14. HOẠT ĐỘNG TỪ THIỆN XÃ HỘI CỦA GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM TỪ KHI THỐNG NHẤT ĐẾN NAY

Thứ ba - 04/09/2018 12:31
Bài tham luận của Vũ Sĩ Đoàn
 
Mở đầu
Trải qua hàng ngàn năm ra đời và được truyền bá vào Việt Nam, tư tưởng, giá trị của Phật giáo ngày càng được bổ sung, phát triển. Đặc biệt, sau hơn 35 năm thống nhất (từ năm 1981 đến nay), với phương châm “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội”, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã phát huy vai trò, sức mạnh của mình đồng hành cùng dân tộc, tiến hành công cuộc đổi mới trong tinh thần hòa hợp, đoàn kết với phương châm “phụng đạo, yêu nước”. Trong nhiều hoạt động “thế tục”, hoạt động từ thiện xã hội luôn được Giáo hội Phật giáo Việt Nam ở trung ương và tại các tỉnh thành quan tâm nhằm chia sẻ, giúp đỡ đồng bào, tín đồ còn nghèo qua đó thể hiện tinh thần từ bi, hỷ xả của đạo Phật và đạo lý tương thân tương ái của dân tộc Việt Nam. Hoạt động xuất phát từ đạo hạnh “Tâm tư bi” này còn đáp ứng tâm tư, nguyện vọng của đông đảo tăng ni, phật tử trên cả nước nên đã tạo thành phong trào có sức sống mãnh liệt, là nguồn cổ vũ cho phong trào “đại đoàn kết” của dân tộc. Thành tựu từ hoạt động “thế tục” này còn góp phần làm cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam ngày càng phát triển vững mạnh trong lòng dân tộc.   Nội dung
1. Thực trạng hoạt động từ thiện xã hội của Giáo hội Phật giáo Việt Nam 
Hoạt động từ thiện xã hội nhiệm vụ xã hội có ý nghĩa quan trọng luôn được Đức Phật quan tâm và truyền dạy cho các đệ tử, môn đồ của mình. Khi giảng về nhân duyên, Đức Phật cho rằng hết thảy chúng sinh trong đời này đều do thể nhân duyên hòa hợp, nương tựa vào nhau, đồng thời lấy tư tưởng “Vô duyên đại từ, đồng thể đại bi” và “đồng thể cộng sinh” làm cơ sở để thúc đẩy, phát triển hoạt động từ thiện xã hội. 
Trong Kinh Phật thuyết chư đức phước điển còn lưu lời dạy của Đức Phật về bảy pháp bố thí rộng rãi để tăng trưởng công đức phước báo, là nền tảng để thiết lập cái chung cho cộng đồng xã hội: Một là, xây dựng chùa pháp, phòng tăng, lầu các; hai là, dựng lập vườn cây ăn trái, bể tắm, cây cối mát mẻ; ba là, thường bố thí thuốc thang, chữa bệnh cứu giúp những chúng sinh tật bệnh; bốn là, đóng thuyền bền chắc, đón đưa nhân dân qua sông; năm là, lắp đặt cầu cống, giúp đỡ người già yếu; sáu là, đào giếng gần đường, giúp người khát nước được uống; bảy là, làm nhà vệ sinh, thí cho chỗ tiện lợi. Đấy là bảy việc được phước Phạm Thiên. Có thể thấy, bảy pháp bố thí tạo phước của Đức Phật đã thể hiện rõ “Tâm từ bi”, lòng luôn trắc ẩn vì nhân sinh, muốn đem những ân huệ được khởi từ tâm để ban niềm vui, an lạc, phước lành cho chúng sinh. 
Sau hơn 35 năm thống nhất, tinh thần “nhân sinh”, từ thiện xã hội của Đức Phật được Giáo hội Phật giáo Việt Nam, các chư tăng hòa thượng, thượng tọa, ni trưởng, ni sư và tín đồ Phật giáo luôn quán triệt và vận dụng vào cuộc sống hàng ngày. Chính vì thế, hoạt động từ thiện của xã hội của Giáo hội Phật giáo Việt Nam không ngừng coi trọng và phát huy tính tích cực của triết lý nhân sinh Phật giáo vào trong đời sống xã hội. Tình thương yêu và mến đạo của môn đồ, chúng sinh với Đức Phật nói chung, Giáo hội Phật giáo nói riêng ngày càng được bền vững. 
Ngay từ khi Giáo hội được thành lập, Ban Từ thiện Xã hội cũng nhanh chóng được tạo lập để kết duyên lành giữa Phật pháp với chúng sinh; giữa tăng, ni với tín đồ Phật tử. Ban Từ thiện Xã hội được thiết lập từ Trung ương đến cấp cơ sở gồm những vị hòa thượng trong Hội đồng Chứng minh, trong Hội đồng Trị sự và những vị hòa thượng, thượng tọa có uy tín, đức độ. Trong những năm qua, công tác nhân sự của Ban ngày càng được củng cố, phát triển về mọi mặt (đội ngũ nhân sự; công tác tuyên truyền; cơ sở vật chất;…). Ban từ thiện xã hội ngày càng được mở rộng trên nhiều lĩnh vực nhằm thu hút, kêu gọi được nhiều tín đồ Phật giáo có tâm đức, lòng thành tham gia. Trải qua hơn 35 năm thành lập, tổ chức hoạt động từ thiện xã hội của Giáo hội Phật giáo Việt Nam ngày càng được mở rộng đa dạng cả về hình thức và chương trình hoạt động:
Về xây dựng và mở rộng hệ thống Tuệ Tĩnh đường: Đức Phật cho rằng, bệnh tật là một trong những nỗi khổ lớn nhất của đời người, nó trực tiếp giày vò thân tâm người mắc bệnh với sự đau đớn, lo buồn và sợ hãi. Cho nên, muốn cứu người và thể hiện lòng từ bi, trước tiên phải giúp họ thoát khỏi nỗi khổ này. Trong quan niệm của Phật giáo, bệnh tật có mối quan chặt chẽ với “Tâm” và “Nghiệp” của mỗi người, nên thông qua việc chữa trị làm sao giúp cho người bệnh được an vui nơi tâm và dần xả bỏ những nghiệp xấu. Điều này sẽ giúp họ có đời sống nội tâm an lạc, thoải mái trong một cơ thể khỏe mạnh. Mặt khác, thông qua việc chữa bệnh sẽ góp phần phổ cập kiến thức y học, vận dụng y học Phật giáo vào trong thực tiễn cuộc sống và để truyền bá tư tưởng Phật giáo đến đông đảo quần chúng tín đồ. Vì vậy, Phật giáo luôn chủ trương, Phật tử phải thông thạo y học (Y phương minh) của Phật giáo để chữa trị hiệu quả cho người bệnh. Y học của Phật giáo là hệ thống kiến thức y học dùng để bảo vệ sức khỏe, chữa bệnh, nhằm xoa dịu nỗi đau về thân tâm con người. 
Ở Việt Nam việc duy trì và cải thiện cung cấp dịch vụ y tế cho người dân từ phía Nhà nước còn gặp nhiều khó khăn. Do đó, việc xây dựng và mở rộng hệ thống dịch vụ y tế mang tính phi lợi nhuận rất cần thiết, mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Dịch vụ này chú trọng đến những đối tượng yếu thế trong xã hội, nhất là với đồng bào đang sinh sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng đặc biệt khó khăn. Đối với Giáo hội Phật giáo Việt Nam, kế thừa và phát huy truyền thống của Đại lương y Thiền sư Tuệ Tĩnh, thực hiện chủ trương của Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, hệ thống Tuệ Tĩnh đường được thành lập khắp cả nước nhằm “phục vụ chúng sanh là cúng dường chư Phật”. Tuệ Tĩnh đường khám chữa bệnh miễn phí cho đồng bào bằng phương pháp y học dân tộc và y học hiện đại. Đây được coi là một nguồn lực xã hội tham gia hữu hiệu vào việc cung cấp dịch vụ y tế mang tính phi lợi nhuận cho cộng đồng xã hội. Năm 1999, tại nhiệm kỳ III của Giáo hội, cả nước có 25 Tuệ Tĩnh đường, 655 phòng thuốc chuẩn trị y học dân tộc đến nhiệm kỳ VIII năm 2012 lên đến 165 Tuệ Tĩnh đường, hàng trăm phòng chẩn trị y học dân tộc, châm cứu, bấm huyệt, khám và phát thuốc nam, thuốc bắc cho nhân dân trong cả nước. Trong đó, Ban Từ thiện Xã hội Trung ương thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã đào tạo được 250 tăng, ni có trình độ sơ cấp y tế và 98 lương y Tuệ Tĩnh đường để tăng cường hiệu quả cho hoạt động y tế nhằm chia sử gánh nặng cho xã hội và nhân dân trên tinh thần từ bi, trí tuệ của đạo Phật.
Trong những năm gần đây, do tính tích cực, nhân văn của hoạt động này nên nguồn lực tài chính phục vụ cho hoạt động của Tuệ Tĩnh đường ngày càng thu hút được sự quan tâm, giúp đỡ của các tổ chức xã hội, các tín đồ Phật tử. Tổng kinh phí cho hoạt động của Tuệ Tĩnh đường ngày càng tăng nhanh. Kinh phí phục vụ đã khám, chữa bệnh và phát thuốc trong nhiệm kỳ V (2002 - 2007) và nhiệm kỳ VI (2007 - 2012) với tổng giá ước tính khoảng 90 tỷ đồng. Nổi bật nhất là lớp học Y học cổ truyền của Thành hội Phật giáo Thành phố Hà Nội, các Tuệ Tĩnh đường chùa Pháp Hoa, tịnh xá Trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh, chùa Diệu Đế - Thừa Thiên -  Huế, Kiên Giang, Sóc Trăng, Cần Thơ, Cà Mau, Pháp Hoa - Đồng Nai, Bình Dương,… Riêng nhiệm kỳ V, trên toàn quốc, số lượng Tuệ Tĩnh đường và các phòng thuốc không thay đổi nhưng tổng trị giá khám, chữa bệnh và phát thuốc lên tới 35 tỷ đồng. Trong đó, hệ thống Tuệ Tĩnh đường tỉnh Đồng Nai đạt 11.921.956.000 đồng. Thành phố Hồ Chí Minh đạt trên 6 tỷ đồng, Thừa Thiên - Huế đạt 3.852.337.920 đồng. Phòng khám chữa bệnh đa phần là phòng khám đông y.
Về thành lập cô nhi viện và chăm sóc trẻ mồ côi, khuyết tật: Sau 35 năm thống nhất (1981 - 2016), Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam và các tỉnh, thành Hội Phật giáo đã xây dựng cơ sở nuôi dạy trẻ em mồ côi, khuyết tật trong cả nước. Trong nhiệm kỳ III, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã xây dựng được 116 cơ sở nuôi dạy trẻ mẫu giáo bán trú, nhà nuôi trẻ mồ côi, khuyết tật với trên 6.467 em. Đặc biệt, năm 2007, thầy Thích Phước Ngọc đã lập đề án, thành lập Trung tâm Cô nhi viện Phật giáo đầu tiên của Phật giáo Việt Nam mang  tên “Suối nguồn tình thương”. Từ thành tựu đó một số trường, cơ sở mới ra đời: Trường nuôi trẻ mồ côi Bồ Đề (Bình Dương); chùa Khánh Quang (Khánh Hòa); Trung tâm Từ thiện xã hội Phật Quang (Kiên Giang); Mái ấm Sen Hồng - nuôi dưỡng trẻ khuyết tật, trẻ ảnh hưởng chất độc da cam (Quảng Trị);…). Hiện nay, trong cả nước có trên 1.000 lớp học tình thương, 36 cơ sở nuôi dưỡng mẫu giáo bán trú, nôi dạy trẻ mồ côi, khuyết tật với trên 20.000 em. Nổi bật là Cô nhi viện Đức Sơn (201 em); chùa Long Hoa quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh (100 em), chùa Diệu Giác quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh (100 em).
Hoạt động xây dựng nhà dưỡng lão và chăm sóc người già không nơi nương tựa: trước yêu cầu thực tiễn của xã hội, với tinh thần từ bi, cứu khổ cứu nạn với những con người mình hạc xương khô lúc xế chiều mà không nơi nương tựa. Họ chỉ còn biết nương nhờ vào tâm thành “bố thí” của tín đồ Phật tử, Giáo hội Phật giáo đã thành lập được một số cơ sở dưỡng lão nhằm giúp đỡ những người già có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Khởi nguyên từ tấm lòng thương xót chúng sinh của một số ngôi chùa (năm 1988 tại Huế, sư cô Thích nữ Diệu Thành thành lập nhà dưỡng lão và chùa Đức Sơn, sau đó nhanh chóng mở rộng ra khắp các tỉnh, thành) cho đến nay Giáo hội đã xây dựng được 20 cơ sở nhà dưỡng lão, nuôi dưỡng trên 1000 cụ già. Cơ sở nhà dưỡng lão tập trung ở thành phố Hồ Chí Minh, nhà dưỡng lão có tại các chùa Pháp Quang, Lâm Quang (quận 8), Kỳ Quang 2 (quận Gò Vấp), Diệu Pháp (quận Bình Thạnh), Hoằng Pháp (huyện Hóc Môn)… đã nuôi dưỡng trên 500 cụ; tỉnh Thừa Thiên - Huế có nhà dưỡng lão Tịnh Đức, Diệu Viên… Bên cạnh đó, Giáo hội không chỉ quan tâm chu đáo đến đời sống vật chất, tinh thần cho các cụ mà còn lo chu đáo hậu sự khi các cụ lìa trần;…
Tích cực tham gia vào phong trào phòng và chống
HIV/AIDS: Ngài Lục Tổ Huệ Năng cho rằng: “Phải cố gắng học rộng nghe nhiều, phải biết bổn tâm mình, phải hiểu rõ đạo lý của chư Phật, phải hòa mình vào thế gian để cứu giúp người và vật, không phân biệt ta và người, nghĩ thắng đến quả vị Bồ đề.” Có thể thấy, quan điểm của Ngài Lục Tổ Huệ Năng đã thấm nhuần đạo đức, triết lý nhân sinh và triết lý hành động của Đạo Phật. Việc cứu dỗi chúng sinh khỏi lầm than, khổ cực khỏi bể khổ tham, sân, si là nhiệm vụ quan trọng của những bậc chính giác, môn đồ và Phật tử. Trong xoay vần, biến chuyển của xã hội, mỗi con người trong kiếp nhân sinh không giống nhau song những đối tượng yếu thế trong xã hội, nhất là những người bị mắc phải bệnh HIV/AIDS là vô cùng đau thương, khổ tủi. Để hướng tới một xã hội phát triển bền vững và chia sẻ nỗi đau, đồng cảm với những người bị bệnh đó là việc làm cần thiết của những người con của Phật. 
Trong những năm qua, công tác tư vấn và xây dựng cơ sở chăm sóc người bị nhiễm, ảnh hưởng bởi HIV/AIDS luôn được Ban Từ thiện Xã hội của Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam và Ban Từ thiện Xã hội ở các tỉnh, thành hội quan tâm thực hiện: Thành phố Hà Nội; Thành phố Hồ Chí Minh; tỉnh Thanh Hóa; tỉnh Thừa Thiên -  Huế; Thành phố Cần Thơ;… Trên cơ sở triết lý “vì đạo dấn thân, vì đời phục vụ”, nhiều chùa với cách làm của mình đã góp phần tích cực trong phòng, chống HIV/AIDS. Từ đó, chốn thiền môn là nơi cưu mang nương tựa cho những con người xấu số, thiệt phận mắc phải căn bệnh này. Một trong những điểm sáng của Phật giáo tham gia phòng, chống HIV/AIDS là chùa Pháp Vân (Hà Nội). Từ cuối năm 2002, Đại đức Thích Thanh Huân bắt đầu tiếp cận với người nhiễm HIV và gia đình họ, thầm lặng hỗ trợ tinh thần, giúp họ vượt qua khủng hoảng tâm lý. Từ đó đến nay, chùa Pháp Vân trở thành nơi người nhiễm HIV và người bị ảnh hưởng bởi AIDS ở quận Hoàng Mai (Hà Nội) và các quận lân cận có thể đến để được hỗ trợ trong thời điểm khó khăn nhất. Chùa còn đỡ đầu cho nhóm Vì ngày mai tươi sáng gồm 30 người nhiễm HIV đến sinh hoạt, chăm sóc, tư vấn cho nhau và cho cộng đồng và giúp đỡ thành lập Câu lạc bộ Hương Sen. 
Ngoài ra, các chùa Bồ Đề (Hà Nội) và Kỳ Quang II, Diệu Giác, Linh Sơn, Quang Thọ (Thành phố Hồ Chí Minh) đã huy động và hình thành mạng lưới tình nguyện viên ở cộng đồng để hỗ trợ người nhiễm HIV và ảnh hưởng HIV/AIDS. Với thành phần chủ yếu là những tăng ni, sinh viên tình nguyện, người dân ở cộng đồng và người có HIV, hình thành các nhóm “Tự lực” hay “Bạn giúp Bạn” dành cho người nhiễm HIV, đồng thời, giới thiệu việc làm, tạo thu nhập cho người nhiễm HIV…
Nguồn lực tài chính cho công tác tuyên truyền, chăm sóc người bị nhiễm HIV/AIDS cũng không ngừng được tăng nhanh qua các năm và được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau: từ sự phát tâm công đức cúng dường Tam bảo của tín đồ Phật giáo; từ các tổ chức phi chính phủ tài trợ; từ hoạt động sản xuất của chính những người bệnh;… Riêng năm 2008, chi phí hoạt động là 612.738.737 đồng và tăng nhanh trong những năm gần đây.
Một số hoạt động cứu trợ xã hội khác: Bằng tinh thần từ bi cứu khổ của đạo Phật và đạo lý, nhân văn của dân tộc, trong quá trình gieo duyên từ bi cho chúng sinh, hoạt động từ thiện của Giáo hội ngày càng đa dạng, phong phú về nội dung và hình thức. Dưới sự chỉ đạo của Trung ương Giáo hội, Ban Trị sự các tỉnh, thành của Giáo hội không ngừng nỗ lực vận động tài chính, phẩm vật để thực hiện một số hoạt động cứu trợ xã hội khác:
Hoạt động từ thiện đã kêu gọi đội ngũ tăng, ni, tín đồ Phật tử đã quyên góp giúp đỡ, cứu trợ cho đồng bào bị lũ lụt, thiên tai tàn phá ở các tỉnh miền núi Phía Bắc, miền Trung và Đồng bằng Sông Cửu Long; thăm và tặng quà cho đồng bào dân tộc sinh sống ở các tỉnh Tây Nguyên và Tây Bắc. 
Vào những dịp lễ lớn (Tết cổ truyền dân tộc; mùa Phật đản; mùa Vu lan báo hiếu;…), hoạt động từ thiện cũng tích cực tham gia phát quà, động viên thăm hỏi những gia đình chính sách, những đối tượng yếu thế trong xã hội. Giáo hội còn tích cực tham gia ủng hộ các quỹ khuyến học, bảo trợ học đường, quỹ thắp sáng ước mơ, ủng hộ nạn nhân chất độc màu da cam. Giáo hội đã hỗ trợ cho 22.028 ca mổ đục thủy tinh thể, 200 căn nhà tình nghĩa, 1876 căn nhà tình thương, 422 căn nhà đại đoàn kết, 30 lớp học tình thương, 03 trường mẫu giáo, ủng hộ và nuôi dưỡng trên 100 bà mẹ Việt Nam anh hùng, xây 250 cây cầu bê tông, đổ 27.000m đường xi măng, 370 chiếc xuồng, khoan 1510 giếng nước,… Những hoạt động cứu trợ này với số tiền lên đến 2.879.062.000 đồng. 
2. Kết quả và khuyến nghị một số giải pháp  
Hoạt động từ thiện xã hội của Giáo hội Phật giáo Việt Nam là hoạt động tích cực, tiêu biểu của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Trong 35 năm thống nhất (1981 - 2016), Giáo hội luôn nhận được sự quan tâm, tạo điều kiện của các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương, cùng với sự nỗ lực không ngừng của Giáo hội và tinh thần từ bi hỷ xả hướng thiện của đông đảo tăng, ni, Phật tử trong cả nước cho nên hoạt động từ thiện của Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã đạt được một số thành tựu cơ bản sau:
Thứ nhất, hoạt động từ thiện xã hội đã trở thành phong trào có ý nghĩa tích cực, to lớn của Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong những năm qua. Hoạt động này không chỉ thể thiện tinh thần nhập thế của Đạo phật mà nó đã phát huy được truyền thống “yêu nước, thương nòi”, “tương thân, tương ái” của đồng bào ta. Vì thế, hoạt động từ thiện trong Phật giáo Việt Nam đã nhanh chóng quy tụ, đoàn kết tấm lòng từ bi của đội ngũ tăng, ni và tín đồ Phật tử trong cả nước. Đồng thời, trong thực tiễn cho thấy, hoạt đồng này ngày càng được mở rộng, phong phú đa dạng về nội dung và hình thức.
Thứ hai, được sự quan tâm, chỉ đạo kịp thời của các cấp chính quyền, cơ quan chức năng, cơ cấu tổ chức quản lý hoạt động từ thiện xã hội của Giáo hội Phật giáo Việt Nam ngày càng được hoàn thiện. Ban Từ thiện Xã hội được thiếp lập từ Trung ương đến các tỉnh, thành Hội. Ban đã thu hút được sự quan tâm, tham gia của những vị chức sắc cao tăng có uy tín, đức độ trong Giáo hội tham gia. Ngoài ra, tham gia hoạt động của Ban còn có những cư sĩ, những mạnh thường quân và những doanh nghiệp, doanh nhân có tấm lòng chân thiện. Vì thế, những phong trào từ thiện do Giáo hội phát động luôn kịp thời và nhanh chóng được triển khai. 
Thứ ba, ngày càng xuất hiện mô hình tích cực, sáng tạo và tấm gương tập thể, cá nhân điển hình trong Giáo hội về hoạt động từ thiện xã hội. Những mô hình được khởi sinh, phát tâm nhằm hướng tới những số phận đau thương trong xã hội, nhất là những đối tượng không may bị nhiễm HIV/AIDS hoặc mô hình xóa đói giảm nghèo đảm bảo an sinh xã hội cho người dân. Những tấm gương của những bậc chân tu không quản ngày đêm đau đáu trước cảnh chúng sinh lầm lạc, khổ đau bởi kiếp trầm luân mưu sinh cuộc sống. Các bậc chân tu và tín đồ Phật tử luôn kêu gọi, quyên góp giúp đỡ những mảnh đời bất hạnh ở vùng sâu, vùng xa, vùng phên dậu của Tổ quốc. 
Như vậy, hoạt động từ thiện xã hội là một trong những hoạt động Phật sự lớn của Giáo hội Phật giáo Việt Nam từ khi thống nhất đến nay. Với tư tưởng “vô ngã, vị tha” của Đức Phật đã nhanh chóng thấm sâu vào mỗi tăng, ni và tín đồ Phật tử nên hoạt động từ thiện xã hội đã góp phần tạo niềm tin sâu sắc cho mọi đối tượng trong xã hội. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện hoạt động từ thiện xã hội của Giáo hội Phật giáo Việt Nam còn bộ lộ một số khiếm khuyết cần khắc phục trong thời gian tới: Hoạt động từ thiện của Phật giáo ở nhiều địa phương còn mang tính chất phong trào, thời vụ nên chưa mang lại hiệu quả thực sự cao; công tác tổ chức tự nguyện còn chưa được thống nhất, mang tính chất tự phát do điều kiện vật chất của từng cơ sở khác nhau; đội ngũ thuộc Ban Từ thiện Xã hội còn xa, ít có điều kiện họp, trao đổi kinh nghiệm thường xuyên; nguồn lực tài chính còn mang tính chất bị động chủ yếu từ nguồn kinh phí cúng dường Tam bảo của tín đồ Phật tử và một số mạnh thường quân. 
Để phát huy mặt tích cực, khắc phục một số khiếm khuyết, hạn chế trong hoạt động từ thiện xã hội của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, cần tập trung vào một số giải pháp cơ bản sau: 
Thứ nhất, tăng cường nghiệp vụ, chuyên môn cho đội ngũ tăng, ni và Phật tử trong Ban từ thiện xã hội từ Trung ương đến cấp cơ sở. Giáo hội Phật giáo Việt Nam cần kết hợp với một số cơ sở đào tạo mở những lớp chuyên đề chuyên sâu nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ về: bảo trợ xã hội; trợ giúp xã hội; người già neo đơn và trẻ em mồ côi; chính sách giảm nghèo;… Có được tập huấn sẽ giúp cho đội ngũ tăng, ni và Phật tử trong Ban từ thiện xã hội hình thành được những kĩ năng khi tiếp cận, triển khai các chương trình từ thiện mà Giáo hội thực hiện trong thời gian tới.
Thứ hai, chủ động hơn nữa việc quy tụ những tấm lòng trợ giúp của quý tăng, ni, Phật tử và các nhà hảo tâm trong xã hội. Nguồn lực tài chính phải được huy động từ nhiều nguồn song phải hướng tới tính bền vững. Giáo hội nên đứng ra phối hợp với các bộ, ban, ngành, tổ chức chính trị - xã hội liên quan trong việc xây dựng những cơ sở kinh tế, sản xuất nhằm giải quyết việc làm cho đối tượng yếu thế trong xã hội. Qua đó, tạo ra thu nhập cho người lao động và có kinh phí hoạt động cho các Ban Từ thiện Xã hội ở các địa phương. Ngoài ra, Giáo hội cần đẩy mạnh việc tuyên truyền, kêu gọi đến những tín đồ Phật tử ở hải ngoại giúp đỡ những hoạt động từ thiện, nhất là đối tượng là người già, người neo đơn, trẻ em mồ côi trong xã hội.
Thứ ba, đẩy mạnh hơn nữa công tác truyền thông về những tập thể, cá nhân tích cực, điển hình khi tham gia vào các hoạt động từ thiện xã hội của Giáo hội Phật giáo. Việc tuyên truyền tấm gương tích cực điển hình tránh hình thức và phải kịp thời truyền tải qua phương tiện tuyền thông (báo chí, internet; phát thanh, truyền hình…) hoặc tổ chức gặp mặt nói chuyện về kinh nghiệm hiệu quả những hoạt động tham gia của tăng, ni, Phật tử.
Thứ tư, hoạt động từ thiện cần được Giáo hội Phật giáo Việt Nam triển khai rộng rãi hơn đến những đối tượng yếu thế, cho đồng bào người dân tộc đang sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng “phên dậu” của Tổ quốc. Cần mở thêm những lớp học, bếp ăn từ thiện, nồi cháo tình thương nên phát triển tới nhiều địa phương, nhiều bệnh viện trong cả nước và triển khai rộng một số hình thức từ thiện xã hội khác như: cấp phát học bổng, tài trợ mổ tim, mổ mắt… 
Kết luận
Hơn 35 năm thống nhất, với truyền thống “hộ quốc an dân”, Giáo hội Phật giáo Việt Nam luôn đồng hành cùng với những thăng trầm của đất nước. Giáo hội đã thành lập được Ban Từ thiện Xã hội Trung ương và các cấp tỉnh, hội cơ sở nhằm chăm lo cho xã hội qua đó thể hiện tinh thần nhập thế của đạo Phật “ích đạo, lợi đời”. Những hoạt động từ thiện xã hội của Phật giáo đã góp phần đảm bảo an sinh xã hội cho người dân, nhất là những đối tượng yếu trong xã hội. Đồng thời, thông qua hoạt động từ thiện xã hội càng làm cho “tâm từ bi”, giá trị nhân văn, nhân đạo của Phật giáo ngày càng phát triển, lan tỏa đến mọi tầng lớp nhân dân. Có thể khẳng định, hoạt động từ thiện của Giáo hội Phật giáo Việt Nam từ khi thống nhất đến nay là đúng đắn thể hiện vai trò, trách nhiệm đạo Phật trong việc hành đạo, giúp người. Vì thế, trong những năm tới, Giáo hội Phật giáo Việt Nam cần phát huy hơn nữa vai trò của mình trong việc tham gia vào các hoạt động từ thiện xã hội của Nhà nước, của xã hội để chia sẻ những khó khăn của cộng đồng. Qua đó, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, và làm tỏa sáng hơn phương châm hoạt động của Giáo hội: “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội”.
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
  1. Ban Chấp hành Trung ương, Ban Chỉ đạo Trung ương (2015), Báo cáo tổng kết thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TW của
Ban Chấp hành Trung ương khóa IX về công tác tôn giáo (giai đoạn 2013 - 2015), Hà Nội.
  1. Nguyễn Minh Ngọc (2015), Giáo hội Phật giáo Việt Nam từ 1986 đến nay, Nxb. Phương Đông, Hà Nội.
  2. Giáo hội Phật giáo Việt Nam (2012), Kỷ yếu Hội thảo kỷ niệm 30 năm thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội.
  3. Giáo hội Phật giáo Việt Nam (2012), Văn kiện Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ VII - Nhiệm kỳ (2012 - 2017), Hải Phòng.
  4. Pháp Bảo Đàn Kinh (1999), Tư tưởng và cuộc đời Lục Tổ
Huệ Năng, Dịch và chú giải Đinh Sĩ Trang, National Library of Australia.
  1. Tùng thư Học viện Phật giáo Việt Nam (2014), Phật giáo và các mục tiêu thiên niên kỷ của Liên Hiệp quốc, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội.
  2. Tùng thư Học viện Phật giáo Việt Nam (2014), Phật giáo về phát triển bền vững và thay đổi xã hội, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội.
  3. Đại sư Tinh Vân (2015), Phật giáo và thế tục, Nguyễn Phước Tâm dịch, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội. 
 
 
 
 
 
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây