từ thiện có thể phát triển dài hơi, bền vững, Ban Từ thiện Xã hội cần hợp lực, nhất tâm trong mọi hoạt động, chủ động phát triển nguồn quỹ. Thay vì từ thiện tự phát, mạnh ai người đấy làm như hiện nay. Ban Từ thiện Xã hội Trung ương cần tập trung mọi nguồn lực, lên kế hoạch phân bổ hợp lý. Thay vì thụ động chờ đợi sự quyên góp của Phật tử, các nhà hảo tâm, doanh nghiệp… như hiện nay. Ban Từ thiện Xã hội Trung ương cần chủ động hơn trong việc gây quỹ, phát triển quỹ hoạt động. Như vậy, mới thực sự là làm từ thiện chuyên nghiệp và hiệu quả.
Tập trung, chủ động quy hoạch nhân sự, đào tạo, nâng cao năng lực quản lý của những người làm công tác quản lý các hoạt động từ thiện (chủ các cơ sở khám chữa bệnh, các trường mầm non, các trường dạy nghề,…) để nâng cao hiệu quả quản lý. Đầu tư hơn nữa đến việc đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn đối với đội ngũ trực tiếp làm công tác từ thiện (bao gồm các Tăng, Ni và cả các Phật tử tham gia trực tiếp công tác từ thiện): người chăm sóc trẻ, các y bác sĩ, người dạy nghề, người đứng ra kêu gọi quyên góp,… bởi chỉ khi nào nâng cao được trình độ chuyên môn của đội ngũ trực tiếp tham gia thực hiện các hoạt động từ thiện xã hội này thì mới nâng cao được hiệu quả, chất lượng của hoạt động từ thiện. 
Kết luận
Những phân tích ở trên khẳng định vai trò, vị trí quan trọng của công tác từ thiện xã hội đối với những người làm quản lý cũng như những chủ thể tham gia trực tiếp làm công tác từ thiện Phật giáo. Yêu cầu trước hết phải thực hiện đầy đủ chính sách, pháp luật về tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta. Mặc dù đã đạt được một số kết quả quan trọng, góp phần đảm bảo ổn định an sinh xã hội nhưng công tác từ thiện của Phật giáo nhìn chung trong thời gian qua vẫn còn nhiều hạn chế, thiếu sót cần phải khắc phục, nhằm nâng cao hiệu quả của công tác này phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương nói riêng, của toàn xã hội nói chung. Muốn làm được điều đó, đòi hỏi phải đổi mới nhận thức, phương thức, chỉ đạo; đổi mới nội dung, đa dạng hóa các hình thức vận động và phát huy sức mạnh của hệ thống chính trị; tăng cường sự chỉ đạo, phối hợp, nâng cao trình độ quản lý, trình độ chuyên sâu trong công việc đối với quần chúng tín đồ; xây dựng được đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng và có cơ chế chính sách phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi trong tiến hành tiếp xúc, gặp gỡ chức sắc phục vụ cho yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới; kịp thời phát hiện, khắc phục những hạn chế, yếu kém thực hiện công tác từ thiện Phật giáo, tạo ra sự đồng thuận trong xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. 
 
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
  1. Ban Văn hóa quận Long Biên (2009), Lịch sử chùa Bồ Đề, Long Biên, Hà Nội, tài liệu của UBND quận Long Biên (Lưu hành nội bộ).
  2. Giáo hội Phật giáo Việt Nam (2012),  Kỷ yếu Hội thảo kỷ niệm 30 năm thành lập GHPGVN, Nxb. Tôn giáo.
  3. Nguyễn Duy Hinh (1999), Tư tưởng Phật giáo Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.
  4. Thích Thanh Từ (1992), Phật giáo với dân tộc, Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh ấn hành.
  5. Chương Lập Văn (1999), Tâm (Nguyễn Văn Đức dịch), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây