11. NÂNG CAO HIỆU QUẢ THAM GIA XÃ HỘI HÓA CÔNG TÁC XÃ HỘI, TỪ THIỆN CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Thứ ba - 04/09/2018 12:12
Bài tham luận của TS. Lê Bá Trình
 
Trong mỗi xã hội đều luôn tồn tại các nhóm người có hoàn cảnh, điều kiện sống khác nhau. Có nhóm người với mức sống cao, đầy đủ các điều kiện tổ chức cuộc sống (thuộc lớp những người giàu có về vật chất, cuộc sống no đủ, thậm chí dư thừa); nhóm người khác có mức sống trung bình; có nhóm người bị rơi vào hoàn cảnh khó khăn, không đủ điều kiện tổ chức cuộc sống, dễ bị tổn thương (hoặc có cách gọi khác là bộ phận “bên lề xã hội” về mặt đời sống, “nhóm người cùng khổ”). Trong khi đó, mọi thể chế chính trị và mọi nhà nước đều hướng đến việc rút ngắn khoảng cách về mức sống giữa các tầng lớp xã hội, nhất là giải quyết các vấn đề đối với “nhóm người cùng khổ” để  xây dựng một xã hội  mà mọi người đều có đời sống dồi dào về vật chất, phong phú về tinh thần, văn hóa làm mục tiêu hành động của mình, trong đó, ngoài trách nhiệm của nhà nước, các nguồn lực huy động từ xã hội để giải quyết vấn đề này có vai trò rất quan trọng.
Ở nước ta, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng chỉ rõ: “Tiếp tục hoàn thiện chính sách, khuyến khích tham gia của cộng đồng, nâng cao hiệu quả công tác trợ giúp xã hội... Đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động văn hoá, xã hội để thực hiện bảo đảm an sinh xã hội... Phát triển đa dạng các hình thức từ thiện, đẩy mạnh phong trào toàn dân tham gia giúp đỡ những người yếu thế”. 
Hoạt động nhân đạo, từ thiện của các tôn giáo nói chung và của Phật giáo nói riêng góp phần quan trọng vào kết quả thực hiện chính sách xã hội hóa công tác xã hội, nhân đạo, từ thiện ở nước ta. - Theo báo cáo của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, đến năm 2016 số người cần trợ giúp xã hội của Việt Nam chiếm hơn 25% dân cư trong cả nước. Trong đó có khoảng 9,4 triệu người cao tuổi, 7,2 triệu người khuyết tật, trên 9 triệu người có vấn đề sức khỏe tâm thần, 1,5 triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, khoảng 1,8 triệu lượt hộ gia đình cần được trợ giúp đột xuất hàng năm, 234.000 người nhiễm HIV được phát hiện, 204.000 người nghiện ma tuý, hơn 48.000 người bán dâm, khoảng 30.000 nạn nhân bị bạo lực, bạo hành trong gia đình, ngoài ra, còn nhiều phụ nữ, trẻ em bị ngược đãi, bị mua bán, bị xâm hại hoặc lang thang kiếm sống trên đường phố. Đồng thời, có khoảng 10% hộ nghèo, 5% hộ cận nghèo. 
Đến năm 2016 nước ta có 2,7 triệu đối tượng bảo trợ xã hội đã được giải quyết trợ cấp xã hội hàng tháng và cấp thẻ bảo hiểm y tế theo quy định tại Nghị định số 136/2013/NĐ-CP, trong đó: 37.348 trẻ em mồ côi; 88.594 người đơn thân nuôi con thuộc hộ nghèo; 1,495 triệu người cao tuổi trên 80 tuổi không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội; 90 ngàn người cao tuổi cô đơn, không nguồn nuôi dưỡng; 896.644 người khuyết tật nặng và đặc biệt nặng; 69.257 gia đình, cá nhân nhận chăm sóc tại cộng đồng; 8.185 người nhiễm HIV thuộc hộ nghèo. Mạng lưới các cơ sở trợ giúp xã hội đã được hình thành và phát triển trên phạm vi cả nước với 413 cơ sở trợ giúp xã hội, trong đó có 195 cơ sở công lập và 218 cơ sở ngoài công lập, gồm 32 cơ sở chăm sóc người cao tuổi, 73 cơ sở chăm sóc người khuyết tật, 141 cơ sở chăm sóc trẻ em, 102 cơ sở tổng hợp, 31 cơ sở chăm sóc người tâm thần và 34 trung tâm công tác xã hội. Kinh phí do ngân sách nhà nước chi trợ giúp xã hội gần 15.000 tỷ đồng/năm. 
Mặc dù nhà nước đã đầu tư một khoản ngân sách lớn nhưng vẫn chưa chăm lo hết các đối tượng cần trợ giúp xã hội mà cần sự góp phần của các tổ chức, cá nhân trong công tác xã hội theo phương thức xã hội hóa công tác xã hội. Các tôn giáo nói chung, Phật giáo nói riêng đã góp phần quan trọng thực hiện chủ trương này. 
1. Theo giáo lý của Phật giáo: Lục độ (Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, Trí huệ) là con đường dẫn đến sự giác ngộ, điều đầu tiên trong thực hành Lục độ là Bố thí. Đồng thời, giáo lý của Phật giáo khuyên con người thực hành từ, bi, hỉ, xả (Tứ vô lượng tâm) để đi đến con đường giải thoát. Công tác xã hội, nhân đạo, từ thiện của Phật giáo với mục tiêu cao cả hành thiện, cứu khổ là một trong những thể hiện của truyền thống “hộ quốc, an dân” của Phật giáo Việt Nam, mang ý nghĩa sâu sắc gắn kết đạo – đời trong quá trình “nhập thế” của Phật giáo, góp phần thực hiện xã hội hoá công tác xã hội, từ thiện để cùng với Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cả hệ thống chính trị bảo đảm an sinh xã hội, chăm lo phát triển cộng đồng, xây dựng cuộc sống an lạc cho nhân dân.
Đến năm 2016, Giáo hội có trên 150 cơ sở Tuệ Tĩnh đường, 655 phòng chẩn trị Y học dân tộc, 01 phòng khám đa khoa và hàng trăm phòng thuốc nam, châm cứu đang hoạt động có hiệu quả ở các địa phương như: Tp. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng, Cần Thơ, Thừa Thiên - Huế, Quảng Ngãi, Quảng Trị, Phú Yên, Ninh Thuận, Kiên Giang, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cà Mau, Vĩnh Long, Trà Vinh, Bình Dương, Bến Tre, Long An, Tiền Giang, An Giang, Đồng Tháp, Tây Ninh, Đồng Nai, Bà Rịa Vũng Tàu, Gia Lai, Bình Định… Các cơ sở này đã khám, chữa bệnh miễn phí và phát thuốc Nam, thuốc Tây, châm cứu, bấm huyệt cho hàng chục ngàn lượt bệnh nhân. Tổng chi phí điều trị ước tính hàng chục tỷ đồng.
Các lớp học tình thương, trường nuôi dạy trẻ khuyết tật, mồ côi… trong hệ thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam hoạt động có kết quả như: Trung tâm nuôi dạy trẻ mồ côi, khuyết tật, trẻ bị nhiễm HIV; Trung tâm hỗ trợ người bị nhiễm HIV/AIDS chùa Pháp Vân, chùa Thanh Am - Hà Nội; Trường nuôi dạy trẻ và khuyết tật, người già neo đơn tại Bắc Ninh, Thành phố Hồ Chí Minh, Thừa Thiên - Huế, Khánh Hòa, Bình Dương, Quảng Trị, Vĩnh Long, Bạc Liêu, Bà Rịa - Vũng Tàu, Kiên Giang, Tây Ninh … đã nuôi dưỡng hơn 3.000 trẻ em mồ côi, cơ nhỡ và khuyết tật; chăm sóc hơn 1.500 cụ già neo đơn.  
Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam các tỉnh, thành phố đã tổ chức được 10 trường, lớp dạy nghề miễn phí cho con em gia đình lao động nghèo, người khuyết tật với các nghề may, điện gia dụng, tin học, sửa xe, cắt tóc, xoa bóp bấm huyệt… 
Cùng với việc tham gia xã hội hoá công tác xã hội, từ thiện ở các cơ sở tập trung, Tăng, Ni, Phật tử của Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã tích cực hưởng ứng các phong trào ích nước lợi dân, ủng hộ tuyến đầu Tổ quốc, chiến sĩ biên phòng, Trường Sa, ủng hộ quỹ đền ơn đáp nghĩa, quỹ vì người nghèo, quỹ Bảo trợ trẻ em mồ côi, quỹ khuyến học, quỹ hội người mù, quỹ bảo trợ người cao tuổi, quỹ bảo trợ bệnh nhân nghèo; trợ giúp cấp thời người nghèo, người bị thiên tai; xây dựng cầu đường, xây nhà tình nghĩa, nhà tình thương, nhà dưỡng lão và nhiều công tác từ thiện khác… với tổng kinh phí cho công tác xã hội, từ thiện của năm 2016 là 1.330.513.688.000 đồng.
2. Quá trình tham gia xã hội hóa công tác xã hội, từ thiện của Phật giáo đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận như sau:
Công tác xã hội, từ thiện của các tôn giáo nói chung, Phật giáo nói riêng góp phần quan trọng vào việc thực hiện xã hội hóa công tác xã hội, nhân đạo, từ thiện, góp phần giảm gánh nặng về chi ngân sách của nhà nước trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng nhiều nhóm đối tượng bảo trợ xã hội khác nhau, trong đó tập trung là người khuyết tật, tâm thần, trẻ em mồ côi và bị bỏ rơi, người cao tuổi cô đơn, người nhiễm HIV/AIDS, nạn nhân bị bạo lực, bạo hành... và công tác chăm sóc,  giáo dục trẻ em có hoàn cảnh khó khăn ở bậc học mầm non. 
Các cơ sở trợ giúp xã hội của Phật giáo, về cơ bản thực hiện đầy đủ chức năng của công tác xã hội: Cung cấp các dịch vụ tiếp nhận, quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng các đối tượng bảo trợ xã hội; tổ chức hoạt động phục hồi chức năng, lao động sản xuất, dạy văn hóa, dạy nghề, giáo dục hướng nghiệp và cung cấp các dịch vụ công tác xã hội, đáp ứng nhu cầu trợ giúp xã hội cho đối tượng có hoàn cảnh khó khăn. Trong đó các cơ sở rất quan tâm việc dạy dỗ, giáo dục và tạo điều kiện cho các em tham gia học tập nâng cao kiến thức để hòa nhập với cộng đồng xã hội.
Công tác xã hội, từ thiện, giáo dục mầm non của Phật giáo hoạt động phi lợi nhuận, mang tính nhân văn cao cả nên được sự ủng hộ tích cực của xã hội, các nhà hảo tâm, là sự đóng góp tích cực của Phật giáo vào đời sống văn hoá, đạo đức xã hội.
Nhiều cơ sở giáo dục mầm non của Phật giáo đa dạng hóa các nguồn vận động tài trợ, xây dựng cơ sở vật chất ban đầu nên điều kiện vật chất, trang thiết bị phục vụ chăm sóc, giáo dục trẻ về cơ bản đảm bảo đúng quy định. Nhiều trường mầm non của Phật giáo có cơ sở vật chất khang trang, hiện đại, đạt chuẩn Quốc gia.
Các cơ sở giáo dục mầm non của Phật  giáo huy động trẻ em trên địa bàn đến trường/lớp đông bởi mức thu học phí phù hợp, thời gian đón trả trẻ linh hoạt (đón trẻ sớm, trả trẻ muộn), tinh thần thái độ phục vụ của các nữ tu, tăng ni hòa nhã, chăm sóc trẻ tận tình, chu đáo, tự nguyện, được phụ huynh tin tưởng.
3. Bên cạnh đó, việc tham gia xã hội hóa công tác xã hội, từ thiện, giáo dục mầm non của Phật giáo có những khó khăn, hạn chế như sau:
Các cơ sở trợ giúp xã hội của Phật giáo thường làm công tác nhân đạo, cưu mang, chăm sóc, nuôi dưỡng những mảnh đời bất hạnh. Do vậy, việc làm hồ sơ, thủ tục để tiếp nhận đối tượng vào chăm sóc, nuôi dưỡng chưa được thực hiện tốt theo quy định; nghiệp vụ quản lý, chăm sóc đối tượng còn yếu; việc đăng ký khai sinh cho trẻ em còn chưa kịp thời... Bên cạnh đó, các cơ sở trợ giúp xã hội của Phật giáo thường thiếu sự liên kết, kết nối mang tính hệ thống với các cơ quan phúc lợi xã hội, các cơ sở cung cấp dịch vụ chăm sóc, trợ giúp xã hội khác. Do đó, đến nay vẫn còn nhiều cơ sở trợ giúp xã hội của Phật giáo đã tổ chức nuôi dưỡng đối tượng bảo trợ xã hội nhưng không đủ điều kiện để thành lập cơ sở trợ giúp xã hội theo quy định. Điều này dẫn đến một số đối tượng bảo trợ xã hội sống trong các cơ sở này chưa được giải quyết các chính sách trợ giúp xã hội như bảo hiểm y tế, miễn giảm học phí theo quy định của pháp luật.
Các cơ sở trợ giúp xã hội của Phật giáo hiện nay mới chỉ tập trung vào việc chăm sóc, nuôi dưỡng các đối tượng bảo trợ xã hội thuộc diện đặc biệt khó khăn không tự lo được cuộc sống. Một số cơ sở trợ giúp xã hội có cơ sở vật chất xuống cấp, thiếu các trang thiết bị phục hồi chức năng; các cơ sở gặp nhiều khó khăn về chủ động nguồn kinh phí để bảo đảm hoạt động, nâng cấp cơ sở vật chất và chăm sóc đối tượng, đào tạo nhân viên.
Nhân viên công tác xã hội làm việc tại các cơ sở trợ giúp xã hội của Phật giáo còn thiếu về số lượng, chưa được đào tạo chuyên nghiệp về công tác xã hội, thiếu kỹ năng và phương pháp chăm sóc khoa học, hỗ trợ đối tượng hòa nhập cộng đồng. Về giáo dục mầm non, các nữ tu sĩ của Phật giáo chỉ làm nhiệm vụ quản lý (Hiệu trưởng), không thể đứng lớp vì trang phục của người tu hành không phù hợp với quy định của ngành giáo dục.
Chất lượng chăm sóc, trợ giúp xã hội của một số cơ sở trợ giúp xã hội của Phật giáo còn hạn chế, chưa thực hiện theo tiêu chuẩn chăm sóc quy định tại Thông tư số 04/2011/TT-BLĐTBXH ngày 25/2/2011 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định tiêu chuẩn chăm sóc tại các cơ sở bảo trợ xã hội.
Công tác quản lý nhà nước tại các tỉnh, thành phố đối với các cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng các đối tượng bảo trợ của Phật giáo còn mang tính chất hành chính; chưa chủ động tiếp cận, hướng dẫn, giúp đỡ các cơ sở cũng như chưa kịp thời chấn chỉnh đối với các cơ sở hoạt động chưa đúng quy định. Các cơ quan chuyên môn liên quan ở các tỉnh, thành phố chưa chú trọng xây dựng kế hoạch kiểm tra, thanh tra các cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng đối tượng bảo trợ xã hội định kỳ và đột xuất.
4. Khuyến nghị giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả tham gia xã hội hoá công tác xã hội, từ thiện của Phật giáo:
-  Về chủ trương, chính sách, biện pháp của công tác quản lý nhà nước.
Tiếp tục thực hiện đúng và đẩy mạnh hơn nữa việc triển khai các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về phát huy vai trò các tôn giáo nói chung và của Phật giáo nói riêng tham gia xã hội hóa công tác xã hội, nhân đạo, từ thiện. Cụ thể hoá một cách phù hợp với pháp luật và với yêu cầu thực tế về phát huy vai trò của Phật giáo tham gia xã hội hóa công tác tác xã hội, nhân đạo, từ thiện tại Điều 55 của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo quy định việc cá nhân, tổ chức tôn giáo tham gia hoạt động giáo dục, y tế, bảo trợ xã hội, từ thiện, nhân đạo.
Nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước trong việc rà soát, kiểm tra, chấn chỉnh, hỗ trợ các hoạt động của các cơ sở trợ giúp xã hội do các cá nhân, tổ chức của Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức thực hiện nhằm củng cố, phát triển, nâng cao chất lượng công tác xã hội của Phật giáo, góp phần thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ về xã hội hóa công tác xã hội trên phạm vi toàn quốc.  Tăng cường công tác phối hợp giữa Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Ban Tôn giáo Chính phủ và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Giáo hội Phật giáo Việt Nam với chính quyền các cấp trong việc quản lý, kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ sở trợ giúp xã hội của Phật giáo để kịp thời hướng dẫn, thực hiện các biện pháp tháo gỡ những vướng mắc về thành lập hoặc hoàn thiện thủ tục thành lập theo đúng quy định; công tác hướng dẫn, hỗ trợ về chuyên môn, thực hiện chính sách của Nhà nước đối với các đối tượng đang được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục tại các cơ sở.
Tổ chức các hoạt động chia sẻ kinh nghiệm, nhân rộng các mô hình cơ sở trợ giúp xã hội điển hình của Phật giáo ra các địa phương và các cấp của Giáo hội; kịp thời phát hiện, biểu dương cá nhân, tập thể đã làm tốt công tác xã hội hóa, góp phần phát triển hệ thống trợ giúp xã hội.
Định kỳ và thường xuyên tổ chức các khóa đào tạo, lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ công tác xã hội theo từng lĩnh vực cho các cá nhân, tổ chức hoạt động trong các cơ sở trợ giúp xã hội của Giáo hội.
- Đối với Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Rà soát việc tổ chức và hoạt động của các trung tâm công tác xã hội của tôn giáo mình để tìm ra những khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện các thủ tục pháp lý; nhu cầu cần hỗ trợ về chuyên môn, nghiệp vụ để đề xuất với ngành Lao động - Thương binh và Xã hội, ngành Y tế, ngành Giáo dục và Đào tạo, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giải quyết.
Tổ chức các hội thảo chia sẻ kinh nghiệm, nhân rộng các mô hình với mục tiêu nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xã hội của các tôn giáo, cụ thể:
+ Công tác quản lý, điều hành, hoạt động chuyên môn của các cơ sở; phương thức liên hệ, phối hợp giữa người điều hành cơ sở với chính quyền và các ngành chức năng liên quan ở địa phương để bảo đảm cho cơ sở hoạt động đúng quy định của pháp luật, kịp thời giải quyết những vướng mắc xẩy ra.
+ Việc tiếp nhận, quản lý, sử dụng các nguồn tiền, hàng do các cá nhân, tổ chức tài trợ cho công tác xã hội công khai, minh bạch, đúng quy định pháp luật và phục vụ công việc hiệu quả.
Cùng với những đợt cứu trợ, giúp đỡ giải quyết những khó khăn đột xuất của người dân như thiên tai, đáp ứng nhu cầu cấp thiết trong sinh hoạt hằng ngày của người nghèo..., Ban Từ thiện Xã hội của Giáo hội cần nghiên cứu quy hoạch mạng lưới trung tâm hoạt động xã hội của nhà nước để xây dựng kế hoạch, quy hoạch xây dựng các trung tâm công tác xã hội theo từng lĩnh vực để tránh sự thiếu đồng bộ, chồng chéo, đồng thời nâng cao hiệu quả tham gia xã hội hóa công tác xã hội, từ thiện của Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
 
 
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
 
  1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2016.
  2. Cổng Thông tin điện tử Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, cập nhật ngày 01/12/2016. http://www.molisa.gov.vn/vi /Pages/chitiettin.aspx?IDNews=26181.
  3. Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Báo cáo tình hình các tôn giáo tham gia hoạt động trợ giúp xã hội và dạy nghề, ngày 24/02/2017.
  4. Tổng kết công tác Phật sự năm 2016 của HĐTS TƯ GHPGVN, Nguồn: Ban Thông tin Truyền thông của GHPGVN.
  5. Phỏng vấn sâu tại Trường Mầm non Quảng Tế thuộc GHPGVN tỉnh Thừa Thiên - Huế.
  6. Quốc hội. Luật số: 02/2016/QH14. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 18 tháng 11 năm 201
             
 

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây