40. VÀI GHI NHẬN VỀ CÔNG TÁC KHÁM CHỮA BỆNH TỪ THIỆN CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM HIỆN NAY

Thứ tư - 05/09/2018 17:31
VÀI GHI NHẬN VỀ CÔNG TÁC KHÁM CHỮA BỆNH  TỪ THIỆN...của TS.  Mai Thị Thơm 
  
Sinh lão bệnh tử - bốn mắt xích trong chu kỳ sống của con người nói riêng, vạn vật nói chung tuy là quy luật thường nhiên nhưng cũng là vấn đề trọng đại trong đời sống người học Phật và hoằng dương Phật pháp. Quy luật thường nhiên bởi không ai, không vật nào hiện hữu ở thế gian này mà không trải qua sinh già bệnh chết. Vấn đề trọng đại vì sự hiện hữu của Phật giáo không gì khác hơn là nhằm giải quyết vấn đề sinh tử - sinh tử sự đại. 
Trong bốn mắt xích này, “bệnh” là một mắt xích quan trọng. Bởi suy cho cùng thì giải thoát an lạc hay sinh tử trói buộc cũng đều do bệnh:  Tâm bệnh - Thân bệnh. Vì thế, đức Phật được tôn là Y vương. Vị vua trong giới thầy thuốc này hiện hữu ở thế gian để chỉ cho chúng sinh thấy rõ bệnh là gì, bệnh gồm có những loại nào, nguyên nhân của bệnh ra sao, hậu quả của bệnh thế nào rồi tùy bệnh bốc thuốc, chỉ cho chúng sinh thấy rõ phương pháp chữa trị nào là tạm thời, hay triệt để, cách chăm sóc thăm nuôi bệnh nhân ra sao là đúng hay không đúng, cách phòng ngừa bệnh thế nào thì hữu hiệu và lâu bền, kết quả là chúng sinh có được sự khỏe mạnh về thân, sự sáng suốt về trí. Những điều này được ghi nhận khá sống động trong hệ thống kinh điển Phật giáo. Có khi đặt thành một kinh chuyên biệt như Giáo hóa bệnh kinh trong Trung a hàm, Tương ưng bệnh trong Tạp a hàm thuộc Tiểu tạng nguyên thủy hay Dược sư kinh thuộc Đại tạng Đại thừa, có khi đề cập đến một phương diện bệnh như kinh Sa môn quả trong Trường a hàm, Dược thảo dụ, Y tử dụ trong kinh Pháp Hoa... Thậm chí còn quy định thành giới luật trong đời sống thường nhật của người xuất gia.
Phật giáo Việt Nam nói riêng, Phật giáo thế giới nói chung đến với cuộc đời qua bao thời gian, với bao không gian đều không ngoài mục đích “Tùy bệnh bốc thuốc”. Hơn hai ngàn năm qua, lịch sử đã minh chứng Phật giáo Việt, người học Phật Việt đã hiện thực hóa phương diện y phương minh trong ngũ minh bằng một phương châm sống động  “Mỗi người con Phật là một thầy thuốc, mỗi ngôi chùa là một nhà thương”.  Phật giáo Việt Nam hiện tại, cụ thể là từ năm 1981 đến nay đã và đang thực hiện phương châm đó như thế nào? Bài viết xuất phát từ tình hình khám chữa bệnh trong một số phòng khám từ thiện thuộc hoặc không thuộc hệ thống Tuệ Tĩnh Đường để ghi nhận về thực trạng của công tác xã hội này trong Phật giáo. Đồng thời dựa trên tinh thần của kinh điển Phật giáo để đưa ra một vài giải pháp, góp một tiếng nói nhỏ cho sự nghiệp hoàn thiện, phát huy giá trị tốt đẹp này của Phật giáo.  
I. Thực trạng khám chữa bệnh trong các phòng khám từ thiện của Phật giáo Việt Nam hiện nay
Có thể nói, không lâu sau Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập vào tháng 11 năm 1981, hệ thống Tuệ Tĩnh đường của Phật giáo Việt Nam cũng hình thành theo đề nghị của GS.TS Đỗ Tất Lợi - UV Hội đồng giáo hội Phật giáo, nhà nghiên cứu dược học nổi tiếng Việt Nam. Tuệ Tĩnh đường chùa Pháp Hoa, tọa lạc tại 229/24B Thích Quảng Đức, phường 4, quận Phú Nhuận, Tp.  HCM là trụ sở đầu tiên thuộc hệ thống này được thành lập vào ngày 10/1/1988. Từ đó đến nay, hệ thống này không ngừng hoàn thiện và phát triển cả về quy mô lẫn sức ảnh hưởng. Quy mô thì hiện nay có thể nói nơi nào có sự hiện hữu của Tỉnh hội Phật giáo thì nơi đó đều có sự hoạt động tích cực của hệ thống Tuệ Tĩnh đường thuộc các hệ phái Phật giáo khác nhau. Sức ảnh hưởng thì không chỉ việc khám chữa bệnh được mở rộng trong tự thân các Tuệ Tĩnh đường mà còn mở rộng ra ở các phòng khám với tên gọi chung chung là Phòng khám từ thiện do người xuất gia hoặc Phật tử tại gia điều hành. Do vậy, chúng tôi xin gọi những phòng khám chữa bệnh thuộc hoặc không thuộc hệ thống Tuệ Tĩnh đường này là Phòng khám từ thiện Phật giáo. Và bài viết xin ghi nhận chung về tình hình khám chữa bệnh, công tác đào tạo, chuẩn bị nhân lực, vật lực khám chữa bệnh ở các phòng khám từ thiện Phật giáo này như sau:
1. Tình hình khám chữa bệnh
Tình hình khám chữa bệnh của các phòng khám từ thiện Phật giáo này được thể hiện ở các phương diện: Đối tượng khám chữa bệnh, hoạt động khám chữa bệnh, bệnh lý được khám chữa. - Về đối tượng khám chữa bệnh. Có thể thấy, tuy chưa có con số thống kê cụ thể, nhưng trên các trang thông tin truyền thông báo chí, hình ảnh thầy thuốc xuất gia đủ cả Tăng, Ni, Nam truyền, Bắc truyền như HT. Bác sĩ Thích Hải Ấn ở Tuệ Tĩnh đường Hải Đức - Huế, Tiến sĩ Bác sĩ Thích Nữ Diệu Nhân phòng khám từ thiện chùa Hà Tiên - Vĩnh Phúc, Lương y Thích Tuệ Tâm thuộc Phật giáo Nam tông và là giám đốc điều hành Tuệ Tĩnh đường Liên Hoa - Huế..., thầy thuốc tại gia như Võ sư Y sư Nguyễn Viết Xô thuộc Tuệ Tĩnh đường chùa Kỳ Quang II - Tp. HCM... và những thầy thuốc không là đệ tử chính danh của Phật giáo hiện hữu ở hầu khắp các phòng khám chữa bệnh từ thiện của Phật giáo. 
Sự hiện hữu của những thầy thuốc này thể hiện sự thành công trong công tác từ thiện y học của Phật giáo Việt Nam theo hạnh nguyện “Phụng sự chúng sinh là thiết thức cúng dường chư Phật”. Sự hiện hữu của họ, đặc biệt là những thầy thuốc thuộc hệ phái Nam truyền, Khất sĩ... còn xua tan những định kiến rằng người xuất gia là người sống lánh đời, chỉ lo tu học, tìm lấy sự giải thoát sinh tử luân hồi cho bản thân và nếu có cứu đời thì cũng chủ yếu dùng pháp thí, truyền giảng giáo lý của Phật để hướng người đời đến với đời sống thuộc tâm linh nhiều hơn. Lời tâm sự của thầy thuốc Thích Tuệ Tâm sẽ minh chứng phần nào: “... Một người đau trước mắt cần chữa bệnh, bốc thuốc hơn là nghe thuyết pháp. Đầu tiên, trong hệ phái không ai thích và ủng hộ cách làm của tui. Tuy nhiên về sau, thấy cách làm của tui hiệu quả, giúp được nhiều người nghèo nên mọi người mới ủng hộ”. Ông còn kể hôm rồi qua Thái Lan - đất nước của Phật giáo Nam tông - khi nghe người trong đoàn giới thiệu ông là bác sĩ Đông y, ai cũng ngạc nhiên đến há hốc mồm vì ở đó, cũng không có một nhà sư nào nhập thế giúp người kiểu như ông cả.
  • Về hoạt động khám chữa bệnh. Hầu hết các phòng khám từ thiện của Phật giáo trước kia đều chữa bệnh theo y học dân tộc cổ truyền, y học dân gian, Đông y, nhưng về sau nhiều nơi hoạt động theo phương châm “Đông Tây y kết hợp”. Tổ chức các hoạt động khám bệnh, chẩn mạch, cấp thuốc nam, châm cứu, siêu âm trị liệu, chiếu đèn hồng ngoại, vận động trị liệu, xung điện, tâm lý trị liệu... Thời gian khám chữa bệnh thì thường không hoạt động suốt tuần, nơi thì 3 ngày trong tuần (3, 5, 7 của Tuệ Tĩnh đường chùa Pháp Hoa), nơi thì chỉ khám buổi sáng từ thứ 2 đến thứ 6 (Tuệ Tĩnh đường Linh Quang Lâm Đồng)... Không gian khám chữa bệnh phần nhiều là ngay tại trụ sở chùa, bệnh nhân tự đến để khám chữa bệnh. Có điều, hiện nay cũng có một số phòng khám đã mở rộng quy mô và cách thức hoạt động như “Song song với việc khám và chữa bệnh miễn phí tại cơ sở, Tuệ Tĩnh đường Hải Đức còn mở rộng mạng lưới y tế về các vùng quê nhằm giúp đỡ đồng bào là bệnh nhân nghèo ở các vùng sâu, vùng xa, ngoài ra hàng tháng Ban điều hành Tuệ Tĩnh đường Hải Đức đã thành lập đoàn Y tế lưu động về các địa phương để khám và cấp phát thuốc miễn phí cho người dân với kinh phí hàng trăm triệu đồng/năm...”.
Những cơ sở khám chữa bệnh này có thể có nơi hoàn toàn miễn phí cả tiền điều trị và tiền thuốc như Phòng chẩn trị Y học cổ truyền (YHCT) miễn phí Tuệ Tĩnh đường Linh Quang - Lâm Đồng, Tuệ Tĩnh đường Hải Đức - Huế..., nhưng cũng có nơi thu một phần phí điều trị, hoặc thu phí bình thường đối với những người không thuộc diện nghèo khổ thiếu thốn như lời chia sẻ của lương y Thích Tuệ Tâm “Khác với những ngày đầu, Tuệ Tĩnh đường bây giờ làm từ thiện theo nguyên tắc ai có giấy chứng nhận hộ nghèo thì được miễn phí; ai nói nghèo nhưng không có chứng nhận thì giảm 50%; ai không nghèo thì thu tiền bình thường”. Đối với nguồn dược liệu, nơi thì tự bỏ công sức kiếm tìm, trồng trọt, nơi thì thu gom từ vườn nhà của người bệnh, nơi thì vừa thu gom, trồng trọt, vừa thu mua như chia sẻ của thầy Tuệ Tâm và thầy Linh Toàn ở Tuệ Tĩnh đường Liên Hoa, Linh Quang “Bây giờ mới có tiền mua thuốc, chứ lúc đó chủ nhật hằng tuần thầy, trò phải lên núi hái thuốc về phơi sao để chữa bệnh. Gặp người bệnh nào tui cũng hỏi ở nhà anh, quê chị... có cây thuốc này cây thuốc kia không? Họ nói có thì nhờ luôn về hái bỏ vào bao, lần sau đến mang theo rồi... đổi thuốc thành phẩm mang về thay vì trả tiền”, “nguồn thuốc do các bệnh nhân tự nguyện thu gom cung cấp cho phòng khám chiếm 90%”.  
Có thể thấy hoạt động khám chữa bệnh của các phòng khám từ thiện Phật giáo này thể hiện rõ “từ tâm” của người học Phật nói riêng và của tất cả mọi người nói chung. Từ tâm đó không chỉ hiện hữu từ phía người khám chữa bệnh tức thầy thuốc, hay người hảo tâm hiến tặng tài vật, mà còn đến với cả người được khám chữa bệnh, những người tưởng chừng chỉ thụ động tiếp nhận. Vì thế, ĐĐ. Thích Linh Toàn nhận định: Đây là phòng khám từ thiện không thu tiền bệnh nhân và cũng là nơi hội tụ những tấm lòng thiện nguyện đóng góp nhiều loại thuốc nam phong phú, dồi dào lấy từ vườn nhà hoặc thu hái trong tự nhiên. Đồng thời, bệnh nhân cũng đóng góp công quả trong việc chế biến dược liệu làm thuốc (chặt, phơi, sấy…). 
  • Về bệnh lý được khám chữa hiệu quả
Với lợi thế từ nguồn dược liệu và cách chữa trị theo y học cổ truyền, đông tây y kết hợp, các loại bệnh được khám chữa ở các trụ sở từ thiện của Phật giáo có thể là những loại bệnh thông thường như cảm cúm, dạ dày..., những loại bệnh mạn tính như khớp, thần kinh tọa, đau lưng, gan, mỡ máu..., những loại bệnh tuyệt lộ như ung thư, bệnh thế kỷ HIV... một số nơi cũng chữa trị hữu hiệu. Đây là ghi nhận từ Tuệ Tĩnh đường Kỳ Quang II: Những căn bệnh mạn tính liên quan đến hệ tim mạch, bệnh tâm thể, hệ tuần hoàn, hệ thần kinh, hệ xương khớp, bệnh da liễu và một số bệnh rối loạn chuyển hóa nội tiết và đặc biệt hiệu quả trong vấn đề chữa bệnh HIV/AIDS bằng đông y. Thực tế cho thấy sức đề kháng và chỉ số CD4 của người mắc bệnh AIDS tăng lên đáng kể sau ba tháng điều trị ở đây, kết quả này đã được kiếm chứng khi các bệnh nhân đến xét nghiệm ở bệnh viện Pastuer, đồng thời giảm thiểu những căn bệnh tấn công người nhiễm HIV một cách rõ rệt... thật sự góp phần không nhỏ trong công cuộc cứu người thuộc lĩnh vực y học.
2. Tình hình đào tạo và chuẩn bị nhân lực, vật lực khám chữa bệnh
Về nguồn nhân lực khám chữa bệnh ở các phòng khám từ thiện Phật giáo, có nơi thì chuẩn bị theo hình thức thầy truyền trò, người học trò vừa phụ việc vừa học hỏi, nơi lớn hơn thì hoặc cho đi học ở các lớp Lương y kế thừa do Tỉnh hội Phật giáo các nơi tổ chức như Tp. HCM, Vĩnh Long, Huế..., hoặc cho đi học ở các trường về y học cổ truyền, các trường liên quan đến y học trong và ngoài nước, nơi lớn hơn nữa thì hợp tác với nhiều y bác sĩ thiện nguyện từ các cơ sở y học khác nhau. Tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuẩn bị nguồn nhân lực hiện tại và tương lai tương đối phong phú. 
Về nguồn tài lực, vật lực, hầu hết các cơ sở khám chữa bệnh từ thiện Phật giáo đều dựa vào sự đóng góp của các thành phần hảo tâm của xã hội và đương nhiên có cả bệnh nhân. Dẫu vậy, những phòng khám chữa bệnh từ thiện thuộc hệ thống Tuệ Tĩnh đường có tổ chức thì nguồn nhân lực vật lực mở rộng và ổn định hơn. Bởi hầu hết ban từ thiện của Tỉnh hội, Thành hội Phật giáo các nơi đều được thành lập từ khá sớm. Hoạt động khám chữa bệnh của các Tuệ Tĩnh đường cũng là một hoạt động từ thiện thiết yếu. Do vậy, nhiều Tuệ Tĩnh đường, người điều hành cũng là người phụ trách chính trong ban từ thiện của Tỉnh hội Phật giáo. Thí dụ, người chịu trách nhiệm điều hành Phòng chẩn trị Y học cổ truyền (YHCT) miễn phí Tuệ Tĩnh đường Linh Quang là Đại đức Thích Linh Toàn - Trưởng Ban từ thiện xã hội - Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh. Tại trụ sở Thành hội Phật giáo Tp. HCM có hẳn một ban từ thiện xã hội do các Thượng tọa, Đại đức của các ngôi chùa chuyên lo kinh phí để khám, chữa bệnh từ thiện không chỉ trong thành phố mà còn cả các tỉnh bạn hay bà con Việt kiều tại Campuchia. 
Hơn thế nữa, vì sự ra đời rất sớm của ban điều hành hệ thống Tuệ Tĩnh đường ở các tỉnh thành hội Phật giáo cả nước nên việc chuẩn bị nguồn nhân lực, vật lực, tài lực được tổ chức khá ổn. Thí dụ, ban điều hành hệ thống Tuệ Tĩnh đường tại Tp. HCM do Hòa thượng Thích Như Niệm (trụ trì chùa Pháp Hoa) làm Trưởng ban, Thượng tọa Thích Đạt Minh (trụ trì chùa Pháp Huệ, quận 6) làm Phó ban, Thượng tọa Thích Hạnh Thu (chùa Pháp Hoa) làm Ủy viên là một minh chứng tiêu biểu. Tuệ Tĩnh đường Hải Đức - Huế cũng có cả ban điều hành từ Ban trị sự Tỉnh hội... Chính từ sự điều hành tích cực của ban này mà hoạt động Tuệ Tĩnh đường của Tp. HCM và Huế, Lâm Đồng... luôn có được những kết quả rất đáng ghi nhận.
II. Những bất cập trong công tác khám chữa bệnh tại các phòng khám từ thiện của Phật giáo Việt Nam hiện nay
Tuy số lượng phòng khám chữa bệnh từ thiện của Phật giáo Việt Nam không ngừng tăng lên, quy mô và hiệu quả cũng phát triển theo năm tháng. Có điều, Giáo hội Phật giáo Việt Nam nói riêng, Phật giáo thế giới nói chung, vốn không coi trọng lắm về cơ cấu tổ chức. Hoạt động của tổ chức tôn giáo Phật giáo không gắn liền với quyền lợi về chính trị và kinh tế. Mọi hoạt động hầu hết đều do sự đóng góp tùy tâm của tự viện và Phật tử. Vì thế tính nhỏ lẻ, đơn lẻ, không thống nhất, không đồng bộ của hoạt động tôn giáo trong mỗi tự viện, mỗi tỉnh thành hội Phật giáo thể hiện khá rõ nét.  - Tính nhỏ lẻ, đơn lẻ, không thống nhất, không đồng bộ cũng thể hiện đầy đủ trong hoạt động khám chữa bệnh từ thiện của Phật giáo Việt Nam hiện nay. Sự chênh lệch này thể hiện ở số lượng và quy mô của các phòng khám tại các tỉnh thành có hoặc không có sự hiện hữu của các hệ phái, tỉnh hội Phật giáo. Thí dụ, ở Tp. HCM, Huế, Nha Trang, vùng đồng bằng sông Cửu Long... những nơi mà Phật giáo phát triển cả về chiều sâu lẫn chiều rộng thì rất nhiều Tuệ Tĩnh đường, phòng khám thuộc các hệ phái Thống nhất, Cổ Sơn môn, Nam tông, Khất sĩ... hoạt động. Ngược lại ở những tỉnh thành vùng Tây Nguyên, vùng Tây Bắc, vùng trung du và đồng bằng bắc bộ..., hoạt động của tỉnh hội Phật giáo hình thành và phát triển chưa lâu, hệ thống khám chữa bệnh từ thiện cũng vì thế mà không có hoặc chỉ một vài cơ sở. Sự chênh lệch còn thể hiện ở ngay mỗi phòng khám chữa bệnh tại các tỉnh thành mà Phật giáo phát triển trên.
  • Các bệnh lý được khám chữa không nhiều, hầu hết là những loại bệnh thuộc mạn tính hoặc đơn giản. Rất hiếm có những phòng khám chữa trị được nhiều bệnh như Tuệ Tĩnh đường Kỳ Quang II Tp. HCM, Tuệ Tĩnh đường Hải Đức - Huế (Phòng khám Đa khoa Từ thiện Tuệ Tĩnh đường Hải Đức có phòng khám Nội, phòng Đông y, phòng Cấp cứu, phòng Nha, phòng Xét nghiệm, phòng Tư vấn sức khỏe, phòng Hành chính tổng hợp, góc Đông y…). Công suất hoạt động cũng không cao, điều này thể hiện ở thời gian và không gian khám chữa bệnh (Thí dụ, vài ngày trong tuần, một buổi trong ngày như đã dẫn trên..., Tuệ Tĩnh đường Linh Quang - Lâm Đông chỉ có 1 phòng khám và 3 phòng điều trị, 7 giường bệnh)... -  Số lượng các phòng khám từ thiện đạt tiêu chuẩn khám chữa bệnh của bộ y tế rất ít. Những điều không đạt được như phòng khám không đạt chuẩn về vệ sinh, thuốc không có nguồn gốc xuất xứ, thuốc không bao bì nhãn mác, không thời hạn sử dụng, không ghi rõ hàm lượng, liều lượng, thành phần thuốc, người khám chữa bệnh có hoặc không có giấy phép hành nghề... Vì thế cũng đã có những dèm pha không đáng như việc thầy Thích Tuệ Hải chùa Long Hưng xã Long Tân Nhơn Trạch - Đồng Nai mà trang nguoiphattu ghi nhận.
  • Việc khám chữa bệnh ở các phòng khám từ thiện chỉ chú ý đến khám chữa bệnh hiện tại, hoặc thiên về cách bốc thuốc trị bệnh mà chưa chú ý nhiều đến việc phòng bệnh, hay dùng các phương pháp hỗ trợ hữu hiệu như ngồi thiền, ăn chay, sống điều độ, nhận định rõ về tương quan giữa tâm sinh lý, nghiệp quả... Như chia sẻ của thầy Linh Toàn ở Tuệ Tĩnh đường Linh Quang Lâm Đồng:  “Với phương pháp chữa bệnh YHCT, chúng tôi luôn kiên nhẫn, tận tụy giải thích cho bệnh nhân bằng phương pháp tâm lý trị liệu kết hợp với các liệu pháp YHCT, động viên và đồng hành cùng với người bệnh trong việc điều trị các bệnh mạn tính đòi hỏi thời gian lâu dài, kiên trì và quan trọng là giúp người bệnh uống thuốc đều đặn tuân thủ điều trị thì bệnh sẽ mau khỏi”.
III. Những giải pháp khắc phục điều bất cập và phát huy giá trị việc khám chữa bệnh từ thiện của Phật giáo Việt Nam hiện nay.
Như từ đầu bài viết đã nói, Phật được tôn xưng là Y vương, kinh điển Phật giáo ghi chép về bệnh không ít nếu như không nói là hầu hết. Vì tám vạn bốn ngàn pháp môn mà Phật đưa ra há chẳng vì để chữa trị tám vạn bốn ngàn phiền não bệnh tật của chúng sinh? Do vậy, bài viết xin căn cứ một số kinh điển điển hình để đưa ra các giải pháp cho việc trị bệnh cứu đời của người học Phật nói riêng, các phòng khám từ thiện Phật giáo nói chung. Có thể tóm thâu vào ba giai đoạn hoặc ba hình thức:
  • Thứ nhất là khám chữa bệnh. Ngoài việc tiếp thu những cách khám chữa bệnh cũng như hoạt động điều hành khám chữa bệnh ở các phòng khám tốt như Tuệ Tĩnh đường Kỳ Quang II, Tuệ Tĩnh đường Hải Đức, Tuệ Tĩnh đường Linh Quang..., cần khắc phục những điểm yếu ở các phòng khám khác trên cả nước. Tạo sự thống nhất, đồng bộ cho tất cả các phòng khám từ thiện của Phật giáo bằng cách xây dựng bộ khung hoạt động chung, từ đó giúp nâng cao hiệu quả khám chữa bệnh cứu người của người con Phật.
Đối với việc khám chữa bệnh, ngoài việc kê đơn bốc thuốc, điều trị theo kiểu y học thông dụng, cần kết hợp các phương pháp tu học của người con Phật: Thân - Tâm song hành. Có như vậy không chỉ chữa trị được bệnh hiện tại mà còn chuyển hóa được cách sống, tạo điều kiện hướng đến cuộc sống an lạc lâu dài cho tương lai. 
Câu chuyện Tôn giả Xá Lợi Phất thăm bệnh, chữa bệnh cho Trưởng giả Cấp Cô Độc mà Kinh Giáo hóa bệnh thứ 28 trong Trung A Hàm ghi nhận là một minh chứng: “Bấy giờ trưởng giả Cấp Cô Độc mang bệnh nguy kịch... Tôn giả Xá Lợi Phất bảo: Này trưởng giả chớ sợ. Vì sao vậy? Vì nếu là kẻ phàm phu ngu si, thành tựu bất tín thì khi thân hoại mạng chung sẽ đi thẳng đến ác xứ, sanh vào địa ngục. Còn trưởng giả ngày nay không hề có sự bất tín, mà chỉ có sự thượng tín. Do thượng tín ấy trưởng giả sẽ diệt được sự đau nhức khổ sở, lại sanh ra khoái lạc vô cùng, hoặc do thượng tín ấy sẽ chứng quả Tư đà hàm, A na hàm vì trưởng giả đã chứng quả Tu đà hoàn. Trưởng giả chớ sợ. Vì sao? Vì nếu là kẻ phàm phu ngu si do ác giới..., không có đa văn..., có sự xan tham..., có ác tuệ..., có tà kiến..., có tà tư duy..., có tà giải... thì khi thân hoại mạng chung sẽ đi thẳng đến ác xứ, sanh vào địa ngục. Còn trưởng giả không có ác giới,... có đa văn..., không có sự xan tham, ác tuệ, tà kiến, tà tư duy... sẽ chứng quả Tư đà hàm... Bấy giờ bệnh trạng của trưởng giả Cấp Cô Độc liền được thuyên giảm, bình phục như cũ, rời chỗ nằm ngồi dậy, khen tôn giả Xá Lợi Phất: Lành thay! Lành thay! Ngài thuyết pháp cho bệnh nhân. Thật kỳ diệu! Thật hy hữu! Thưa tôn giả. Khi con nghe xong bài pháp giáo hóa cho bệnh nhân ấy liền chấm dứt thống khổ, lại sanh khoái lạc vô cùng...”. 
Sức mạnh của việc nhận định rõ về hành vi, cuộc sống thường nhật của chính mình rất tốt đối với việc chữa trị thân bệnh, cũng như duy trì cách sống tốt đẹp cho cả tương lai là vậy. Khi nhận định về cuộc sống tự thân, nếu có lỗi lầm, thông qua cách bày tỏ lỗi lầm, sám hối lỗi lầm, thề không tái phạm, và thay đổi cách sống, người bệnh cũng nhờ đó mà chữa trị được bệnh tật một cách hữu hiệu. Câu chuyện vua A Xá Thế trong kinh Sa môn quả thứ 27 bộ Trường A hàm, hay Quốc sư Ngộ Đạt của thời Đường Ý Tông Trung Quốc trong kinh Thủy sám là những minh chứng điển hình. Nhờ phương pháp bày tỏ, sám hối, vua A Xà Thế đã thoát khỏi nỗi ám ảnh về việc làm giết cha hại mẹ của mình - nguyên nhân dẫn đến bệnh tật của thân và tâm. Quốc sư thì hiểu rõ nghiệp quả tiền thân và hiện tại của mình, chỉ một giọt nước sám hối đã xua tan bao khổ đau bệnh tật.
  • Thứ hai là phòng bệnh. Nhà Phật có câu: “Họa tòng khẩu xuất, bệnh tòng khẩu nhập”. Do vậy, việc điều tiết trong ăn uống nói riêng, mọi hành vi cử chỉ, ý nghĩ, lời nói nói chung trong cuộc sống thường nhật là liệu pháp phòng bệnh tốt nhất đối với con người. Trong phẩm Năm vua thuộc bộ Tăng Nhất A Hàm, lời khẳng định của Phật sau khi trao đổi với năm vị vua: Ba Tư Nặc, Tỳ Sa, Ưu Điền, A Xà Thế, Ưu Đà Diên về ngũ dục: Sắc Danh - Hương - Vị - Xúc  sẽ phần nào giúp chúng ta hiểu rõ việc phòng bệnh. “Cho nên, này các Đại vương! Nếu nói sắc là diệu, hãy bình đẳng mà luận. Vì sao vậy? Vì nơi sắc có vị ngọt. nếu sắc không có vị ngọt, chúng sinh hẳn không nhiễm đắm. Do nó có vị nên trong năm dục, sắc là tối diệu. Nhưng sắc cũng có tai hại. Nếu sắc không có tai hại, chúng sinh không nhàm chán. Vì nó có tai hại nên chúng sinh nhàm chán nó. Nhưng sắc có xuất yếu. Nếu sắc không có xuất yếu, ở đây chúng sinh không ra khỏi biển sinh tử được. Vì nó có xuất yếu nên chúng sinh đến được thành Niết bàn vô vi... Thanh..., hương... vị..., xúc... cũng vậy”. Từ cách trình bày nhân quả hai phương diện tục đế và xuất thế đế về năm món yêu thích thường ngày của con người trong kinh này nói riêng, nhiều kinh điển khác nói chung, người thầy thuốc Phật giáo cần truyền bá rộng rãi, tổ chức các lớp tu tập ngồi thiền, tụng kinh, niệm Phật, ăn chay... gần gũi hơn nữa, thiết thực hơn nữa, thường xuyên hơn nữa để giúp mọi người có cách sống tốt hơn, bệnh tất cũng nhờ thế mà ít sinh khởi hơn.
  • Thứ ba là thăm khám và giúp đỡ những bệnh nhân sắp mất. Thuyết nhân quả luân hồi của nhà Phật không chỉ nói rõ sự sống ở nhiều thời gian, nhiều kiếp, nhiều hình thức, nhiều thân thọ, mà còn khẳng định sự chuyển hóa, cách chuyển nghiệp, cách khắc phục, cách hướng tới những hình thức sống tốt đẹp hơn, ít khổ đau hơn. Đối với những người bệnh sắp chết, căn cứ từ thuyết cận tử nghiệp, mãn nghiệp, dẫn nghiệp của nhà Phật, người thầy thuốc Phật giáo có thể có những việc làm thiết thực, hữu hiệu. Từ góc độ khoa học, những người bệnh nặng này rất cần sự an ủi vỗ về, cần chia sẻ xoa dịu, giúp đỡ để họ biết giành thời gian quý giá giải quyết những việc cần làm như tha thứ lỗi lầm, hóa giải khúc mắc, di chúc mọi việc cho người sống và hậu sự cho bản thân, hiểu rõ quy luật sinh tử tự nhiên của con người và vạn vật, để rồi chọn cái chết nhẹ nhàng, thanh thản nhất có thể, đem lại sự an lạc cho cả người sống lẫn người chết. Từ góc độ Phật giáo, việc thăm hỏi, giảng giải nhân quả, giúp người bệnh nhận định rõ những hiện tượng xảy ra trong và sau khi từ bỏ xác thân này, giúp người bệnh thực tập những phương pháp trợ lực cho cận tử nghiệp và dẫn nghiệp là một điều vô cùng cần thiết. 
Tử thư Tây Tạng là một tác phẩm ghi nhận đầy đủ và tốt nhất về việc này cần được phổ biến và tìm hiểu, thực hành kỹ. Theo tác phẩm này, thầy thuốc học Phật Tây Tạng hoặc một mình, hoặc nhiều người, hoặc nhóm chuyên nghiệp thường xuyên chăm sóc, giúp đỡ, trị liệu những đối tượng bệnh nhân nguy kịch, sắp qua đời này, lợi ích không phải nhỏ. Sức ảnh hưởng không chỉ ở Tây Tạng, mà còn mở rộng đến các nước phương Tây. Phẩm Tương ưng bệnh trong bộ Tạp A Hàm, có ít nhất 18 tiểu kinh từ kinh số 925 đến kinh số 942 chuyên đề cập đến chủ đề này. Ở đây, không chỉ Phật Thích Ca, mà các Tôn giả Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, A Nan, Phú Lâu Na... đều tham gia vào việc thăm hỏi, chuyển hóa người bệnh nguy kịch, giúp họ ra đi nhẹ nhàng và đạt đến sự giải thoát an lạc.
Những ghi nhận về tình hình công tác khám chữa bệnh từ thiện của Phật giáo Việt Nam hiện nay đã phần nào cho thấy những ưu điểm cần được phát huy và những hạn chế cần được khắc phục. Ngoài ra, những giải pháp được đưa ra theo kinh điển Phật giáo hy vọng góp phần bổ sung và hoàn thiện cho hoạt động đầy ý nghĩa nhân văn này./.
 
 

 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
  1. Trường a hàm, bản dịch chú của Tuệ Sĩ, Nxb. Phương Đông, 2008.
  2. Trung a hàm, bản dịch chú của Tuệ Sĩ, Nxb. Phương Đông, 2009.
  3. Tạp a hàm, bản dịch chú của Tuệ Sĩ - Thích Đức Thắng, Nxb. Phương Đông, 2010.
  4. Tăng nhất a hàm, bản dịch chú của Tuệ Sĩ, Nxb. Phương Đông, 2011.
  5. Diệu pháp liên hoa kinh, bản dịch của Thích Trí Tịnh, Nxb. Tôn giáo, 2006.
  6. Kinh Dược sư, bản dịch của Thích Huyền Dung, Nxb. Tôn giáo, 2013.
  7. Phật bản hạnh kinh, bản dịch của Tuệ Đăng, Nxb. Phương Đông, 2012.
  8. Văn thủy sám, bản dịch của Trí Quang, Nxb. Tổng hợp Tp. HCM, 2010.
  9. Sogyal Rinpoche, Tử thư Tây Tạng, bản dịch của Thích Nữ Trí Hải, Nxb. Hồng Đức, 2014.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây