29. PHẬT GIÁO NAM TÔNG KHMER VỚI PHẬT GIÁO VIỆT NAM

Thứ bảy - 08/09/2018 19:13
PHẬT GIÁO NAM TÔNG KHMER VỚI PHẬT GIÁO VIỆT NAM của HT. Thích Trung Hậu*
Theo lịch sử truyn bá Phật giáo, Phật giáo Nam tông xut phát từ Tăng già Nguyên thy, nên cũng đưc gọi là Phật giáo Nguyên thy. Ở giai đoạn đầu, Phật giáo Nam tông tiêu biểu là Thưng Tọa Bộ, đã phân ra nhiều bộ phái, hình thành sau đại hội kết tập kinh đin lần thứ ba (Khoảng 220 năm sau Phật diệt độ). Tại Ấn Độ, khuynh hưng Phật giáo này phát triển từ thế kỷ ba trưc Tây lịch, cũng trong khoảng thi gian y, theo các đoàn truyền giáo, Phật giáo Nam tông đã vưt ra ngoài biên gii Ấn Độ, đến vi các nước Sri Lanka, Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia, vùng cc nam của Việt Nam và thịnh hành tại các nưc này cho đến ny nay. Nơi vùng đất cc nam của Việt Nam, Phật giáo Nam tông đã đến vi đồng bào Khmer sinh sống lâu đi ở đây, trở thành tôn giáo của họ, nên gọi là Phật giáo Nam tông Khmer.

Như vy, bàn vPhật giáo Nam tông Khmer cùng vi Pht giáo Việt Nam là bàn về đi sống tôn giáo của cộng đồng ngưi Khmer ở miền Nam Việt Nam (Đng bằng sông Cu Long, chủ yếu ở các tỉnh Trà Vinh, Vĩnh Long, Cần Thơ, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cà Mau) theo Phật giáo Nam tông, đã có nhng quan hệ, hỗ tương, đồng hành vi nhng cộng đồng ngưi Việt cũng sinh sống tại vùng đất y, theo Phật giáo Nam tông và theo Phật giáo Bắc truyền.

Trong Bài viết Phật giáo Nguyên thủy tại Vit Nam, Tiến sĩ Bình An Son đã ghi nhận tổng quát như sau: Phần đt phía Nam
 
của Việt Nangày này đầu tiên có ngưi Chàm và ngưi Campuchia trú ngụ và họ theo cả hai truyền thống Đại tha Ấn Độ và Pht giáo Nguyên thy, mặc dù có lẽ là ngưi Chàm đã theo truyn thống Nguyên thy từ thế kỷ III TL và ngưi Campuchia chỉ bắt đầu theo Phật giáo Nguyên thy vào thế k
XII. Ngưi Việt bắt đầu xâm chiếm và thu nhập phần đất này vào thế kỷ XV và đến thế kỷ XVIII, hình dạng của quốc gia Việt Nam như hiện nay đưc hoàn tất. Từ đó, sc tộc Việt theo Phật giáo Đại tha, trong khi sắc tộc Khmer theo truyền thống Nguyên thy, cả hai truyn thống này cùng chung nhau hiện hu an hòa(1).


Nói rõ hơn, do hoàn cảnh lịch s, nên vùng đất Đồng bằng sông Cu Long ca Việt Nam đã trở thành nơi chốn hỗn cư, hp cư của nhiu tộc ngưi: Chàm, Khmer, Việt. Nói tộc ngưi Chàm, vì vùng Tây Nam Btừ xa xưa đã là lãnh thổ của vương quốc Phù Nam tiếp giáp vi phía bắc là vương quốc Champa (Chiêm Thành). Nói tc ngưi Khmer vì vùng đất y từ thi xa xưa là một phần lãnh thổ của vương quốc Chân Lạp, sách chữ Hán gọi là Thy Chân Lạp, tc lãnh thổ của Phù Nam đã bị Chân Lạp xâm chiếm. Nói tộc ngưi Việt vì sau khi giành đưc độc lập (thế kỷ X), vương triều Đại Việt đưc củng cố, thì Nam tiến hầu như là con đưng duy nhất để Đại Việt tồn ti và phát triển, trong khi phải luôn đối đầu vi họa xâm lăng từ phương Bắc. Như thế, rất nhiều thế hệ ngưi Việt từ min Bắc, miền Trung đã đi vào vùng đất cc Nam ca Tổ quốc để khai hoang lập nghiệp và sống gn vi cộng đng ngưi Khmer đã đnh cư lâu đi nơi vùng đất ny. Cho đến năm 1708, sau khi Mạc Cu

* Ban Văn hóa Trung ương Giáo hi Phật giáo Việt Nam.
1 Nguyệt san Giác Ng, s88, tháng 7/2003, tr. 28.
 
(1655 – 1736) dâng đất Hà Tiên, quy phục chúa Nguyn Phúc Chu (1675 – 1725) và đưc Chúa phong làm Tổng binh giữ đất Hà Tiên, thì con đưng Nam tiến của ngưi Việt coi như là hoàn tất. Lãnh thổ của quốc gia Việt Nam đã hình thành và xác nhận, cộng đồng người Khmer đnh cư lâu đi ở vùng Đồng bằng sông Cu Long, cũng như cộng đồng ngưi Cm, người Hoa đều đưc xem là nhng thành phần công dân của cộng đồng dân tộc Việt Nam gm nhiều tộc ngưi, sống hòa hp, bình đẳng theo luật pháp nhà nưc trên một lãnh thổ chy dài từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau.

Nhng cộng đồng ngưi Việt lần lưt vào lập nghip ở vùng cc Nam của Tổ quốc đã phát triển rất nhanh và ổn đnh, sống gần gũi vi các phum, sóc của ngưi Khmer, tuy không giống nhau về phong tục, tập quán, lễ nghi,v.v... nhưng có một đim tương đồng, đó là vấn đề tôn giáo, tc cả hai đều theo Phật giáo, mt bên là Phật giáo Nam tông, một bên là Pht giáo Bắc truyền. Chính yếu tố tương đồng về tôn giáo ny đã là si dây tuy vô hình nhưng bền chắc tạo sự liên hệ, hỗ tương khiến hai cộng đồng ngưi Việt và ngưi Khmer ở Nam Bộ đã giao thip, học hỏi lẫn nhau, nhất là cùng nhau đồng nh theo dòng chy của lch sử dân tộc và đạo pháp.

Phật giáo Nam tông đưc truyền đến các nước vùng Đông Nam Á từ khá sm, nhưng do hoàn cảnh lch s, mãi đến các thế kỷ XII - XIII, mi là quốc giáo đối vi Vương quốc Campuchia cũng như cộng đồng ngưi Khmer ở Đồng bng sông Cu Long. Tuy sinh sống ở Việt Nam, nhưng vì là ngưi Khmer nên Phật giáo Nam tông của ngưi Khmer ở đây cũng có liên hệ vi Pht giáo Nam tông ở Vương quốc Campuchia. Ttrước và dưi thi
 
Pháp thuộc, chư tăng Nam tông Khmer ở Việt Nam đều đặt dưi quyền giám sát của vị Vua Sãi ở Nam Vang (Phnom Penh), họ phải qua Campuchia học đạo rồi trở về Việt Nam hành trì. Ngôi chùa nào mi xây cất xong phải báo lên vị Vua Sãi để xin đặt tên. Tại nhng tnh có nhiều chư tăng Nam tông Khmer, chư tăng đã tổ chc Hội đồng Gii luật để điu hành nhân sự cùng Phật s, và để liên lạc vi Vua Sãi. Hội đồng Gii luật gm có:
1) Một vị Mekon hay Sãi cả, quản trmột tnh, có thm quyền về giáo lý và điều hành các chùa trong toàn tnh. Ngoài ra, vị Mekon còn thay mặt chư tăng trong tnh trên phương din đối ngoại, tiếp xúc vi chính quyền đa phương. 2) Một hay hai vị Balakon tc Phó Sãi cả, có nhim vụ ging dy giáo lý cho chư tăng và tín đồ, tổ chc các cuộc lễ tại chùa, tu bổ chùa, tháp. Một vị Vineythorkon phtrách về gii luật. 3) Mộtvị Samouhakon phụ trách về văn khố. 4) Một vị Lekhathika làm thư ký cho Hội đồng. 5) Vài ba vị Anoukon đại diện cho vị Sãi cả ở các quận
trong tnh(1).

Theo thống kê vào tháng 6/2010, Phật giáo Nam tông Khmer ở Đồng bằng sông Cu Long có 452 ngôi chùa vi 8.574 vị sư. Chùa được điều hành do mt Ban Giám tự gồm: 1) Một vị Sư cả gi là Chao A Thica, lo điều khiển công việc chùa, săn sóc và kim soát chư tăng sống trong chùa, đại diện chùa liên lạc đối ngoại. 2) Hai vị Cả Nhì: Cả Nhì tả (Crou Sotchveng) và Cả Nhì hu (Crou Sdam). 3) Một Thư ký. 4) Một Phó thư ký. 5) Một Thủ qu. 6) Một Phó thủ qu. 7) Một hay nhiều Sãi giáo, tùy theo số lưng trẻ em trong các phum đến chùa học.




1 Theo Trần Quang Thun, Phật giáo Nam tông ti Đông Nam Á, Nxb. Tôn go, 2008, tr. 273 - 274.
 
Chùa của ngưi Khmer ở Nam Bthưng đưc xây cất tại mt khu đất rộng, trồng nhiều cây cối và phần nhiều có ao, do đào đất đắp nền chánh điện. Chư tăng thưng trồng sen trong ao để tăng vẻ đp cho cnh quan của chùa và dùng nưc ao để ra ráy, giặt giũ. Hthng chùa gm một ngôi chánh điện, nơi cử hành 8 lễ ln trong năm, nơi chư tăng làm Lễ Tụng gii mỗi tháng hai lần vào ngày 15 và ngày 30, nơi làm Lễ Dâng y, Lễ Dâng hoa, Lễ Xuất gia, một căn nhà gọi là Sala có bàn thPhật, nơi tín đồ đến cúng ly hàng ngày, nơi chư tăng thọ trai, nơi chư tăng hội họp và là nơi tiếp đón quan khách. Ngoài ra còn có nhng căn nhà dùng cho chư tăng cư trú, nhà bếp, nhà mát cho tín đồ tm trú vào nhng ngày lễ, phòng hc cho chư tăng và trẻ em, tháp thờ xá li ca chư tăng và tro cốt của tín đồ. Chùa có nhiều tín đthì phải có nhiều nhà Sala (nhà hp).

Hằng năm, ngưi Khmer ở Nam Bộ theo Phật giáo Nam tông cử hành 8 lln, trong y Lễ Năm mi (Tết) làm theo truyền thống dân gian Ấn Độ, 7 lễ còn lại đu theo truyền thống Phật giáo. Tám lln ny đều cử hành trong chùa, chương trình lễ do vị Sãi cả soạn thảo. Tám đại lễ y là: 1. LMeakabauchia, kỷ nim ngày Đức Phật cho biết trưc ba tháng snhập Niết Bàn, vào đầu tháng 2 dương lch. 2. Lễ Chol Chnam Thmay, Lễ Năm mi, gia tháng 4 dương lch. 3. Lễ Vesakabauchia, LPhật Đản và Phật nhp Niết Bàn vào đầu tháng 5 dương lch. 4. Lễ Colvosa, Lễ Nhp hạ của chư tăng, vào đầu tháng 7 dương lch. 5. Lễ Phchum Ben hay Đôn Ta, Lễ Xá tội vong nhân, gia tháng 9 dương lch. 6. Lễ Chanh vo sa, Lễ Tự tứ hay Lễ Mãn hạ vào đầu tháng 10 dương lch. 7. Lễ Ok Ang Bo, Lễ cúng Trăng, vào cuối tháng 10 dương lch. 8. Lễ Dâng y, không nhất đnh
 
ngày, từ đầu tháng 10 đến gia tháng 11 dương lch(1). Theo tập quán, nhng thanh thiếu niên ngưi Khmer ở Nam Bộ theo Phật giáo Nam tông đều cn phải vào chùa tu hành một thi gian để trau dồi đạo hạnh, trang bị tri thc và cách sống làm ngưi. Ngưi đã trải qua thi gian tu hành ở chùa được cng đồng ngưi Khmer nhìn nhận và đánh giá cao, mi dễ lập gia đình cũng dễ đưc tiếp nhn làm các công việc xã hội. Dân chúng luôn dành sự kính trọng đối vi chư tăng.

Muốn xuất gia ở tui vị thành niên phải đưc sự chấp thuận của cha mẹ. Nếu là ni đã có gia đình thì phải đưc sự đồng ý của ngưi v, lại không phm tội sát nhân, trộm cắp. Phải có nhng vật dụng và thy hưng dn như sau: 1 bình bát, 3 áo cà sa. Có đủ tên tuổi do cha mẹ đặt. Có thy thế độ gọi là Ốp Bakchia. Có thy yết ma gọi là Krou St. Có Hội đồng Tăng già gm 21 vị chng minh trong buổi lễ. Trưc khi làm lễ xuất gia, ngưi cầu tu hành phải vào chùa học Kinh, Luật, cách thc mặc y áo, cúng kính, các oai nghi,v.v… đưc ghi trong Kinh gii. Thi gian học tập tùy theo trình độ, có thể 15 ngày hoặc 3 tháng. Làm lễ xuất gia xong, gii tử được thy thế độ (Ốp Bakchia) cho pháp danh, ci áo đi mặc cà sa, ltạ Tam bảo, trở thành đệ tử của Phật. Xuất gia làm Sadi thọ 10 gii, làm Tỳ kheo thọ 227 gii.

Sau ngày thọ gii xut gia, mỗi khi ra khỏi chùa, nhà sư không bao giờ đi mt mình mà luôn đi cùng vi một vị sư khác. Không đưc vào nhà ai một mình. Không đưc sánh vai đi cùng đưng vi ngưi phụ n. Mỗi ngày hai lần, sáng sm và chiều tối, chư vị Tỳ kheo nếu thy trong ngày mình có vi phạm tội nhẹ


1 Theo Trần Quang Thun, Phật giáo Nam tông ti Đông Nam Á, sđd, tr. 286 - 287.
 
thì mi một vị sự hạ lạp hơn mình để bày tỏ sám hối, nguyện không tái phm. Nếu phm trọng tội thì sẽ đem trình bày vào buổi tụng gii ngày 15, 30, và theo biện pháp chế tài có thể bị trục xuất ra khỏi hàng ngũ Tăng già.

Chư tăng của Phật giáo Nam tông Khmer hành trì theo truyền thống Nam tông “trì bình kht thc” mi ngày 2 ln vào sáng sm và 11 giờ trưa. Đồng bào Khmer ở Nam Bộ xem việc dâng cơm cho chư tăng là điều mang lại phưc đc ln. Họ để cơm và thức ăn trưc nhà, chư tăng đi khất thc tng đoàn, thy nhà nào để thc ăn trưc ca thì dng lại. Chủ nhà quly chào kính, đặt thc ăn vào bình bát, rồi quly tiễn chư tăng. Tùy theo đa phương, việc trì bình khất thc có thể thay đổi. Có nơi, vì dân chúng bận công việc đồng áng không thể dâng cơm vào buổi sáng, nhà chùa nấu cháo cho chư tăng dùng, đến trưa chư tăng mi đi khất thc.

Cũng như các quốc gia theo Phật giáo Nam tông, các Kinh Luật Luận đưc chư tăng của Phật giáo Nam tông Khmer ở Nam Bsử dng để đọc tụng, tụ tập, học hỏi, nghiên cu, diễn giảng, đều thuc hệ Pàli. Vì thế, việc mtrưng hc dy dy chữ Pàli luôn đưc chư tăng ở đây xem trọng. Ngoài giờ học Pàli, các tăng sinh còn đưc hc các môn thưng thc, tiếng Việt, Anh, Pháp. Trưc đây, chư tăng của Phật giáo Nam tông Khmer ở Nam Bộ phải sang Campuchia học chữ Pàli. Sau khi tốt nghiệp, họ trở về Việt Nam cai quản chùa. Vị nào không có phương tiện sang Campuchia thì học tại chùa do Sư cả hoặc Sư giáo chỉ dy. Ngày nay, trưng lp học chữ Pàli theo hthống giáo dục ca Phật giáo Nam tông Khmer ở Việt Nam đã đưc tổ chc đy đủ, phổ cập. Hơn na, Hc viện Phật giáo Nam tông Khmer đưc
 
thành lập vào năm 2006 (Thành phCần Thơ), đào tạo tăng sĩ Khmer ở Việt Nam có trình độ đi học về Phật học và các khoa học xã hội, nhân văn, góp phần vào sự nghiệp phiên dch kinh điển, nghiên cu, giảng dy, hoằng pháp ca Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Nói chung, chư tăng ni ngưi Việt theo Phật giáo Bắc truyền, do hoàn cnh đa lý, nên tạo đưc tiếp cận, hiểu biết ít nhiều về Phật giáo Nam tông Khmer thông qua một số khía cnh tiêu biểu như đã nêu. Ngưc lại, chư tăng của Phật giáo Nam tông Khmer ở Việt Nam cũng vy, tc do yếu tố lch s, đa lý nên tạo đưc gần gũi, thân quen, tìm hiểu về Phật giáo Bắc truyền, cũng thông qua một số chi tiết tương t.

Vào thp niên 20-30 của thế kỷ XX, trong khi Pht giáo Bắc truyn ca người Vit ở Vit Nam đang có nhng biến chuyn, vn động nhm chấn hưng để tự tồn và phát trin theo xu thế chung ca Pht giáo Trung Hoa, Nht Bn, Ấn Độ… thì Pht giáo Nam tông đã được truyn vào đt nước Vit Nam, đến vi cộng đồng người Vit ở Sài Gòn và nhiu tỉnh thành do chư vị tôn túc, cư sĩ, trí thc thuộc Pht giáo Nam tông dốc tâm thc hin. Chùa Bu Quang ở Gò Dưa, ThĐc được xây dng năm 1940, là ngôi chùa đu tiên của Pht giáo Nguyên thủy có mt ti Vit Nam. Năm 1949 – 1950, chùa Kỳ Viên đưc xây dng ti khu Bàn C, qun 3, Sài Gòn, trở thành trung tâm chính của mọi hot đng thuộc Phật giáo Nguyên thủy ở Vit Nam. Đến năm 1957, Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Vit Nam đã được thành lp, là đim ta cho mọi Pht scủa Pht giáo Nguyên thy ở Vit Nam như xây dng chùa chin, đào to Tăng tài, dịch thut kinh sách, in n sách báo, ging dy Pht pháp,v.v... càng đưc phát trin và nâng cao. Chính sự ra đi của Giáo hội Tăng già Nguyên thủy là yếu tố hàng đu để to sự nối kết

gia Pht giáo Nam tông Khmer ở Nam Bvà Pht giáo Bc truyn của cộng đồng ngưi Vit vốn đã phát trin từ lâu đi. Nhân đy mà sự đng hành ca Pht giáo Nam tông Khmer ở Nam Bộ cùng vi Pht giáo Vit Nam nói chung theo dòng chy của lịch sdân tộc càng được gn bó hơn bao giờ hết. Năm 1964, Pht giáo Nam tông Khmer ở Đồng bng sông Cửu Long thành lp Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nước khu Tây Nam Bộ do Hòa thượng Thch Som làm Hội trưởng. Sau đy, nơi khp các tỉnh thuc min Tây Nam Bộ, Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nước đu ln lưt được thành lp, hot động, sát cánh cùng vi cộng đồng các dân tộc Vit Nam đóng góp nhiu sc người sc của cho sự nghip chống ngoại xâm của dân tộc đi đến thng li hoàn toàn.

Sau m 1975, Hi Đoàn kết Sư sãi u nưc Tây Nam Bi chung và Hi Đoàn kết Sư sãi u nưc ở c tnh thành nói rng vn tiếp tục hot động. Đến m 1980, ủng hchtrương chung ca chư vnh đo c tchc, hpi Phật go trong cnước, cũng như ththeo ý nguyn ca đông đo Tăng ni, Phật ttoàn quc, đi din Hi Đoàn kết Sư sãi u nưc Tây Nam Bđã tham gia Ban Vn đng Thống nht Pht go Tn quc. Đến tháng 11/1981, khi Giáo hi Pht giáo Việt Nam đưc thành lập, Pht go Nam ng Khmer là mt thành viên chính thc p mt o ngôi nhà chung ca Giáo hi Pht giáo Vit Nam trong thời đi mi.


TÀI LIỆU THAM KHO:
  1. Nguyệt san Giác Ng, số 88, tháng 7/2003.
  2. Trần Quang Thuận, Phật giáo Nam tông tại Đông Nam Á, Nxb. Tôn giáo, 2008.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây