32. VAI TRÒ CỦA PHẬT GIÁO TRONG CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA Y TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Thứ tư - 05/09/2018 17:12
VAI TRÒ CỦA PHẬT GIÁO...của TS. Nguyễn Thị Tố Uyên

Những năm gần đây, đời sống xã hội có nhiều chuyển biến nên các tôn giáo có nhiều thay đổi để phù hợp thực tiễn. Xu hướng nhập thế đang diễn ra mạnh mẽ không chỉ trong các tôn giáo tại Việt Nam mà cả trên khắp thế giới. 
Ở Việt Nam xu thế này đã diễn ra từ lâu song chỉ bộc lộ rõ trong những năm gần đây đặc biệt là qua các hoạt động từ thiện xã hội. Hiện nay nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách nhằm bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của người dân, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức tôn giáo tham vào công tác phục vụ đời sống xã hội, như: giáo dục, y tế, dậy nghề, bảo trợ…
Trong phạm vi bài viết tôi chỉ xin nêu vai trò của Phật giáo trong công tác xã hội hóa y tế ở Việt Nam hiện nay.
1. Quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về vấn đề xã hội hóa y tế *Nghị quyết của Đảng: 
Có thể nói quan điểm, chủ trương về xã hội hóa y tế đã được đề cập cách đây 24 năm từ Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành TW Đảng khóa VII, ban hành ngày 14/01/1993 (lần đầu tiên có một Nghị quyết TW đề cập tới vấn đề Xã hội hóa công tác y tế). Qua thời gian thực hiện nghị quyết này từ năm 1993 đến những năm 2000 - 2005 cho thấy: Khu vực y tế nhà nước nói chung chưa có nhiều chuyển biến, khu vực y tế tư nhân vẫn còn những hạn chế, sự vào cuộc của các tổ chức chính trị xã hội, ban ngành, đoàn thể hay các hộ gia đình trong xã hội hóa y tế vẫn còn mờ nhạt. Có thể thầy trong giai đoạn này các tổ chức tôn giáo chưa tham gia nhiều vào lĩnh vực xã hội hóa y tế bởi chư có một hành lang pháp lý cụ thể rõ ràng trong lĩnh vực này.
Đến Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng chủ trương “Các chính sách xã hội được giải quyết theo tinh thần xã hội hóa, đề cao trách nhiệm của chính các cấp, huy động các nguồn lực trong nhân dân và sự tham gia của các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội”
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng khẳng định “Nhà nước tiếp tục tăng nguồn lực, đầu tư tập trung cho các chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục, y tế…; đồng thời phát huy tiềm năng trí tuệ và các nguồn lực vật chất trong nhân dân, của toàn xã hội để cùng Nhà nước giải quyết các vấn đề xã hội và chăm lo phát triển các dịch vụ công cộng”.
Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng tiếp tục tiếp tục khẳng định:“tăng đầu tư nhà nước đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động y tế”.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng vẫn tiếp tục chủ trương xã hội hóa giáo dục, y tế, cụ thể: Thực hiện cơ chế thị trường và đẩy mạnh xã hội hóa đối với cung cấp các dịch vụ công (trong đó bao gồm y tế).
*Các văn bản pháp luật của Nhà nước:
Căn cứ theo Nghị quyết của Đảng thì Quốc hội đã ban hành:
Nghị quyết số 18/2008/QH12 ngày 3/6/2008 của Quốc hội về đẩy mạnh thực hiện chính sách, pháp luật xã hội hóa để nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân, giao cho Chính phủ thực hiện một số vấn đề về xã hội hóa y tế như tổ chức thực hiện ưu đãi về đất đai, tín dụng, thuế theo quy định của pháp luật nhằm khuyến khích, huy động nguồn lực đầu tư cho phát triển và mở rộng các cơ sở y tế tư nhân.
Để đảm bảo thực hiện chủ trương xã hội hóa y tế ngày 23/11/2009 Quốc hội đã ban hành: 
+ Luật Khám chữa bệnh số 40/2009/QH12.

+ Luật Bảo hiểm y tế số 25/2008/QH12 ngày 14/11/2008.

+ Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế số 46/2014/QH13 này 13/6/2014.
*Các văn bản dưới luật:
Căn cứ đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước thì Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước đã ban hành các văn bản dưới luật về vấn đề xã hội hóa y tế như sau:
+ Nghị quyết số 90/NQ-CP ngày 21/8/1997 của Chính phủ về phương hướng và chủ trương xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế và văn hóa đã xác định:“Về thực hiện xã hội hóa y tế: đa dạng hóa các hình thức cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe (Nhà nước, tập thể, dân lập, tư nhân…) trong đó nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Cho phép nhiều lực lượng có hiểu biết và kinh nghiệm nghề nghiệp tham gia các dịch vụ chăm sóc sức khỏe dưới sự quản lý của Nhà nước, nhằm cung cấp dịch vụ y tế ngày càng thuận tiện cho người dân và giảm bớt sức ép về ngân sách cho Nhà nước. Nhân dân tham gia đóng góp và chi trả cho các dịch vụ chăm sóc sức khỏe thông qua chế độ viện phí, tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện…”
+ Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 của Chính phủ về đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục thể thao. Theo đó, các định hướng đẩy mạnh xã hội hóa về lĩnh y tế: “xác định chuyển hoạt động của các bệnh viện công lập sang cơ chế cung ứng dịch vụ; chuyển các cơ sở y tế bán công sang dân lập hoặc tư nhân; kinh phí nhà nước hỗ trợ thông qua các cơ sở công lập trước đây được chuyển sang cấp trực tiếp cho người thụ hưởng dịch vụ; từng bước tạo điều kiện để người thụ hưởng lựa chọn cơ sở dịch vụ không phân biệt công lập hay ngoài công lập, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các cơ sở tư nhân tham gia cung cấp dịch vụ y tế cho người dân”
Ngoài ra Chính phủ và các Bộ, Ngành liên quan đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật để góp phần đạt mục tiêu nêu trên, cụ thể như: 
+ Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30 tháng 5 năm 2008 của Chính phủ và Thông tư số 135/2008/TT-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2008 của Bộ Tài chính về hướng dẫn chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường.
+ Nghị định số 69/2008/NĐ-CP; Nghị định số 85/2012/NĐCP ngày 15 tháng 10 năm 2012 của Chính phủ về cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp y tế công lập và giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công lập.
+ Nghị định số 87/2011/NĐ-CP ngày 27/09/2011 của Chính phủ : Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2009.
Các văn bản quy phạm pháp luật trên đã thể chế hóa hoạt động xã hội hóa y tế và hướng dẫn cụ thể các tổ chức xã hội tham gia vào xã hội hóa y tế (trong đó có Phật giáo).
Nhìn lại các quan điểm trên có thể thấy:
Nội dung của xã hội hóa y tế, được hiểu là huy động các nguồn lực khác nhau của xã hội, có sự tham gia công sức, trí tuệ của cộng đồng và đồng thời phải có chính sách xã hội để bảo đảm công bằng xã hội với khả năng tiếp cận dịch vụ y tế được tốt hơn.
Nhà nước đã mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác các tiềm năng về nhân lực, vật lực, tài lực trong xã hội; phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của nhân dân, tạo điều kiện cho y tế phát triển nhanh hơn, có chất lượng cao hơn là chính sách lâu dài, là phương châm thực hiện chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước, chứ không phải là biện pháp tạm thời, chỉ có ý nghĩa tình thế trước mắt do Nhà nước thiếu kinh phí cho các hoạt động này.
 Khi người dân có thu nhập cao, ngân sách nhà nước đã dồi dào vẫn phải thực hiện xã hội hóa bởi y tế là sự nghiệp lâu dài của nhân dân. Xã hội hóa không có nghĩa là giảm nhẹ trách nhiệm của Nhà nước, giảm bớt ngân sách nhà nước mà trái lại, Nhà nước thường xuyên tìm kiếm thêm các nguồn thu để tăng thêm ngân sách chi cho các hoạt động này, đồng thời quản lý tốt để nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn này. 
2. Về công tác xã hội hóa y tế của Phật giáo
Trên phương diện tôn giáo, các hoạt động từ thiện xã hội của các tôn giáo phù hợp với giáo lý của tôn giáo. Với Phật giáo -  đạo của từ bi, luôn đem lại niềm vui và cứu vớt khổ đau cho chúng sanh, do đó Phật giáo luôn vận dụng Đạo pháp để phục vụ Dân tộc, phục vụ nhân sinh. 
Trên tinh thần đó, từ xưa đến nay Phật giáo đã tham gia vào các công tác từ thiện xã hội một cách thiết thực thể hiện tinh thần đạo pháp và dân tộc, cụ thể qua:
+ Công tác khám chữa bệnh của Phật giáo (Báo cáo của Ban Từ thiện Xã hội Trung ương GHPGVN nhiệm kỳ III, IV,V):
Trong lĩnh vực y tế hệ thống phòng khám chữa bệnh của Phật giáo thông qua hệ thống Tuệ Tĩnh đường, đã góp phần tăng cường lực lượng y tế địa phương để chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cho người dân trên địa bàn; các cơ sở đã góp phần làm giảm bớt gánh nặng cho y tế Nhà nước trong nhu cầu chăm sóc sức khoẻ người dân ngày càng cao, đặc biệt đối với những đối tượng dân nghèo, những trẻ em bị khuyết tật (bại não, bại liệt, chậm phát triển tinh thần) cần phục hồi chức năng và những người nhiễm HIV/AIDS cần chăm sóc tư vấn.
Hàng năm bình quân các cơ sở đã khám được hàng chục ngàn người, phục hồi chức năng cho hàng chục trẻ bị khuyết tật... với chi phí cho điều trị miễn phí hàng trăm triệu đồng (kể cả nội viện và ngoại viện). Các hoạt động ngoại viện tại các vùng nghèo khó, vùng sâu, vùng xa đã tạo điều kiện thuận lợi cho người dân được tiếp cận các dịch vụ y tế để phát hiện sớm các bệnh tật, giảm dần sự quá tải trong các cơ sở y tế Nhà nước. 
Qua các hoạt động khám chữa bệnh nhân đạo, các cơ sở ngày càng tạo nên sự gắn bó giữa người thầy thuốc với cộng đồng, giữa đạo lý với đạo đời vừa mang ý nghĩa nhân văn, vừa mang tính xã hội hóa cao về công tác y tế thông qua sự huy động các nguồn lực đóng góp cho công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của người dân trên địa bàn tỉnh. Có thể nói Phật giáo với những ưu thế của mình trong thời gian qua đã tham gia tích cực vào công tác xã hội hóa y tế.
Hoạt động y tế của Phật giáo thông qua hệ thống Tuệ Tĩnh đường, kế thừa và phát huy truyền thống của Đại lương y Thiền sư Tuệ Tĩnh, thực hiện chủ trương của Trung ương GHPG Việt Nam, hệ thống Tuệ Tĩnh đường được thành lập khắp cả nước nhằm "phục vụ chúng sanh là cúng dường chư Phật". Tuệ Tĩnh đường khám chữa bệnh miễn phí cho đồng bào bằng phương pháp y học dân tộc và y học hiện đại.
Theo số liệu của Ban Từ thiện Xã hội Trung ương GHPGVN, nhiệm kỳ III của Giáo hội, toàn quốc có 25 Tuệ Tĩnh đường, 655 phòng thuốc chuẩn trị y học dân tộc hoạt động có hiệu quả đã khám và phát thuốc trị giá trên 9 tỷ đồng. Nổi bật nhất là lớp học Y học cổ truyền của Thành hội Phật giáo Tp. Hà Nội, các Tuệ Tĩnh đường chùa Pháp Hoa, tịnh xá Trung Tâm Tp. HCM, chùa Diệu Đế - Thừa Thiên - Huế, Kiên Giang, Sóc Trăng, Cần Thơ, Cà Mau, Pháp Hoa - Đồng Nai, Bình Dương, Vĩnh Long, Long An, Tiền Giang, Ninh Thuận, Bà Rịa Vũng Tàu, Quảng Nam, Đà Nẵng… nhiệm kỳ IV, toàn quốc có 126 Tuệ Tĩnh đường, 115 phòng thuốc chẩn trị y học đã khám, chữa bệnh và phát thuốc với tổng trị giá trên 9 tỷ đồng.  Nhiệm kỳ V, trên toàn quốc, số lượng Tuệ Tĩnh đường và các phòng thuốc không thay đổi nhưng tổng trị giá khám, chữa bệnh và phát thuốc lên tới 35 tỷ đồng. Trong đó, hệ thống Tuệ Tĩnh Đường tỉnh Đồng Nai đạt 11.921.956.000 đồng; Tp. HCM đạt trên 6 tỷ đồng, Thừa Thiên - Huế đạt 3.852.337.920 đồng. Phòng khám chữa bệnh đa phần là phòng khám Đông y. Một số là phòng khám đông tây y kết hợp.
Hiện nay trên toàn quốc có trên 150 Tuệ Tĩnh đường,  khoảng 655 phòng chuẩn trị y học dân tộc, 1 phòng khám đa khoa và hàng trăm phòng thuốc nam, châm cứu, bấm huyệt cho hàng chục lượt bệnh nhân với tổng chi phí lên hàng chục tỷ đồng. Ngoài ra Ban Từ thiện Xã hội T.Ư thuộc GHPGVN đã đào tạo hàng trăm tăng ni có trình độ Sơ cấp y tế và Lương y Tuệ Tĩnh đường để tăng cường hiệu quả hoạt động về y tế nhằm chia sẻ gánh nặng cho xã hội và nhân dân trên tinh thần từ bi, trí tuệ của đạo Phật.
+ Về công tác dưỡng lão
Chăm lo cho người già đặc biệt là những người già cô đơn không nơi nương tựa là một trong những hoạt động từ thiện xã hội quan trọng của Phật giáo. Đây là một vấn đề nhức nhối trong các xã hội hiện đại khi tuổi thọ trung bình ngày càng được nâng cao. Trước nhu cầu xã hội ngày một tăng cao, hệ thống nhà dưỡng lão của Phật giáo đã kịp thời đáp ứng yêu cầu xã hội. Hệ thống này đã góp phần giảm bớt gánh nặng xã hội cho Nhà nước. Hiện toàn quốc có trên 20 cơ sở nhà dưỡng lão, nuôi dưỡng trên 1.000 cụ già. Tại Tp. HCM có các nhà dưỡng lão thuộc các chùa Pháp Quang, Pháp Lâm, quận 8; Kỳ Quang 2, quận Gò Vấp; Diệu Pháp, Q.Bình Thạnh; Hoằng Pháp huyện Hóc môn… nuôi dưỡng trên 500 cụ. Thừa Thiên - Huế có nhà dưỡng lão Tịnh Đức; Diệu Viên… 
Bên cạnh hệ thống nhà dưỡng lão Phật giáo còn có các Trung tâm nuôi dạy trẻ mồ côi và người cao tuổi cô đơn ở Bồ Đề tỉnh Bình Dương vừa thành lập và đang đi vào hoạt động, một số chùa tuy không thành lập nhà dưỡng lão nhưng vẫn đón nhận, chăm sóc các cụ già có nhu cầu nương thân cửa Phật như chùa Bồ Đề, Gia Lâm, Hà Nội. 
+ Về công tác tư vấn, nuôi dưỡng người nhiễm HIV/AIDS
Với tinh thần nhập thế, Phật giáo tham gia giải quyết nhiều vấn đề xã hội. Góp phần cùng toàn nhân loại ngăn chặn bệnh dịch thế kỷ HIV/AIDS và xoa dịu nỗi đau của những người không may bị nhiễm căn bệnh thế kỷ này, PGVN thành lập nhiều cơ sở nuôi người nhiễm HIV/AIDS cũng như thành lập các trung tâm tư vấn HIV/AIDS.
Tại Hà Nội, chùa Pháp Vân, Q. Hoàng Mai, chùa Bồ Đề, Q. Long Biên là những trung tâm nuôi dưỡng chăm sóc người nhiễm HIV/AIDS. Trung tâm tư vấn HIV Hương Sen của ĐĐ. Thích Thanh Huân chùa Pháp Vân, Q. Hoàng Mai là một trong những trung tâm tư vấn và nuôi dưỡng người nhiễm HIV sớm nhất tại các chùa. Chùa Bồ Đề, Long Biên, Hà Nội, do sư Thích Đàm Lan, hiện là nơi nuôi dưỡng, chăm sóc các cháu nhỏ bị nhiễm HIV/AIDS.
Học viện PGVN tại Tp. Hồ Chí Minh là một trong những địa chỉ trung tâm tư vấn HIV/AIDS có nhiều nội dung hoạt động với hiệu quả cao. Đây là mô hình của một trung tâm tư vấn HIV/AIDS có nguồn tài trợ từ nước ngoài. Hoạt động chính của Trung tâm là tư vấn đối với người nhiễm HIV/AIDS và cộng đồng để giúp người bị nhiễm bệnh hiểu được căn bệnh của mình giúp họ hòa nhập cộng đồng. Về phía cộng đồng, hoạt động tư vấn truyền thông của Trung tâm nhằm chống lại sự kỳ thị đối với người bị nhiễm HIV/AIDS của các thành viên trong cộng đồng.
3. Những vấn đề đặt ra và kiến nghị
Như vậy có thể thấy công tác từ thiện xã hội của các Phật giáo qua các mặt hoạt động như giáo dục, y tế, chăm sóc người già, trẻ em, mở trường dạy nghề, cứu tế an sinh đã có những tác dụng tích cực và hiệu quả rất lớn trong xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt đạt được, dưới góc độ quản lý nhà nước của các ngành chức năng, hoạt động từ thiện xã hội của các chức tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng vẫn còn những mặt tồn tại sau: 
+ Thiếu những thông tin, hiểu biết đầy đủ về chủ trương xã hội hóa của Đảng và Nhà nước. 
+ Do các cơ sở này thường được tiếp nhận cơ sở vật chất và thuốc chữa bệnh miễn phí từ các cá nhân, tổ chức khác, nên nhiều trang thiết bị y tế còn lạc hậu.
+ Cơ sở vật chất để thực hiện các hoạt động xã hội hóa còn hạn hẹp, nhiều nơi chưa đáp ứng được quy định của pháp luật. Phật giáo có ít cơ sở riêng để thực hiện các hoạt động này, thông thường các cơ sở khám chữa bệnh của Phật giáo phải sử dụng khuôn viên cơ sở thờ tự để thực hiện hoạt động xã hội, hầu hết hoạt động khám chữa bệnh của Phật giáo đều diễn ra ở trong chùa. 
+ Kinh phí chủ yếu để thực hiện các hoạt động xã hội hóa có được từ sự tự nguyện đóng góp của tổ chức, cá nhân, nên nguồn kinh phí này thiếu ổn định.
+ Mặc dù đã có cơ sở pháp lý để triển khai thực hiện hoạt động xã hội hóa y tế, tuy nhiên quá trình triển khai thực hiện các văn bản này đã xuất hiện một số vấn đề bất cập, đặc biệt là khi áp dụng cho đối tượng là tổ chức, cá nhân tôn giáo, thể hiện ở tính thiếu cụ thể, đồng bộ trong các chủ trương đối với việc tổ chức, cá nhân tôn giáo tham gia hoạt động xã hội hóa y tế. Ví dụ: theo Luật Bảo hiểm y tế năm 2014, mọi người dân có thẻ bảo hiểm y tế sẽ không bị hạn chế nơi khám chữa bệnh. Như vậy, khi người dân đến khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế của Phật giáo cũng sẽ được hưởng bảo hiểm y tế như tại các cơ sở y tế công. Tuy nhiên, hầu hết các cơ sở khám chữa bệnh của Phật giáo đều là khám chữa bệnh mang tính từ thiện không mang tính kinh doanh lợi nhuận nguồn chi trả BHYT chủ yếu là từ nguồn từ thiện vậy thì cở sở khám chữa bệnh của Phật giáo lấy nguồn kinh phí này như thế nào, Nhà nước có hỗ trợ không? 
Từ những bất cập trên tác giả kiến nghị:
+ Tiếp tục nghiên cứu để có sự đổi mới hơn nữa các chủ trương, chính sách của Nhà nước đối với các hoạt động từ thiện xã hội của các tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng đặc biệt là chủ trưong xã hội hóa y tế, bảo trợ xã hội. 
+ Nhà nước thể chế hóa các chủ trương, chính sách về vấn đề từ thiện xã hội của các tôn giáo thành những văn bản qui phạm pháp luật, tạo hành lang pháp lý cho các cá nhân, tổ chức tôn giáo được hoạt động thuận lợi trong lĩnh vực từ thiện xã hội, cụ thể là nhanh chóng ban hành Nghị đinh hướng dẫn Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (2016) về vấn đề xã hội hóa giáo dục, y tế, bảo trợ xã hội, từ thiện, nhân đạo theo điều 55 của Luật.
+ Tạo điều kiện cơ sở vật chất cho các cơ sở khám chữa bệnh của Phật giáo nhất những nơi cớ sở Phật giáo có nhu cầu giao đất để xây dựng cơ sở vật chất phục vụ công tác từ thiện xã hội thì Nhà nước cần xem xét giao đất theo đúng trình tự và thủ tục qui định của pháp luật. Trong các yếu tố để xem xét, cần căn cứ tình hình thực tế của địa  phương,  nhu cầu của nhân dân trong các hoạt động giáo dục, y tế…
+ Các ngành chức năng của Bộ Y tế phải thường xuyên tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động từ thiện xã hội hóa y tế nhất là ở tại các cơ sở khám, chữa bệnh từ thiện của Phật giáo. Trong công tác quản lý cần có kế hoạch giúp đỡ và hướng dẫn các cơ sở này về các mặt như: đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, tạo điều kiện  xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị…
Tóm lại, với phương trâm “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội”, Phật giáo đang ngày càng tham gia nhiều vào các hoạt động xã hội đóng góp về trí tuệ, vật chất để cải thiện đời sống của người dân. Vai trò của Phật giáo trong công tác xã hội hóa y tế ngày càng được khẳng định và phát triển.
 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Báo cáo tóm tắt công tác phận sự quý I năm 2017 của Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
  2. Báo cáo của Ban Từ thiện Xã hội Trung ương GHPGVN nhiệm kỳ III, IV,V.
  3. Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009.
  4. Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 23/2/2005 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới.
  5. Nguyễn Thị Minh Ngọc, Tạp chí Nghiên cứu Phật học số 3/2014.
  6. Thông tư số 41/2011/TT-BYT ngày 14/11/2011 của Bộ trưởng Bộ Y tế hướng dẫn cấp chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề và cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
  7. Thông tư số 41/2015/TT-BYT ngày 16/11/2015 của Bộ Y tế về sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 41/2011/TTBYT ngày 14/11/2011 hướng dẫn cấp chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề và cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
  8. Đinh Thị Thanh Thủy, Hoàn thiện pháp luật về dịch vụ khám chữa bệnh của các cơ sở y tế tư nhân, Tạp chí Dân chủ số 4/2017.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây