36. KIẾN TRÚC PHẬT GIÁO NAM TÔNG KHMER “KẾ THỪA VÀ PHÁT TRIỂN”

Thứ bảy - 08/09/2018 19:42
KIẾN TRÚC PHẬT GIÁO NAM TÔNG KHMER “KẾ THỪA VÀ PHÁT TRIỂN” Hòa thượng ThS. NCS. Danh Lung*
 
  1. Điều kiện tự nhiên, người Khmer Nam Bộ và tôn giáo
 
  • Việt Nam là một quc gia đa tộc ngưi, đa văn hóa và đa n ngưng n go. Mỗi tộc ngưi và mi vùng miền, có nhng nét văn hóa đc sắc riêng tạo nên nét thống nhất trong đa dạng của văn hóa quốc gia Việt Nam.

Vùng đất Nam Bthuộc hạ lưu sông Mê Kông, sông Vàm Cỏ, sông Đồng Nai và tiếp giáp vi Biển Đông, gm 19 tỉnh - thành. Nam Bộ có biên gii trên bộ giáp vi Campuchia, có vùng lãnh hải rng lớn, giáp vi các nưc Philippines, Malaysia, Thái Lan và Campuchia. Nam Bộ là vùng đồng bằng, vùng đất thấp thưng bị ngập nưc, có đồi núi, sông bin, có nguồn đất đai rộng ln, màu mở phì nhiêu, có rng nguyên sinh bc ngàn, đồng ruộng mênh mông, động thc vật phong phú và đa dạng,… là nguồn cảm hng trong sáng tạo văn học và nghệ thuật tạo hình của các tộc người anh em….
  •  
  • Ngưi Khmer là một tộc ngưi có mặt rất sm tại vùng đất Nam Bộ, là một trong 54 dân tc anh em của đại gia đình các dân tộc Việt Nam, vi dân số gần 1,5 triệu ngưi, đang sinh sống tại 19 tỉnh thành và gn đây có một số ít di cư sinh sống tại một số tỉnh miền Trung và Tây Nguyên. Ngưi Khmer có tiếng nói chữ viết từ lâu đi, có hệ thống giáo dục, có văn hóa đặc sắc tại vùng đất Nam Bộ.

* y viên Thường trực Hi đồng Trsự, Phó văn phòng 2 Trung ương GHPGVN.
 
  • Là tộc ngưi sống tập trung trên vùng đất Nam Bộ, nơi có nhiều đi núi, sông suối, rng rm, có nhiu thú rng, nhiều cây rng quý hiếm… để tn tại và phát triển, họ biết khai thác rng, làm ruộng trng lúa nưc, làm ry, đóng  bè, đóng ghe làm phương tiện đi săn bn, chuyên chở hàng hóa, làm phương tiện đi lại v.v. hình ảnh ghe thuyền ngày xưa nay đưc tái hiện thành ghe ngo trong môn thể thao rất hấp dn ca cư dân Nam Bộ. Trong quá trình lên rng xuống biển hay trng trọt, chăn nuôi vì sinh tồn, mặc dù đưc thiên nhiên ưu đãi, nhưng cũng có nhng trở ngại bi thú rng thiên tai, nhng gì vưt quá khả năng của họ phải nhờ đến đấng thiêng liêng đn đnh tinh thần, là động lc để họ vươn lên trong cuộc sống, nên hình thành nhng tín ngưng tôn giáo dân gian, như: Trồng trọt thờ thần Nông, xuống đng chăn nuôi, chặt đốn rng ththn Mrinh Vel (Mục đồng), cầu mong phum sróc đưc bình yên thờ Nắc Ta phum sróc (thần đất đai thtrạch), lên núi rng săn bắt, chặt đốn cây thờ Nắc Ta phnum (Sơn thần),… Về sau, dân số ngày càng đông, việc khai thác tài nguyên thiên nhiên, lao động sản xuất ngày càng phát triển, việc giao lưu trao đổi hàng hóa vi các nưc vùng lân cận li đưc mrộng, như giao lưu, buôn bán vi thương gia Ấn Độ theo đạo Bà La Môn,… từ đó ngưi Khmer Nam Bộ dần dần tiếp thu văn hóa Bà La Môn giáo, di tn của văn hóa đó còn tồn tại đến ngày nay như: thờ Linga Yoni (Ngọc dương sản môn), Brah Pưssnuka (thần kiến tạo), Kroong Pia Li (thần Hoàn Bổn Cảnh) trong cưi gả, làm lễ hiMỗi loại hình thờ cúng đều có kiến trúc, có lễ vật, có nghi lễ riêng. Đến Pht lch 218 (TK III trưc Công nguyên), cũng theo con đưng tơ lụa, từ Cảng sông Hng và một số Cng khác, người Ấn Độ theo Phật giáo Theravada khi trên đưng buôn bán, tìm kiếm khai
 
thác mỏ vàng, đá quý, trm hương… ở các núi đảo hay đất liền, vùng Suvaṇṇabhūmi - Kim Biên Thành (vùng Đông Nam Á), hthnh tưng Phật và chư tăng theo đoàn buôn để ban phưc lành, tránh nhng điều rủi ro. Thương nhân Ấn Độ ghé vào cảng Ô Keo (nay gi trại thành Óc Eo), để trao đổi buôn bán vàng, ngọc, đá quý vi cư dân Phù Nam, nên nơi đây đưc ngưi Khmer gi là Ô Keo (Rạch Ngọc). Hai vị thánh tăng Soṇatthera và Uttara Thera làm trưởng đoàn truyền giáo pháp về hưng Suvaṇṇabhūmi, dưi sự bảo trợ của vua Asoka (A Dục Hoàng đế) cùng vi sự hộ tăng của ngưi Ấn tơng gia và thmỏ. Đoàn ghé vùng Ô Keo truyền giáo pháp rồi đi đến một số nơi, khi có nhiều Phật tử giác ngộ Phật pháp, quý Ngài quay về núi đảo nơi đt chân đầu tiên truyền giáo pháp, gặp lại chư tăng, Phật tử rồi mi trở về Ấn Độ, trên núi này ngưi Khmer còn thy bàn chân của quý Ngài nên thưng gọi là phnum Bādathera, kêu trại thành phnum Batther nay gọi là núi Ba Thê.

Như vy có thể khẳng đnh ngưi Khmer Nam Bộ đã có truyền thống lâu đi theo tín ngưng - tôn giáo dân gian, Bà La Môn giáo rồi đến Phật giáo Theravada. Trong quá trình lao đng sản xuất, cng cư, sinh hoạt và phát triển tín ngưỡng - tôn giáo, cùng vi khối óc sáng tạo và thiên nhiên ưu đãi, đã sản sinh ra nhng dòng văn hóa đặc sắc, nhng dòng nghthuật tạo hình, nghệ thuật kiến trúc thể hiện qua các ngôi chùa khang trang, đsmà không kém phn thiêng liêng, thanh tnh, để phục vụ đi sống tâm linh của ngưi Phật t. Mỗi chi tiết, mỗi đưng nét trong nghệ thuật kiến trúc đã nói lên nhng sinh hoạt thưng ngày của ngưi vùng đất nưc ngập, mỗi thloại hoa văn đưc cách điệu từ hoa lá, đã nói lên sự gn gũi vi thiên nhiên; mỗi hình ảnh bằng phng hay chìm nổi trên vách chùa, nói lên tác
 
phm sử tích, nhng li dy quý báo của Phật đạo, là động lc để chư tăng, Phật tử Khmer Nam tông Khmer phấn đấu tu tập và đã trở thành nguồn cm hng thu hút sự tìm tòi, nghiên cu của các học giả, các nhà khoa học, và du khách gn xa.
  1. Kiến trúc Phật giáo và thực trạng

Phật giáo tuy đến vi ngưi Khmer muộn hơn các tôn giáo khác nhưng lại đưc đón nhận một cách trân trọng nhất và phát triển rất mnh trong các cộng đồng phum sróc. Bên cạnh sự phát triển mnh mẽ của pht giáo luôn có stồn ti của các yếu tố Bà La Môn giáo và tín ngưng dân gian Khmer Nam Bộ như tục thờ Neat Ta hay A Rắk. Ngày xưa ngưi Khmer có lúc theo Phật giáo Đại tha n Độ (Mahāyāna), hiện nay còn theo hai hPhật giáo khác là: Dhammayuttakanikāya và Mahānikāya. Tt cả các hệ phái này đã tạo thành cơ hội để Phật giáo luôn chủ đạo ảnh hưng chi phối trong mi sinh hoạt hàng ngày của ngưi Khmer, từ lúc sinh ra đến vic đi học ri cưi gả, từ bệnh tt đến qua đi… luôn có sự hiện diện hình ảnh của Phật giáo. Chúng ta cũng dễ thy hơn nữa là hầu hết các con trai Khmer Nam Bln lên phải đi vào chùa tu gieo duyên một thi gian, các con gái vào chùa học kinh, hc ch, thắp nhang nơi thờ cốt ông bà… hay chúng ta thy, mặt dù hoàn cảnh kinh tế gia đình còn khó khăn, nhưng chùa ở phum sróc nào cũng luôn đưc khang trang, sạch, xanh, đẹp, có không gian thóang mát, yên tĩnh, có bc phù điêu sống đng, tráng l, làm cho ngưi đến chùa vơi đi những khó khăn, bun phiền, mệt nhọc trong cuộc sống hằng ngày. Để làm đưc như vy, chư tăng, Phật tử Khmer Nam Bộ biết kết hp hài hòa gia điều kiện tự nhiên, tín ngưng dân gian và Bà La Môn giáo vi Phật giáo Nam tông tạo nên ngôi chùa Khmer vi nhiều
 
chc năng, biết qui hoạch chùa trong phum sróc không tha không thiếu, biết chọn phương pháp bcục công trình, bố cục không gian, biết kết hp nghệ thuật tạo hình hp lệ, hài hòa và đặc sắc.
    1. Về chức năng

Chùa Nam tông Khmer có chc năng là nơi để tu hành, nơi thờ cúng ông bà, là trung tâm giáo dục đào to, dy điu hay lẽ phải và dy học tiếng nói chữ viết, nơi trao đổi kinh nghim trong cuộc sống và chuyn giao khoa học kthuật; là trung tâm bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa vật th, phi vật thể, là nơi sinh hoạt văn hóa lhội của cộng đng; chùa còn gọi là Ārāma: là công viên ca phum sróc, nơi đem lại sự an vui, sự vui thích cho mọi ngưi. Từ đó khi xây dựng chùa, chư tăng, Phật tử Khmer luôn ngđến việc xây dng đy đủ các công trình để phục vụ sinh hoạt, cụ thể phải có: Chánh điện, phước xá, tăng xá, trưng học, thư viện, trưng thiền, phòng trưng bày bảo tồn văn hóa, tháp cốt, tưng rào, cổng chùa, công viên, hao, có khu vc để chơi trò chơi dân gian hay văn nghvà mt số công trình phụ khác.
  1. Về phương pháp

Chùa Phật giáo Nam tông Khmer đưc y dng theo phương pháp ngũ đim, đối xng và phát triển theo bốn hưng. Trên cơ sở đó công trình chính đưc đt ở trung tâm, các công trình phụ luôn hướng về trung tâm. Có hai cách bố cục không gian là: không gian khép kính và không gian m, hay nói cách khác là không gian đng và không gian tĩnh.
  1. Về nghệ thuật tạo hình
 
Để tạo thành mô hình kiến trúc chùa đặc sắc, chư tăng, Phật tử Khmer Nam Bộ xây dng ý tưng t: điều kiện tự nhiên, đa lý, li hay ý đẹp trong cuộc sống kết hp vi triết lý tôn giáo; điều kiện kinh tế và vật liệu xây dng sẵn có ở địa phương kết hp hài hòa với vật liệu khoa học. Từ đó, chúng ta thy chùa Khmer Nam Bộ rt uy nghi, đồ sộ nhưng không nặng nề, xa lạ, lại rất nhẹ nhàng, rất gần gũi với thiên nhiên, gắn bó vi con ngưi; khi bưc vào chùa không chỉ giúp cho chúng ta tìm thy nim tin, tìm thy tâm linh, không chỉ có không gian thóang mát, ngm cảnh đẹp mà còn giúp cho chúng ta tìm thy ở nơi chùa nhng chân lý, lẽ phải trong cuộc sống ghi trong kinh điển hay đưc thể hiện qua đường nét lồi m của nghệ thuật tạo hình.

Chủ đề trang trí tạo nh thưng đưc nghệ nhân cách điệu từ hoa lá, cỏ cây thiên nhiên, như Phơ - Nhi Phơ - lơng: Bông la, Phơ - Nhi Vol: Bông loài dây leo, Lô - Bosk Chhoóc: Cành sen…hay cách điu từ loài thú như Ê ra: Rồng con, Chô -ve: đuôi rồng, Garuda: Chim đà điểu, Ko - Ngook: con công, và thn rắn Nāga trong truyền thuyết “Khuy Biển Sa”… hay cách điu từ Búp sen, Bát úp thành ngọn tháp trong xây dng chùa Khmer Nam B.

Về thể loại câu chuyn thường đưc trang trí trên vách hay trần, tranh đắp hay tranh vẽ luôn da trên điển tích Phật giáo gắn liền vi cuộc đời hành đạo của Đc Phật Thích Ca như Túc Sanh truyện (Jataka), trong kinh pháp cú, hay trong Ngã qus… nhm giáo dục con ngưi từ bỏ cái ác đến vi cái thiện.

Trên cơ s: chc năng, phương pháp và nghthuật tạo hình, chúng ta thy chùa Khmer Nam Bộ đưc bố cục trên mặt bằng tổng thể, to không gian hợp lý, có đy đủ các công trình
 
phục vụ, mỗi công tnh đưc bố trí, sắp xếp một cách hp lý, thóang mát, uy nghi, cthể như:

d. Về quy hoạch


Chùa Khmer Nam Bthường đặt ở trung tâm phum sróc, va thuận tiện cho vic đi lại của Phật t, va là trung tâm lãnh đạo tinh thần, bi quan đim của Phật tử Khmer Nam Bnhng gì quan trọng nhất phi đặt ở trung tâm. Chùa Khmer đưc bao bộc bi hàng cây cthụ sum suê va thóang mát, thanh tnh, va có khoảng cách an toàn gia đạo và đi tạo nên không gian yên tĩnh; chùa luôn đặt trên đất gò, nn đất cao, va để tránh thú dữ hay tránh ngập nưc, va tạo sự uy nghi, n đnh tinh thần cho ngưi dân trong phum sróc. Sau này phum sróc càng phát triển, chùa phát triển không kp, không đáp ng đưc bán kính phục vụ như ban đầu.
    • Về mặt bng tng th

Thông thưng chùa Khmer Nam Bộ đưc bố trí theo phương pháp ngũ đim, phương pháp đối xng. Có hai cách tạo không gian, vi chánh điện là công trình chính luôn đặt ở trung tâm, chi phối các công trình còn li. Tuy nhiên về sau cũng có nhng chùa mở rộng diện tích, không gian cũng bthay đổi không còn như ban đu.
    • Về các công trình:
+ Chánh đin

Chánh điện là công trình chính, nơi thờ ngôi Tam Bảo luôn đặt ở trung tâm của các công trình phụ, thưng có hai bậc nền, mi bậc có hàng rào xung quanh và có cổng đi vào, đặt trên nền cao va thể hiện đưc cõi ngưi thu nhỏ luôn tồn tại ngôi Tam Bảo, nền cao va tưng trưng cho núi Mê Ru của Bà La Môn

451
 
giáo (trong Phật giáo gọi là Tu Di sơn), lại va tránh ngập nưc, tránh thú dữ nơi; cũng có một số chùa do diện tích chật hẹp không tạo đưc hai bậc nền như trên. Phía đông chánh điện thưng bố trí tháp cốt thờ ông bà, cũng có những chùa bố trí tháp cốt cả phía Bắc và phía Nam song song vi chánh điện. Hưng chính ca chánh điện dù điều kiện đa lý thế nào cũng chọn hưng Đông, xuất phát từ ý tưng Đc Phật thành đạo ngồi dưi cội Bồ đề quay mặt về hưng Đông. Mặt khác Phật tử Khmer Nam Bộ có quan nim hưng Đông là hướng sinh sôi ny n, hưng mát mẻ, họ mong sao ông bà của mình sẽ tái sinh nơi cực lạc vì hưng Đông cũng là hưng trấn trcủa Đế Thích Thiên (Phra In), vị vua của cõi tri cc lạc. Ngài đã thề nguyện một lòng bảo vệ Phật pháp của Đc Phật cho Tam gii tu hành. Mặt bằng chánh đin là hình chữ nhật vi nhp cột thường thì: rộng 3 dài 5, rộng 5 dài 7 hoc rộng 5 dài 9, chia nhp như vy cũng da trên giáo Pháp và quan nim dân gian người Khmer Nam Bộ luôn coi trọng số lẻ, gian gia là trung tâm luôn rộng hơn các gian còn lại. Mái cnh điện luôn có 3 lp, mái chồng mái, mái trên cùng cao hẳn lên tri tạo thành hình tam giác cân ở hai bên gọi là Hoo - Cheng (cánh Én) góc trên luôn nhỏ hơn hai góc đáy còn lại, đnh mái hai bên nhô ra ngoài đưc kết thúc bằng 2 Chô
- Ve uốn công gy khúc như đuôi Rồng cao vút lên tri tạo sự nhẹ nhàn cho mái chùa. Có thnói đó cũng chính là tính Âm Dương trong nghệ thuật kiến trúc chùa Khmer Nam Bộ; ở gia đnh mái có tháp nhỏ cách điệu từ Búp sen, từ hình Bát úp git cấp nhỏ dần, một số chùa gắn thêm tưng Bruhma Tứ vô lưng tâm, tưng trưng cho cõi Niết Bàn. Kết thúc tng lp mái có trang trí hoa văn lồim, dy thưa bao quanh 4 cạnh gọi là Băng Sách (che mưa tạc), kết hp vi dim mái tng lp bằng thân

452
 
Rắn thần Nāga bò từ trên xuống ngóc đầu lên, trên thân trang trí bằng Bayaka (vy Rồng) va tạo sự nhẹ nhàn, va kết nối gia 3 lp mái, như sự kết ni của 3 cõi: Dục gii, Sắc gii và Vô Sc gii, không bị biệt lp bi nhng hoa văn lồi lõm của Băng Sách, hay nói cách khác, đó chính là con đưng (Thánh Đo) kết nối gia 3 cõi vi tháp Niết Bàn đang thưng ở đnh mái cao, xa vi vi, là nim tin, là Chanda: ưc nguyện, là động lc thúc đy chư tăng, Phật tử Nam tông Khmer phấn đấu tu tập để sm đến bờ giác ngộ, giải thóat khổ đau.

Từ đầu TK XX trlại đây, đã xuất hiện nhng mái chánh điện có mt hoặc ba ngọn tháp, để đặt ngn tháp vng chắc nhưng không bị nặng nề cho mái chùa, nghệ nhân Khmer tạo thêm hai lp mái ở trung tâm, gắn thêm hai lp mái cắt ngang tạo thành hình chthp, làm đế đỡ ngn tháp, tạo sự nhẹ nhàng cho mái chùa. Tháp tng có 8 cấp tưng trưng cho Bát Chánh Đạo, trên cùng là Búp sen thay cho Niết Bàn.

Do chùa Khmer Nam Bộ phần đông xây dựng từ vật liệu sẵn có, thưng bằng gỗ, bằng ván, gạch nung, trát vôi nên không gian sử dụng không đưc rộng, không bền bỉ vi sự tác động của nắng mưa, nước ngập, nhiều công trình bị xuống cp nghiêm trọng. Hin nay do điu kiện kinh tế phát trin, Phật tử đến chùa cúng dưng nhiều hơn, vật liệu hin đại, nhiều chùa đã đưc trùng tu và xây mi khang trang hơn, đshơn. Tuy nhiên, cũng có một số chùa chưa phối hp hài hòa gia cái mi vi cái cũ, gia hiện đại với cổ xưa, làm mất đi vẻ cổ kính của chùa; lại có chùa đập phá hoàn toàn cái cũ, bỏ đi nhng gỗ quý hiếm còn chất lưng sử dụng hàng trăm năm sau, thay vào đó bằng công trình bê tông cốt thép, nhôm sắt, kiếng mi ca, hay bằng tole
 
kmVề trang trí nhiều hoa lá cách tân xa vi nguyên lý, đt không đúng chỗ, làm mất đi ngôn ngữ vốn có của nó; cách phối màu đôi khi có chỗ quá rc rỡ làm mất đi vẻ cổ kính, mt đi sự liêng thiêng trong kiến trúc chùa Khmer. Bên cạnh đó cũng có nhng chùa do Phật tử phát tâm cúng dưng, nhiều trụ trì chỉ biết mong sao chùa mi, chùa đẹp, không tư vấn cho thí chủ hiểu rõ việc cúng dưng là đáng tán dương, nng nên ghi công đc thế nào, đặt chỗ nào, đặt hình ở đâu phù hp, không bphản cảm,… cho nên có chùa thay vì nơi tôn nghiêm nên trang trí bằng tranh Túc sanh truyn, Kinh Pháp Cú hay Ngã QuSử để giáo dục chúng sanh từ bỏ cái ác đến vi cái thiện, từ bỏ hôn trm mê muội quay về vi giác ngộ, tinh tn tu tập… thì lại đặt hình gia đình thí chủ, tạo dư luận không tốt, làm cho thí chủ kém phưc,… Cũng có chùa khi đưc thí chủ cúng dưng làm tháp cốt, thay vì tạo mô hình búp sen, hay Bát úp cách điệu… trên tháp có tưng bán thân thần Bruhma, tưng trưng cho tứ vô lưng tâm của cha mẹ, thy tổ, thì lại sao chép mô hình tháp Eiffel ca Paris, làm pvỡ kiến trúc tôn giáo vốn trang nghiêm, thanh tnh.

Mặt khác, chùa Khmer có lẻ cũng như một số chùa của các hệ phái trong Giáo hi, khi đủ điều kiện thì đưc Sở hoặc Bộ Văn hóa công nhận là di tích văn hóa hay di tích lch s, đó là điều cần thiết, chúng tôi luôn ng hộ nhm bảo tồn cho thế hệ mai sau; thế nhưng khi công nhận rồi thì vai trò của chùa như không còn, việc trùng tu, xây thêm cũng gặp nhiều khó khăn. Vì vy, cần có sự phối hp chặt chẽ gia các S, Bộ, ban, ngành vi ngành Văn hóa của giáo hội và vi đơn vị chủ sở hu tìm ra tiếng nói chung trong bảo tồn văn hóa.
 
  1. Giải pháp

Từ một số ít điển hình trên đây cho thy Ban Văn hóa có nhim khá nng nề, có vai trò rất quan trọng trong việc bảo tồn, đnh hưng, xây dng đi sống văn hóa trong giáo hội. Qua thc tế này tôi xin có my giải pháp sau đây:
  1. Văn hóa vt thể, phi vật thể thuộc Giáo hội phải đặt dưi sự quản lý của ngành văn hóa của Giáo hi, trưc nay đã có nhưng chưa được triển khai, thc hiện một cách cụ thể, chưa có sự phối hp với Bộ, vi Sở Văn hóa, Thể thao và Du lch. Vì vy, Ban Văn hóa các cấp cần tăng thêm vai trò và trách nhim của mình, cần phối hp chặt chẽ trong việc quản lý, bảo tồn, sinh hoạt và xây mi các công trình văn hóa.
 
  1. Ngành văn hóa cần có lp tập huấn ngắn hn hay đào tạo dài hạn về kiến thc trong lĩnh vực văn hóa đến thành viên các cấp, các trụ trì, phó tr…để nm vng Luật di sản văn hóa Việt Nam, luật xây dng các công trình kiến tc, Hiến chương và nghị quyết của giáo hội trong lĩnh vc văn hóa.
 
  1. Đối vi kiến trúc chùa Khmer Nam Bộ khi trùng tu, xây mi các công trình, cn cải tạo, bố cục lại không gian cho phù hp vi phương pháp, không phá vỡ kiến trúc cổ, kết hp hài hòa gia công trình cũ vi công trình mi. Tận dụng vật liệu hiện đại, xây dng kiên cố, kết hp công năng, mở rộng không gian sử dụng.
 
  1. Về trang trí, việc cách tân, sáng tạo mi là cần thiết, nhưng phải giữ đưc bản sắc, phải có chủ đề rõ ràng. Tận dụng li hay ý đẹp trong cuộc sống, li dy của Đc Phật, để việc trang trí không chỉ để ngm nhìn vẻ đẹp mà còn giáo dục con

ngưi từ bỏ cái ác, hưng về cái thiện, phấn đấu vươn lên trong cuộc sống.
  1. Việc ghi nhận, tán dương công đức thí chủ là đều cần thiết đối vi ngưi đã làm, và nó sẽ tác đng, cổ vũ đối vi ngưi chưa làm, đcả hai luôn hưng về phước thiện. Thế nhưng phải ghi thế nào, đặt ở đâu để thí chủ không bị kém phưc, không bị phản cảm lại càng hoan h, Pht tử ai cũng hoan h. Vì vy, tùy theo điều kiện cụ thể của mỗi chùa, nên chọn nội dung, chn nơi phù hp nhất.
 
  1. Cần tạo không gian môi trưng bằng nhng loại cây xanh sng thọ như cây dầu, cây sao, va làm không gian môi trưng thêm sinh tươi cho nhà chùa va có gỗ quý về sau dùng trong tu sa kiến trúc chùa và tạc tưng Phật. Hiện tại một số chùa không chú ý đến vấn đề trng cây lâu năm nên tạo điều kiện nhng loại cây ngắn hạn, không đẹp mắt mọc xung quanh khuôn viên của chùa.
 
  1. Cần nghiên cu đtìm ra một mẫu hình chung cho kiến trúc và mĩ thuật của ngôi Khmer Nam Bộ, từ đó làm nn tảng cho công tác xây dng và trùng tu. Cần nghiên cu phát hành bằng văn bản nhng nghi lễ liên quan đến nghi thc dng chùa để chư tăng Phật giáo Nam tông Khmer nm bắt nhng điều căn bản khi tu tập và quản lý một ngôi chùa.
  1.  

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây