19. CÔNG TÁC BẢO TRỢ XÃ HỘI CỦA PHẬT GIÁO VÀ  MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA HIỆN NAY

Thứ ba - 04/09/2018 14:15
CÔNG TÁC BẢO TRỢ XÃ HỘI ....của PGS. TS. Ngô Hữu Thảo

Thế kỷ vừa qua, Việt Nam trải qua các cuộc chiến tranh giành độc lập dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và với một nền kinh tế phát triển chưa cao, nên đối tượng bảo trợ xã hội rất nhiều. Việc chăm sóc đối tượng bảo trợ xã hội, trong khi khả năng của Nhà nước là có hạn, thì sự tham gia chia sẻ của các tổ chức xã hội, trong đó có các tôn giáo, là tất nhiên và đáng trân trọng. Phật giáo là một tôn giáo đã rất tích cực làm công tác bảo trợ xã hội với hiệu quả cao và ý nghĩa xã hội, nhân văn to lớn. Nhận thức về công tác đó của Phật giáo, người viết không dừng lại là biểu dương, mà quan trọng hơn, là góp phần phát huy vai trò, bài học và hiệu quả của công tác bảo trợ xã hội của Phật giáo ở thời kỳ phát triển mới của đất nước.     

Đối tượng bảo trợ xã hội và hệ thống bảo trợ xã hội ở nước ta

Đối tượng bảo trợ xã hội, về pháp lý, được quy định ở các văn bản pháp quy, từ pháp luật cho đến các nghị định của Chính phủ và văn bản của các bộ, ngành. Trong đó, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính, xác định cụ thể đối tượng bảo trợ xã hội, diện trợ cấp hàng tháng, do cấp xã quản lý, gồm:
Trẻ em mồ côi cả cha và mẹ, trẻ em bị bỏ rơi, mất nguồn nuôi dưỡng; trẻ em nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ gia đình nghèo...
Người cao tuổi cô đơn, không người nương tựa, thuộc hộ gia đình nghèo. 
Người 85 tuổi trở lên không có lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội.
Người tàn tật nặng không thể lao động, tự phục vụ, thuộc hộ nghèo.
Người mắc bệnh tâm thần sống độc thân không nơi nương tựa.
Người nhiễm HIV/AIDS không có khả năng lao động, thuộc hộ nghèo.
Gia đình, cá nhân nhận nuôi dưỡng trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi.
Hộ gia đình có từ 02 người trở lên tàn tật nặng, không thể tự phục vụ. 

Người đơn thân thuộc diện hộ nghèo, đang nuôi con nhỏ.

Trong đó, đối tượng thuộc diện đặc biệt khó khăn được xem xét tiếp nhận vào cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội tại cộng đồng, hoặc được trợ giúp đột xuất. 
Những quy định này là cơ sở pháp lý để các tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị xã hội, xã hội nghề nghiệp, các tổ chức, cá nhân, các tôn giáo thành lập và phát triển các cơ sở bảo trợ xã hội.
Hệ thống bảo trợ xã hội ở nước ta hiện nay gồm cả công lập và ngoài công lập, gồm 413 cơ sở, trong đó công lập có 195 và ngoài công lập có 218 (chiếm 52,7%), gồm 32 cơ sở chăm sóc người cao tuổi, 73 cơ sở chăm sóc người khuyết tật, 141 cơ sở chăm sóc trẻ em, 102 cơ sở tổng hợp, 31 cơ sở chăm sóc người tâm thần và 34 trung tâm cứu trợ xã hội. 
Các cơ sở bảo trợ xã hội đã chăm sóc, nuôi dưỡng khoảng 42.000 đối tượng, cung cấp dịch vụ trợ giúp xã hội cho hàng chục ngàn người. Trong đó, đối tượng là trẻ em, người khuyết tật, người tâm thần chiếm tỷ lệ lớn: 46,5%; đối tượng là trẻ em mồ côi, bị bỏ rơi 19,3%; đối tượng người già cô đơn 10,3%; còn lại là trẻ em người bị nhiễm HIV/AIDS, nạn nhân bị bạo lực, bạo hành và đối tượng khác. 
Cán bộ, nhân viên làm việc trong các cơ sở bảo trợ xã hội có khoảng 15.000 người; bình quân 01 cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng 100 đối tượng.
Các tôn giáo Việt Nam tham gia bảo trợ xã hội: hiện có 113 cơ sở, chiếm 27,36% các cơ sở của cả nước; chăm sóc, nuôi dưỡng
11.800 đối tượng, chiếm 28% tổng số đối tượng trong hệ thống bảo trợ xã hội Việt Nam và có 2.600 nhân viên, bằng 17% nhân viên của hệ thống bảo trợ xã hội cả nước.

2. Tình hình các cơ sở bảo trợ xã hội của Phật giáo  

2.1. Hệ thống khám chữa bệnh
Phật giáo có hệ thống Tuệ Tĩnh đường, khám chữa bệnh miễn phí bằng phương pháp đông y hoặc đông tây y kết hợp. Giáo hội ở nhiệm kỳ III có 25 Tuệ Tĩnh đường, 655 phòng y học dân tộc, khám và phát thuốc trị giá trên 9 tỷ đồng. 
Nhiệm kỳ IV, Giáo hội có 126 Tuệ Tĩnh đường, 115 phòng thuốc, khám, chữa bệnh và phát thuốc có giá trị hơn 9 tỷ đồng. 
Nhiệm kỳ V, số Tuệ Tĩnh đường và các phòng thuốc vẫnn hư ở nhiệm kỳ IV, nhưng giá trị khám, chữa bệnh và phát thuốc lên tới 35 tỷ đồng. Giáo hội đã đào tạo sơ cấp y tế cho 250 Tăng ni và 98 lương y Tuệ Tĩnh đường.
Nhiệm kỳ VI (2007 - 2012), Giáo hội có 165 Tuệ Tĩnh đường, hàng trăm phòng thuốc; trên 10 phòng khám Đông Tây y kết hợp, phục vụ hàng trăm ngàn bệnh nhân; hỗ trợ 22.028 ca mổ đục thủy tinh thể, kinh phí hàng chục tỷ đồng.
Đến hết năm 2015, nhiệm kỳ VII (2012 - 2017), Giáo hội có hơn 150 cơ sở khám chữa bệnh, phát thuốc cho hàng chục ngàn người, giá trị hàng chục tỷ đồng.
2.2. Hệ thống nhà dưỡng lão, trung tâm nuôi dạy trẻ mồ côi
Giáo hội Phật giáo, nếu năm 1997 mới có 196 lớp học tình thương, 116 cơ sở mẫu giáo bán trú, nuôi trẻ mồ côi và khuyết tật với trên 6.000 em, thì đến năm 2002 đã tăng lên 1.500 lớp, với hơn 20.000 em. 
Nhiệm kỳ VI (2007 - 2012), nhà dưỡng lão của Giáo hội có trên 20 cở sở, nuôi dưỡng trên 1.000 người.
Năm 2015, nhiệm kỳ VII (2012 - 2017), các Trung tâm nuôi dạy trẻ mồ côi, khuyết tật, nuôi 1.736 em; các Trung tâm nuôi dưỡng người già, nuôi 1.459 người. Một số chùa không có nhà dưỡng lão song vẫn nhận, chăm sóc người già cô đơn.
2.3. Các lớp học tình thương
Từ năm 2007 - 2012, Giáo hội có hơn 1.000 lớp học tình thương, 36 cơ sở nuôi dạy trẻ mẫu giáo, trẻ mồ côi, khuyết tật, với trên 20.000 em. Ban Từ thiện Xã hội Trung ương tổ chức bồi dưỡng nuôi dạy trẻ cho 92 tăng ni, Phật tử.
Giáo hội còn mở các lớp dạy nghề miễn phí cho con em phật tử, các hộ nghèo, người khuyết tật. Hiện Giáo hội có 10 trường dạy nghề miễn phí, đào tạo, giới thiệu hàng ngàn người là đối tượng cứu trợ có việc làm ổn định.
2.4. Trung tâm tư vấn, nuôi dưỡng người nhiễm HIV/AIDS
Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã thành lập các cơ sở chăm sóc,văn phòng, trung tâm tư vấn, hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS. Đến năm 2015, Giáo hội có 08 trung tâm hỗ trợ, tư vấn người nhiễm HIV/AIDS hoạt động có hiệu quả cao.
Giáo hội đã tổ chức các lớp dạy châm cứu, dưỡng sinh cho nhân viên chăm sóc bệnh nhân HIV; mở phòng tư vấn sức khoẻ; tổ chức các khóa tập huấn, các cuộc hội thảo, hội nghị và tham quan học tập cho Tăng ni, Phật tử về phòng chống HIV/AIDS ở trong và ngoài nước. 
Học viện Phật giáo tại Tp. Hồ Chí Minh có trung tâm tư vấn HIV/AIDS, được nước ngoài tài trợ, hoạt động có hiệu quả cao, đã tư vấn cho người nhiễm HIV/AIDS, giúp họ hiểu bệnh và hòa nhập cộng đồng. Trung tâm còn tăng cường truyền thông khắc phục sự kỳ thịđối với người bị nhiễm HIV/AIDS.
2.5. Các hoạt động cứu trợ khác
Giáo hội Phật giáo các cấp đã vận động tài chính, vật phẩm cứu trợ đồng bào bị thiên tai; xây nhà tình nghĩa, ủng hộ nuôi dưỡng bà mẹ Việt Nam anh hùng; thăm hỏi, hỗ trợ các thương, bệnh binh, bệnh nhân nghèo tại các bệnh viện, trại phong, trại tâm thần, nhà dưỡng lão; ủng hộ quỹ bảo thọ,…
Vào giữa năm 2015, thiên tai xảy ra tại một số tỉnh miền Bắc, Giáo hội kịp thời raThông bạch vận động cứu trợ. Theo đó, chỉ riêng ở Lào Cai, Giáo hội đã trao 700 suất học bổng, mỗi suất 500.000đ, 02 máy vi tính và 01 nhà tình nghĩa.
Ngoài ra, Giáo hội còn tham gia cứu trợ quốc tế. Như ngày 25/4/2015, Nepal xảy ra trận động đất mạnh gây thiệt hại lớn và Giáo hội đã kêu gọi tăng ni, Phật tử Việt Nam phát tâm chia sẻ với nhân dân Nepal. Giáo hội đã chuyển đến Nepal số tiền 2.464.590.000đ, 2.700 USD, 100 đô la Úc, 4.700 Rupes. Ngoài ra, đoàn Ban Trị sự Phật giáo Tp.Hồ Chí Minh đã trực tiếp cứu trợ đồng bào Nepal số tiền 350.000 USD; đoàn Hệ phái Khất sĩ thăm và cứu trợ số tiền 180.000 USD.
Tổng hợp số liệu về công tác bảo trợ xã hội của Giáo hội Phật giáo, qua công tác từ thiện xã hội nói chung, là một con số rất lớn về kinh phí. 
Nhiệm kỳ VI (2007 - 2012): đạt 2.879.432.062.000 đ. 
Nhiệm kỳ VII (2012 - 2017), chưa có số liệu về từ thiện - bảo trợ xã hội cả nhiệm kỳ, song ở từng năm cho thấy:
  • Năm 2013 là 1.205.723.937.000 đ.
  • Năm 2014 là1.043.466.914.290 đ.
  • Năm 2015 là 1.164.148.761.000 đ. 
  • Năm 2016, hoạt động từ thiện nổi bật là Giáo hội hỗ trợ các chiến sĩ quần đảo Trường Sa trị giá 200 triệu đồng; trao 1000 xuất quà trị giá 600 triệu đồng giúp ngư dân bị thiệt hại do ngư trường bị ô nhiễm.
Như vậy, bảo trợ xã hội được Phật giáo triển khai liên tục, thường xuyên, có giá trị là rất lớn, tạo nên thành tích chung cho công tác bảo trợ xã hội nước ta. 

Đánh giá về công tác bảo trợ xã hội của Phật giáo 

Kết quả đạt được
Về cơ sở vật chất của các cơ sở bảo trợ xã hội:
Giáo hội và Phật tử đã đầu tư đáng kể về đất đai, cơ sở vật chất, trang thiết bị, xây dựng các cơ sở bảo trợ xã hội. Để bảo đảm nguồn lực cho bảo trợ xã hội, Giáo hội đã huy động được nhiều nguồn lực từ các tổ chức,cá nhân ở trong nước và cả quốc tế nên nhìn chung các cơ sở bảo trợ được khang trang và tiện dụng.
Về đội ngũ nhân viên, cộng tác viên của cơ sở bảo trợ xã hội:
Đội ngũ nhân viên, cộng tác viên trong các cơ sở bảo trợ của Phật giáo đa số là những sư trụ trì chùa, các cá nhân chức sắc và là Phật tử phát tâm thiện nguyện. Họ có ưu điểm là hội tụ được những phẩm chất tốt đẹp của đạo và đời, nên có tinh thần trách nhiệm cao, có tâm huyết, hết lòng thương yêu, chăm sóc đối tượng bảo trợ. Một số người có chuyên môn tốt do được đào tạo, bồi dưỡng, như y tá, y sĩ, bác sĩ, nhân viên phục hồi chức năng, trị liệu; là giáo viên các cấp và khi được thấm tinh thần yêu thương, từ bi hỉ xả của nhà Phật, nhiều người đã có vai trò là nhân tố phát triển, đoàn kết tại các cơ sở bảo trợ của Phật giáo.
Về chất lượng chăm sóc đối tượng bảo trợ xã hội:
Các cơ sở bảo trợ xã hội của Phật giáo quan tâm xây dựng môi trường an toàn, thân thiện mang đặc điểm Phật giáo giúp cho tượng phát triển cả về thể chất và tinh thần. Nhiều cơ sở ngoài việc bảo đảm chế độ chăm và nuôi, còn quan tâm theo dõi sự phát triển của đối tượng, lập hồ sơ quản lý họ theo quy định.
Đối tượng bảo trợ được Phật giáo nuôi dưỡng trong môi trường lành mạnh, nhờ đó, nhiều cháu từ đây trưởng thành, hòa nhập cộng đồng là công dân tốt.
3.1.4. Việc thu hút các nguồn lực
Các vị chức sắc, tu hành Phật giáo do luôn nghiêm trì giáo luật cũng như tuân thủ pháp luật Nhà nước mà không tham cầu vụ lợi riêng tư nên đã là một nguồn lực đáng kể của việc bảo trợ xã hội. Cũng vì thế, các tổ chức từ thiện, các nhà hảo tâm và người dân quyên góp cho cơ sở bảo trợ đều yên tâm rằng sự vật chất hoá tấm lòng, tình thương và nghĩa cử của họ đối với đối tượng xã hội cần được cưu mang, chăm sóc và phát triển sẽ được các vị chức sắc, tu hành Phật giáo nhận - giao - sử dụng đầy đủ, đúng mục đích, có hiệu quả cao.
Vì thế, các cơ sở bảo trợ xã hội Phật giáo có thể nguồn kinh phí còn chưa nhiều, nhưng nổi bật lên lại là tính ổn định, nên một số cơ sở có mức nuôi dưỡng đối tượng xã hội bằng, hoặc cao hơn mức ở các cơ sở bảo trợ xã hội công lập. 
3.1.5. Công tác quản lý của các cơ sở bảo trợ xã hội
Trong quản lý hoạt động chuyên môn, đa số các cơ sở bảo trợ xã hội Phật giáo đều chăm sóc, trợ giúp đối tượng theo sự hướng dẫn của cơ quan quản lý nhà nước và theo quy định của pháp luật.
Trong quản lý tài chính, tài sản,đa số các cơ sở chịu sự quản lý theo quy định của pháp luật, như tự giác thực hiện báo cáo tài chính định kỳ và hàng năm đối với cơ quan tài chính cùng cấp, cũng như với cơ quan quản lý nhà nước trực tiếp. Đây là một cố gắng lớn, khi mà nguồn kinh phí hoạt động của cơ sở bảo trợ Phật giáo rất đa dạng (như nguồn tự có, nguồn từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, nguồn đóng góp tự nguyện của đối tượng, nguồn hỗ trợ của Nhà nước).
Việc đăng ký hoạt động, tiếp nhận, chăm sóc đối tượng bảo trợcũng được đa số các cơ sở bảo trợ của Phật giáo thực hiện theo quy định của Nhà nước.
3.2. Khó khăn, tồn tại
Một là, về quản lý cơ sở bảo trợ:
Hiện nay, Phật giáo vẫn còn những cơ sở bảo trợ xã hội không đủ điều kiện pháp lý. Người quản lý một số cơ sở chưa nhận thức đúng về nghĩa vụ, trách nhiệm và lợi ích khi thực hiện thủ tục thành lập cơ sở bảo trợ xã hội theo quy định của pháp luật. Người đứng đầu một số cơ sở thiếu nghiệp vụ quản lý cơ sở bảo trợ, hoặc xem nhẹ sự phối hợp quản lý với các cơ quan quản lý nhà nước, quản lý xã hội. Việc đăng ký khai sinh, đăng ký hộ khẩu cho trẻ em bị bỏ rơi chưa được thực hiện đầy đủ, kịp thời.
Một số cơ sở tuyệt đối hóa việc làm nhân đạo, cưu mang những mảnh đời bất hạnh theo chức năng của nhà Phật mà chưa chú ý đến việc làm hồ sơ, thủ tục tiếp nhận đối tượng theo quy định của pháp luật.
Hai là, về đội ngũ nhân viên của các cơ sở bảo trợ xã hội:
Hiện nay, con người trong cơ sở bảo trợ xã hội của Phật giáo vẫn còn thiếu về số lượng và còn nhiều hạn chế về chất lượng. Không ít nhân viên chưa qua các lớp đào tạo, tập huấn về công tác xã hội, họ chưa có đủ trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cần thiết, nên ảnh hưởng tới hiệu quả việc chăm sóc, nuôi dưỡng đối tượng.
Ba là, về nguồn lực cho bảo trợ xã hội:
Một số cơ sở bảo trợ xã hội của Phật giáo vẫn có khó khăn về nguồn kinh phí để xây dựng và sửa chữa cơ sở vật chất. Nhiều cơ sở đang bị xuống cấp, thiếu các trang thiết bị cần thiết. Diện tích một số cơ sở bảo trợ còn chật hẹp, do đa số đặt tại các chùa, nên chưa đáp ứng được yêu cầu, chưa đạt tiêu chuẩn theo quy định.
Bốn là, hoạt động trong sự liên kết với mạng lưới bảo trợ công lập:
Hiện nay các cơ sở bảo trợ xã hội của Phật giáo thường mới chỉ tập trung vào việc chăm sóc, nuôi dưỡng các đối tượng thuộc diện đặc biệt khó khăn; chưa cung cấp các loại dịch vụ công tác xã hội cho đối tượng, do thiếu sự liên kết với các cơ quan phúc lợi xã hội, các cơ sở cung cấp dịch vụ chăm sóc, trợ giúp xã hội khác.
Trong khi đó, việc triển khai chính sách trợ giúp đối tượng bảo trợ xã hội của các cơ quan chức năng của chính quyền chưa thống trong việc thực hiện chính sách trợ cấp xã hội cho các đối tượng bảo trợ xã hội đang được chăm sóc, nuôi dưỡng tại các cơ sở của Phật giáo. Một số cơ sở chưa đủ tính pháp lý nên đối tượng bảo trợ chưa được giải quyết chính sách trợ giúp bảo hiểm y tế, miễn giảm học phí.

4. Những vấn đề đặt ra đối với Giáo hội Phật giáo và với hệ thống chính trị 

4.1. Vấn đề đặt ra đối với Giáo hội Phật giáo 
Thứ nhất, bảo trợ xã hội của Phật giáo với đối tượng là những người yếu thế của yếu thế xã hội, nên cần có hình thức quản lý đặc thù, song việc quản lý của các cơ sở này đang còn đơn giản, bất cập.
Giải quyết vấn đề này, trước hết về mặt nhận thức, các cơ sở bảo trợ cần tự giác về tính tất yếu khách quan của việc quản lý xã hội và quản lý nhà nước đối với hoạt động bảo trợ xã hội. Đối với các cơ sở bảo trợ của Phật giáo chưa được nhà nước công nhận, cần hoàn thiện các thủ tục pháp lý về việc thành lập và hoạt động.
Các cơ sở bảo trợ cần chủ động trong sự giúp đỡ của ngành quản lý nhà nước, xây thức dựng kế hoạch quản lý của mình. Đây là hoạt động có tính tiên quyết để cơ sở bảo trợ Phật giáo quản lý một cách khoa học, khắc phục sự chủ quan, buông lỏng và tuỳ tiện.
Giáo hội có thể lồng ghép việc tổ chức khóa bồi dưỡng trụ trì và tập huấn hành chính, kỹ năng quản lý tự viện, với nội dung quản lý cơ sở bảo trợ xã hội.
Thứ hai, bảo trợ xã hội của Phật giáo cần có nguồn lực phong phú, thường xuyên và việc này Phật giáo có ưu thế, song để bảo trợ phát triển bền vững, Giáo hội cần đa dạng hóa các nguồn lực ở cả trong và ngoài nước.
Về vấn đề này, Giáo hội trong khi phát huy thế mạnh thu hút nguồn lực, thì cũng cần phối hợp với chính quyền, Mặt trận Tổ quốc các cấp. Việc tiếp nhận các nguồn tiền, hàng do các cá nhân, tổ chức tài trợ do đó cũng đa dạng hình thức, hoặc để phân tán cho các cơ sở, hoặc tập trung về một đầu mối, điều này phụ thuộc vào năng lực của mỗi cơ sở bảo trợ và tính chât, quy mô của đối tượng tài trợ.
Thứ ba, chất lượng và sự tồn tại của mỗi cơ sở bảo trợ phụ thuộc trực tiếp vào đội ngũ nhân viên, song điều này đối với các cơ sở bảo trợ của Phật giáo vẫn còn hạn chế, bất cập. 
Vấn đề này để giải quyết phải bằng nỗ lực của Giáo hội Phật giáo song như thế chưa đủ. Giáo hội cần phải phối hợp, tranh thủ chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các ngành chức năng để được giúp đỡ về mặt đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho nhân viên, nhằm đảm bảo đủ tiêu chuẩn do nhà nước qui định.
Cơ sở bảo trợ của Phật giáo cũng nên thận trọng, thậm chí khắt khe hơn, trong khâu tuyển chọn và sử dụng nhân viên bảo trợ, có thể áp dụng cho cả trường hợp là người thiện nguyện (tự nguyện).
Ngoài ra, Giáo hội Phật giáo cũng nên giới thiệu, chia sẻ kinh nghiệm của các cơ sở bảo trợ xã hội điển hình, để nhân rộng ra các địa phương và các tôn giáo khác. Đồng thời Giáo hội cần kịp thời phát hiện, biểu dương cá nhân, tập thể đã đóng góp to lớn cho sự phát triển hệ thống bảo trợ xã hội.
4.2. Vấn đề đặt ra đối với hệ thống chính trị 
Thứ nhất, quản lý nhà nước đối với các cơ sở bảo trợ Phật giáo là nhiệm vụ của chính quyền các cấp, song hiện nay vẫn còn nặng tính chất hành chính nên hiệu quả xã hội - chính trị chưa cao.
Quản lý nhà nước đối với các cơ sở bảo trợ xã hội của tôn giáo, theo người viết, quan trọng hơn cả là tạo điều kiện thuận lợi để các cơ sở này phát huy được mọi ưu thế, phát triển không ngừng cả về quy mô và chất lượng.
Hiện nay, chính quyền các địa phương cần đẩy nhanh việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các cơ sở tôn giáo; cần tạo cơ sở pháp lý về quyền sử dụng đất cho các cơ sở bảo trợ xã hội của tôn giáo đảm bảo đủ điều kiện hoạt động. Nơi nào tôn giáo có nhu cầu giao đất để xây dựng cơ sở phục vụ công tác từ thiện xã hội, chính quyền địa phương cần căn cứ vào khả năng thực tế, vào nhu cầu cụ thể của nhân dân để giao quyền sử dụng đất cho các hoạt động bảo trợ xã hội của tôn giáo nói chung và của Phật giáo nói riêng.
Nhà nước có chính sách, pháp luật khuyến khích và tạo điều kiện để các tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp; cá nhân trong nước; tổ chức, cá nhân nước ngoài; người Việt Nam định cư ở nước ngoài tự nguyện giúp đỡ đối tượng bảo trợ xã hội.
Thứ hai, đối tượng bảo trợ xã hội trong các cơ sở Phật giáo cũng là đối tượng mà hệ thống chính trị quan tâm toàn diện, nhưng hiện nay sự quan tâm đó vẫn chưa được mở rộng.
  Vấn đề này có những yêu cầu toàn diện đối với các ngành, các cấp và các tổ chức chính trị - xã hội cần tăng cường sự phối hợp,với trách nhiệm cao và toàn diện, tới đối tượng bảo trợ xã hội trong các cơ sở bảo trợ của Phật giáo.
Quản lý nhà nước đối với các cơ sở bảo trợ xã hội của tôn giáocần giúp cho các đối tượng bảo trợ xã hội được dễ dàng trong đăng ký khai sinh, hộ khẩu, tạm trú; hướng dẫn thủ tục pháp lý để các đối tượng bảo trợ ở đây được hưởng trợ cấp xã hội theo quy định của pháp luật; tôn trọng, đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho chức sắc, nhà tu hành và cho cả các đối tượng bảo trợ xã hội tại các cơ sở bảo trợ của tôn giáo.
Các tổ chức thuộc hệ thống chính trị các cấp cần tổ chức các cuộc thăm hỏi, đối thoại, động viên các cơ sở bảo trợ xã hội của tôn giáo, qua đó nắm bắt được thực chất tâm tư nguyện vọng của chủ cơ sở và đối tượng được chăm nuôi để giải quyết theo chức năng và quyền hạn.
Truyền thông của nhà nước cần mở nhiều chuyên mục, đưa tin về các hoạt động bảo trợ xã hội; nêu gương người tốt, việc tốt trong hoạt động này của tôn giáo; khẳng định những điều tốt đẹp của đạo đức tôn giáo; đề cao lương tâm, trách nhiệm cộng đồng trong giải quyết các vấn đề xã hội, phê phán lối sống vô cảm, vô tình với đồng loại,… để hướng đến tăng cường khối đoàn kết đạo - đời.
Thứ ba, nhân viên bảo trợ xã hội là công lập hay dân lập đều phải bảo đảm tiêu chuẩn chung và việc này chính quyền có vai trò cốt yếu, nhưng hiện nay chính quyền trong đào tạo, bồi dưỡng nhân viên của tôn giáo cần hiệu quả hơn.
Vậy, các trường, lớp đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ công tác bảo trợ xã hội do chính quyền mở, thì bên cạnh các chương trình đào tạo, bồi dưỡng chung, cần xây dựng những môn học, nội dung học đặc thù, đáp ứng cho đối tượng đã và sẽ làm việc tại các cơ sở bảo trợ xã hội của tôn giáo. Các đối tượng học để làm việc cho các cơ sở bảo trợ xã hội của tôn giáo, thường là tự nguyện, không vì mục tiêu lợi nhuận, cần được hưởng chính sách ưu tiên, ưu đãi (như các trường của Đảng, Nhà nước có ưu đãi cho học viên là người dân tộc thiểu số và cán bộ cấp cơ sở...).
Nhà nước cũng nên có chính sách, pháp luật để các tôn giáo được mở trường, lớp đào tạo, bồi dưỡng công tác xã hội, do đó sẽ phù hợp, có hiệu quả hơn và lại đáp ứng nhu cầu tôn giáo được tham gia các dịch vụ công.

Kết luận

Phật giáo có ảnh hưởng rất lớn trong đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân Việt Nam, do đó hoạt động bảo trợ, từ thiện xã hội của Phật giáo được người dân ủng hộ và tham gia rất nhiệt tình. Bảo trợ xã hội được xem là một Phật sự trọng yếu của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Các hoạt động bảo trợ xã hội của Phật giáo đã đóng góp to lớn vào việc giải quyết những vấn đề xã hội của đất nước, góp phần củng cố niềm tin vào con người và chế độ, từ đó đoàn kết toàn dân và phát triển đất nước. Phát huy hơn nữa vai trò của công tác bảo trợ xã hội, Giáo hội Phật giáo cần đổi mới hơn nữa nội dung và phương thức công tác này. Giáo hội cũng mong muốn Đảng, Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi hơn cho công tác bảo trợ xã hội, từ phương diện chính sách, pháp luật cho đến chỉ đạo, quản lý cụ thể./.
 
 
 
 
 
 
 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Thông tư số 04/2011/TT-BLĐTBXH, ngày 25/2/2011, quy định tiêu chuẩn chăm sóc tại các cơ sở bảo trợ xã hội.
  2. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ tài chính, thông tư liên tịch, Số: 24/2010/TTLT-BLĐTBXH- BTC,18/8/2010, Hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 67/2007/NĐ-CP, ngày 13 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội và Nghị định số 13/2010/NĐ-CP ngày 27 tháng 02 năm 2010 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2007/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội.
  3. Chính phủ, Nghị định số 67/2007/NĐ-CP, ngày 13 tháng 4 năm 2007, về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội.
  4. Chính phủ, Nghị định số 68/2008/NĐ-CP, ngày 30/5/2008, quy định điều kiện, thủ tục thành lập, tổ chức, hoạt động và giải thể cơ sở bảo trợ xã hội.
  5. Chính phủ, Nghị định số 13/2010/NĐ-CP, ngày 27 tháng
02 năm 2010, về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2007/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội.
  1. Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Báo cáo Tổng kết công tác Phật sự năm 2015.
  2. Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Hội đồng trị sự, Báo cáo tổng kết hoạt động Phật sự nhiệm kỳ VI (2007 - 2012) của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, (Bản tóm tắt), tháng 11/2012 và Các báo cáo hằng năm từ 2013 – 6/2016. 
  3. Nguyễn Thị Minh Ngọc, Vài nét về hoạt động từ thiện xã hội của các tôn giáo tại Việt Nam hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu Phật học, số 3/2014.
  4. Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban Tôn giáo, Báo cáo tình hình tôn giáo và công tác tôn giáo các năm 2014, 2015 và 20167.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây