27. CHÙA – KHÔNG GIAN THIÊNG TRONG TÂM THỨC CỦA CƯ DÂN KHMER Ở NAM BỘ

Thứ bảy - 08/09/2018 19:09
CHÙA – KHÔNG GIAN THIÊNG TRONG TÂM THỨC CỦA CƯ DÂN KHMER Ở NAM BỘ của ThS. Nguyễn Thị Mỹ Hạnh*
“Ngưi không đưc tu trong chùa là ngưi có nhiều tội lỗi trong đi sng” hay Ngưi Khmer từ lúc sinh ra cho đến khi trưng thành, rồi về già và cho đến lúc chết mi buồn vui của cuộc đi gắn bó vi chùa”. Đó là những câu nói mà ngưi dân Khmer ở Nam Bộ vẫn thưng truyền tai nhau mỗi khi gi nhắc đến chùa của họ. Dưng như từ rất lâu, chùa trong tâm thc ca ngưi dân nơi đây đã trở thành một không gian thiêng cao vi, siêu tĩnh mà cũng thật đỗi gần gũi. Đây kng chỉ là nơi tu hành của các vị sư sãi, là nơi làm lễ của đồng bào, là nơi dy ch, dy nghề cho con em dân tộc, là bo tàng lưu giữ các hiện vật mang giá trị văn hóa từ lâu đời, mà còn là nơi thờ tự người đã khuất. Có thể nói, chùa từ bao đời nay đã trở thành không gian thiêng trong ý thức hệ xã hội và trong mọi hành xử của người dân Khmer ở Nam B.

Là vùng đất hi cư của nhiều tộc ngưi, bên cạnh người Việt chiếm chủ yếu, Đồng bằng sông Cửu Long còn là nơi sinh sống của nhiều người Khmer, người Hoa và người Chăm. Khi đặt chân đến mảnh đất này, họ có cùng chung vận mnh lịch sử, cùng chịu chung những ảnh hưng của môi trường tự nhiên và xã hội. Thủa ban đầu, nơi này còn là những cánh rng hoang bạt ngàn vi đủ loại thú dữ, bệnh tật và nhiều hiểm nguy rình rập. Để sinh tồn trong môi trường khắc nghiệt y, họ phải dựa vào sức mnh tâm linh để cu rỗi cho chính quá trình lao động sản



* Khoa Vit Nam học, Trường Đi hc Sư phạm Hà Ni.
 
xuất đy gian khó và ly nó làm điểm tựa tinh thần để đủ sức mnh vượt qua mọi chông gai, thử thách. Chính trong hoàn cảnh đó, họ đã tìm đến Phật giáo Nam tông như là liệu pháp thn kì(1) hóa giải mọi bun đau. Trải qua quá trình tụ sinh lâu dài, khi đời sống dần đi vào ổn đnh, nhu cầu tinh thần ny càng cao, người dân Khmer nơi đây đã bắt tay vào xây dựng những ngôi chùa nhm phụng thờ Đc Phật, thần linh trì độ cho họ vượt qua mi
tai ương trong cuộc sống và trong sản xuất. Từ đó, chùa của người Khmer đã ra đi. Chính Phật giáo Nam tông với sự hiện diện của những ngôi chùa rất tự nhiên đã trở thành chất keo gắn kết, làm nên sự hòa hp của mi người dân chốn này, khiến cho họ vượt lên trên hết thảy mọi rào cn của sự kì thị, mặc cm dân tộc.

Theo thời gian, số lưng chùa chiền không ngừng gia tăng cùng với sự phát triển của nhu cầu tinh thần. Giờ đây thì ở đâu có ngưi Khmer sinh sống là ở đó có chùa chiền và sư sãi. Cứ mỗi sóc của người Khmer có ít nhất một ngôi chùa. Đến đầu thế kỷ XX, đại bộ phn các phum (xóm), sóc (nhiều xóm hợp thành) của người Khmer đều có chùa thờ Phật. Tính đến tháng 6/2010, Phật giáo Nam tông Khmer đã có 453 ngôi chùa với tổng số
8.017 chư tăng, tăng hơn 20% so với thời đim 1981, chiếm 19,3% tổng số sư trong cả nước, tập trung chủ yếu ở 9 tỉnh thành vùng Đồng bằng sông Cửu Long (Trà Vinh, Vĩnh Long, Cn Thơ, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cà Mau)(2).
  1.  
  1. Phật giáo Nam tông được truyn vào Việt Nam từ thế kỷ IV theo con đường ca các nhà truyn giáo từ Ấn Độ đi theo đưng bin tới Sri Lanka, Myanmar, Thái Lan tới ng sông Mê Công (Campuchia), ri vào các tnh Đng bng sông Cu Long ca Việt Nam, được đông đảo người dân đặc biệt là đồng bào Khmer đón nhn, trở thành tôn giáo ca tc ngưi này, do đó gi là Phật giáo Nam tông Khmer.
  2. Http://www.vothanhhung.info/2013/03/phat-giao-nam-tong-khmer-bscl-ong- hanh.html
 
Đặc biệt, số lượng Pht tử nơi đây chiếm số lượng đông đảo. Do đó, nếu so với số lượng chùa của Phật giáo Bắc tông, chùa của Phật giáo Khmer ở Việt Nam ít hơn, nhưng lúc nào ở đây cũng có trên dưới 10.000 tu sĩ Khmer trong tổng số 30.000 tu sĩ của cả nước.

Chùa Khmer không chỉ là nơi cu rỗi tâm linh của con người, mà còn gắn liền với những biến cố trng đại trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc. Li dụng sự đa sắc tộc ca vùng đất này, thực dân Pháp rồi đến đế quốc Mỹ trước kia đều ra sức thực hiện chính sách chia để trị nhm đng hóa và đi đến xóa bỏ người Khmer trong phm vi lãnh thổ Việt Nam. Tuy nhiên, chính trong bối cảnh y, đông đảo sư sãi và Phật tử người Khmer ở Nam Bộ đã vùng dy đấu tranh bng nhiều phương cách khác nhau, góp phần làm nên những trang sử vẻ vang của đất Việt. Thực tế cho thy, những ngôi chùa Phật giáo lúc này nhanh chóng trở thành nơi khởi phát của hàng loạt cuộc đấu tranh chính trị, tiêu biểu như cuộc mít tinh hòa bình của đồng bào và sư sãi Khmer ở chùa Ông Mẹt, mt ngôi chùa Khmer có niên đại lâu đời nhất vùng Đồng bng sông Cửu Long; cuộc đấu tranh với sự huy động hàng nghìn sư sãi kéo đến dinh tỉnh trưởng ngy ở Trà Vinh đòi thả nhà sư Acha Lui Sarat; hay cuc đấu tranh yêu cầu địch phải tôn trọng chùa chiền, thả những nhà sư bị bắt, không được bắt sư sãi đi lính ở Trà Vinh ngày 14/9/1960,… Tất cả đã minh chng cho tinh thần, ý chí quật cưng của đông đảo đồng bào Phật tử Khmer, gn ngôi chùa với số phn chung của lịch sử dân tộc, khiến nó càng trở nên thiêng liêng mà gần gũi với đi thường.
 
Chùa Khmer không chỉ là nơi thực hành các nghi lễ Phật giáo, mà còn là nơi din ra các sinh hoạt văn hóa cộng đồng, gn bó sâu sắc với cuộc sng thường nhật ca mỗi người dân. Hằng năm, ngôi chùa là trung tâm tổ chức rất nhiu lễ hội khác nhau. Đó là những nghi lễ trang trọng của Phật giáo Nam tông như: LPhật   đản   được   tổ   chc   vào   ngày   Rm   tháng   4   (theo
Mahasankaran, lch ca ngưi Khmer)(1); Lễ Nhập hạ, bắt đầu từ
15/6 đến 15/9 âm lch; Lễ đặt cơm vắt (Boonh phchum bônh), trưc kia lễ này kéo dài 15 ngày, tngày 16 đến ngày 30 tháng 8 âm lch; Lễ Xuất hạ, diễn ra chiều ngày 14 đến trưa 15/9 âm lch; Lễ Dâng y, thưng đưc tổ chc một ngày một đêm, trong khoảng 29 ngày ktừ ngày 16/9 đến 15/10 âm lch; Lễ Kiết gii Xaayma; Lễ an vị Pht,… Đó còn là những lễ hội truyền thống của ngưi Khmer như: Lễ Cúng Trăng, Lễ Ok om bok và đua ghe ngo,… Ngoài ltết thường niên, hàng ngày người Khmer còn đến chùa bái Phật, dâng cơm cho sư sãi. Ngay cả đám cưới trong gia đình cũng đến chùa mời nhà sư sãi chng giám. Dù mi lễ hội có những ý nghĩa khác nhau với những nghi thức đặc thù, nhưng tất cả đều lấy chùa làm trung tâm tổ chc. Dù là lễ của Phật giáo hay lễ dân tộc, nhưng mi hoạt động này đu có sự tham gia ca các vị sư.

Thường các lễ  hội sẽ diễn  ra trong nhiều ngày. Trong những ngày này, bà con Khmer trong vùng sẽ quần tụ đông đảo về chùa thỉnh cúng Phật và nghe giảng kinh, tổ chc vui chơi như đá cu, ném tạ ăn tiền, chơi cù, nhy lưi, giấu khăn, bt mặt bắt dê, đánh đáo, kéo co… rồi các lễ đọc kinh, cầu nguyn kéo dài ti 2, 3 giờ sáng. Nét đặc biệt đáng lưu ý là, hội thưng gắn



1 Phật giáo hphái bắc tông là ngày mùng 8 tháng 4 âm lịch.
 
vi các hình thc văn nghệ truyền thống của người Khmer, tiêu biểu như sân khấu truyn thống Dù Kê, Rô Băm, múa dân gian như Sarikakeo, Saravan, Romvông… Nhng hình thc múa hát mang đm nét văn hóa truyền thống này đưc các nghệ nhân chuyên nghip hoặc nghiệp dư biểu diễn ngay tại chùa. Thông qua những bui sinh hoạt tôn giáo, văn a, xã hội đó, cộng đồng ngưi Khmer nơi đây cũng tm phn gn kết.

Ngoài chc năng sinh hoạt văn hóa, chùa còn có chc năng giáo dục sâu sắc. Người Khmer có tập tục con trai lớn lên phải vào chùa tu nhm báo hiếu cho cha mẹ, học kinh Phật và trau dồi hiểu biết để trở thành người dân có ích. Tp tục giáo dục này xuất phát từ giai thoại mang đm giá trị nhân văn và sắc màu tôn giáo. Truyn kể rằng, có một người con trong gia đình (Khmer) có cha mất sm, mmưu sinh bng nghề đi săn bắt thú. Thy việc làm của mẹ sát sinh nhiều muôn vật, gây nhiều oan nghiệp, người con đã trốn mẹ lên chùa tu để cầu tự mong ra sạch nghiệp chướng cho m. Nhờ những việc làm đó của người con, mà bà mkhi chết đi, dù tội nghiệp nặng nề song vẫn không bị báo oán… Tuy chỉ là một giai thoại hư cu trong dân gian, nhưng nó đã toát lên giá trị nhân văn ngời sáng.

Do điều kiện xã hội cùng quan nim tôn giáo, ngay từ rt sm, người dân Khmer ở Nam Bộ đã ny sinh nhu cầu về giáo dục tri thức, đạo đức, thm m. Họ sm nhn ra rằng, không ở đầu có không gian giáo dục thanh khiết, hội tụ đy đủ những giá trị cao đẹp của cuộc sống, của Phật pháp như ở chùa. Vì lẽ đó, ngôi chùa sm trở thành ngôi trường quan trọng đầu tiên đm trách chc năng giáo dục trí - chân - thiện - mỹ cho nam thanh niên Khmer. Các thanh niên này cần phải tu tối thiểu ở chùa là
 
mt tháng, cũng có thể ở chùa tu lâu hơn hoc suốt đi, tùy theo nhân duyên, căn cơ và ý nguyện của tng ngưi. Sau khi trở lại đời thường, người con trai đó lại mang theo sự hiểu biết đã học tại chùa mà phụ giúp gia đình, đn ơn công dưỡng dục của cha mẹ và phục vụ cho xã hội. Nam thanh niên nào trải qua thời gian tu hành ở chùa mới được cộng đồng ngưi Khmer đánh giá cao, mới dễ lập gia đình và cũng dễ được xã hội tiếp nhận.

Dù tập tục áp dụng chung cho mọi nam thanh niên nhưng không phải vì thế mà môi trường giáo dục nơi chùa lỏng lẻo, tuỳ tiện. Thực tế thì nam đến tuổi (thường là 12 tuổi, hoặc có thể sm hơn) mun vào tu phải trải qua một vài thử thách. Khi tu học, họ phải thực hiện nghiêm giới luật, nội quy nhà chùa, giáo lý nhà Phật, nhất là phải luôn tuân theo lời dạy bảo của trụ trì và các sư sãi. Do đó, đến chùa, họ không chỉ được tu học Phật pháp, mà còn được rèn luyện những giá trị đo đức của nhà Phật và xã hội như sự kiên nhn, chịu khó, tình thương yêu đồng loi, sống vì người khác, thm chí còn được học nghề. Gần đây, chùa còn dy kiến thức phổ thông, dy chữ Việt - Khmer, ca múa hát như Dù Kê, nhc ngũ âm,... Bởi vy, có thể nói, việc nam thanh niên Khmer vào chùa tu hc không phải là trở thành Phật mà để trở thành những con ni thực sự có ích cho xã hội. Tính tôn giáo hòa quyện với tính xã hội là đặc trưng của phương thức giáo dục này. Sự gn kết giữa Đạo – Đời một lần nữa lại được minh chng sinh đng trong không gian Phật giáo nơi đây.

Tính đến nay, chùa Phật giáo Nam tông Khmer đã tổ chc hàng ngàn lớp học cho chư tăng và thanh thiếu niên đồng bào Khmer ở Nam Bộ như: Tiểu học Khmer ngữ từ lp 1 đến lớp 6:
1.418 lớp, 32.538 chư tăng, thanh thiếu niên đồng bào Khmer.
 
Sơ cấp Pali, Vini, Sơ cấp Phật học: 5.839 học viên. Trung cấp Phật học: 367 học vn. Lớp Kinh, Luận, Luật: 1.371 học viên. Riêng trường lớp đào tạo Tăng tài đã có Học viện Phật giáo Nam tông Khmer tại thành phố Cần Thơ, hiện có 69 tăng sinh theo học; Trung học Phật giáo có 05 cơ sở tại các tỉnh Sóc Trăng, Bạc Liêu, An Giang, Kiên Giang, Trà Vinh, hin có 823 tăng sinh theo học; các lớp Sơ cấp, Trung cp Pali Vini tại các chùa Khmer trong 6 tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long có trên 200 lớp Sơ cấp, Trung cấp Pali Vini, có trên 3.000 tăng sinh theo học.

Vai trò to lớn y của chùa trong việc giáo dục, rèn luyn con người đã mặc nhiên định hình tm ảnh hưởng to lớn của sư i nơi đây đối với người dân Khmer. Nhà sư đưc coi là đại diện cho Đc Phật để truyn dy và giáo hóa chúng sinh. Bi vy, trong tâm thc mỗi ngưi Khmer, vị sư luôn là ngưi thy đưc tôn kính và hết mc tin yêu. Hơn nữa, chính sự gương mẫu trong nếp sng, nếp nghĩ và sự thông tuệ về kiến thc đi thưng lẫn Phật pháp của các nhà sư là nhân tố quyết đnh làm nên thành công của phương pháp tu học trong không gian Phật giáo Khmer từ xưa đến nay. Chính nền giáo dục y đã đào tạo nên một lp thanh niên Khmer sng tốt đi đẹp đạo, góp phần xây đp nên mt lối sng tốt đẹp cho gia đình và xã hi.

Chùa Khmer không chỉ là nơi sinh hoạt tôn go, văn hóa, là trường học, mà còn là nơi lưu giữ di sản văn hóa mang đm hồn cốt của người Khmer ở Nam Bộ. Ví như, không ở đâu trên dải đất hình chữ S lưu tồn bộ Kinh lá slấc-krích như ở vùng đất Nam Bộ. Tương truyn, kinh lá slấc-krích xut hiện ở vùng Nam Bộ cách đây khoảng 300 năm do một Sãi cả chùa Svay-so chế tác để lưu truyền kinh Phật trong thời kỳ chưa có giy bút. Đến
 
nay, tất cả chùa Khmer vùng Đồng bằng sông Cửu Long đều lưu giữ từ vài bộ đến cả chục bộ kinh. Đây là di sản văn hóa có giá trị tôn giáo rất đặc biệt đối với mỗi người dân Khmer. Nó như quyển Kinh Thánh của theo Kitô giáo, như Kinh Koran đối với người Islam giáo. Nội dung kinh lá slấc-krích cha đng biết bao lời răn dy của nhà Phật đi với con người như biết tu tâm dưỡng tính, biết sống hiền lành, yêu thương lẫn nhau… Bởi thế, những buổi đọc kinh, giảng pháp bng kinh lá slấc-krích là những buổi thu hút được sự chú ý lắng nghe nhiều nhất của sư i và Phật t.

Chính tại những ngôi chùa, những giá trị nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc đặc hu của người Khmer vùng Đồng bằng sông Cửu Long được lưu tn cho đến ngày nay. Dường như thi gian không làm bay màu những giá trị nghệ thuật đặc sắc này, mà ngược lại ngày càng khơi dy những lớp tài sản ẩn tàng trong đó và trở thành một thứ vốn xã hội không thể thiếu đối mnh đất và con người nơi đây.

Mỗi ngôi chùa người Khmer vùng Đồng bằng sông Cửu Long đều có một gtrị cao về mỹ thuật Phật go; là sự tổng hợp hài hòa về những yếu tố to hình, điêu khắc, kiến trúc, hội họa; được kiến lập trên một khu đất khá rộng, thường bao gm nhiều hạng mục kiến trúc khác nhau như: chánh điện, sala, nhà tăng, nhà tu thin định, nhà thiêu hương, những tháp th. Xung quanh chùa trồng nhiu loại cây to như thốt nốt, dầu, sao, cây đặc sản miền Nam. Nn chùa thường được y cất cao hơn mặt đất khoảng một mét; mt mặt góp phn gia tăng vẻ tôn nghiêm của chùa, mt khác đtránh mùa lũ lụt.
 
Nhìn vào kiến trúc và điêu khắc trang trí của chùa Khmer, chúng ta thy nổi lên mt số nét đặc trưng tiêu biểu. Cổng chùa đưc xây dng theo hình ngọn tháp. Tùy theo giai đoạn và nhu cầu của Phật t, có chùa xây một, ba hoặc năm ngọn tháp. Đối vi cổng chùa có một ngôi tháp, hoặc lp mái chùa nhiều lp chồng lên nhau, hai bên cổng thưng có hai vị thần bảo hộ, tưng sư t, hoặc đầu thần rắn Nara uốn lưn trên tưng rào, đầu ngẩng lên tri trưc chánh cổng, vi ý nghĩa bảo vệ nhng báu vật bên trong chùa. Cổng chùa có ba ngôi tháp thì phần dưi trang trí tương tự nhau. Ba ngôi tháp này tưng trưng cho Phật, Pháp, Tăng (Tam Bo). Trong đó, tháp gia tượng trưng cho Đc Phật. Cổng chùa xây dng theo quy cách năm ngôi tháp hình búp sen – tưng trưng cho năm vị Phật, phần dưi cách trang trí gần giống nhau. Nhưng trong số đó vẫn có một ngôi cao nhất vi nhiều họa tiết hoa văn sặc sỡ biểu thị cho cõi Niết Bàn. Chính sự tồn tại của hthống bảo tháp xung quanh chánh điện đã khiến cho chùa Khmer đi vào tâm thức ngưi dân như cmột vùng quần thể chùa tháp. Bi thế mà không phải ngẫu nhiên, nhiều ngưi còn gọi chùa Khmer bằng cái tên chùa tháp.

Tường rào xung quanh chùa rất đặc sắc, được sơn son, thếp vàng lộng ly, mỗi một trụ tường, vách tường rào được khắc họa sinh động hình tượng sư tử, búp sen, tượng Phật,... Đặc biệt trên tường nổi lên hình thân rắn Nara un lượn (đầu rắn nm ở cổng chùa) trông rất uy nghi.

Chính điện và cổng chùa người Khmer luôn quay mặt về phía đông, do quan nim Phật ngự ở phía tây, nhìn về phía đông để ban phúc cho chúng sinh. Đa số ngôi ca Khmer được xây dựng theo quy cách chánh điện dọc theo hướng đông - tây tạo
 
thành một chính thể trung tâm của ngôi chùa. Chiều dài ngôi chùa gấp hai lần khong rộng, chiều cao tương ứng với chiều dài. Ngôi chính điện có bốn ca chính theo hai hướng đông - tây, với by hoc chín ca sổ theo hai hưng nam - bắc, xung quanh là một dãy hành lang rộng thóang. Chính điện thường được dựng bằng các loại gỗ quý, gạch ngói và đá tảng nhỏ. Nhng hàng cột phía ngoài chánh điện đưc xây dng theo li kiến trúc cổ Cô- ranh, trên nhng hàng cột là phù điêu các tiên nữ và quái vt. Theo triết lý của Phật giáo Nam tông, đó là nhng thử thách đối vi Phật tử trên bưc đưng tu thành chánh quả. Trưc bậc thm vào chánh điện có nhng pho tượng chằn hung d, mặc áo giáp, đng bảo vệ ngôi chùa. Dù tưng chằn biểu tưng cái xấu ác, nhưng khi đưc đặt trong chùa, nó lại biểu tưng cho cái thiện. Bi hơn ai hết, ngưi Khmer tin rằng, cái xu ác sẽ bị Đc Phật thu phục để phục vcho sự bình yên của dân chúng. Ca vào chánh điện được chm trổ rất công phu, tinh xảo kết hp gia phong cách nghthuật chùa và nghệ thuật chạm khắc dân gian. Điều này thể hiện ở nhng họa tiết độc đáo như: tưng đầu vị thần bốn mặt Maraprum là tiền thân của Brahma vị thn sáng tạo ra thế gii, nữ thần Kayno na ngưi, na chim, chim thn Marakrit. Trên mái vòm và cầu thang đều chạm trổ họa tiết rắn thần Naga. Điu đáng lưu tâm là, theo truyền thống Phật giáo Nam tông, chánh đin chỉ tôn trí Đc Phật Thích Ca trong nhiều tư thế, chứ không thờ các vị Phật khác như Phật giáo Bắc tông.

Trong khi đó, hình tượng, chủ đề trang tbên trong chùa Khmer vô cùng tinh xo, mang đm ảnh hưởng triết lý Pht giáo, Bà La Môn giáo và các hình thức thờ cúng dân gian. Chủ đề chm khắc, tiểu tiết hoa văn thưng kể về cuộc đời của Đc Phật theo trình tự: cảnh Đc Phật đản sanh ở thành Katlavệ, cảnh
 
Đc Phật trong rng Lâm TNi dưới cây Sala, cảnh Đc Phật đắc đạo dưới cội Bồ Đề, cảnh Phật nhập Niết Bàn,v.v... Ngoài ra, chúng ta phải nhắc đến hình tượng rắn thần Naga bảo vệ cho Đc Phật tọa thiền là hình tượng điêu khắc phổ biến trong các chùa Khmer ở Nam Bộ. Hình tượng này bắt nguồn từ sự giao thoa giữa Phật giáo và môi trường sng ca người Khmer ở mnh đất này. Vốn là vùng đấtm thấp, nhiều rng rm, nơi đây xưa kia là môi trường thuận lợi cho sự phát triển của các loài bò sát, trong đó có rắn. Từ rất sm, người Khmer đã biết cách thuần hóa rắn, biến chúng từ chỗ một loài vật nguy him trở thành người bạn thân thuộc với con người. Bởi thế, hình tượng rắn Naga trong các ngôi chùa Phật giáo Nam tông Khmer là loài rn đã được Đức Phật cm hóa, trở thành loài vật có ích. Điu này phản ảnh triết lý nhân văn sâu sắc ẩn tàng trong truyền thống văn hóa Phật giáo của cộng đồng Phật tử Nam Bộ.

Khi còn sống, hầu như mọi hoạt đng tế lễ, sinh hoạt quan trọng của người Khmer đều gn liền với chùa. Đến khi mất đi, người Khmer không đa táng như các dân tộc khác mà xác thân của họ lại được đem vào chùa hoả thiêu. Sau đó, hài cốt của người khuất được gửi vào tháp ở chùa để thờ phụng với ước mong vong hồn người chết sm hôm nghe kinh Phật, kề cận bên ánh hào quang của Đc Phật, sẽ được siêu thóat về cõi Niết Bàn bình yên, thanh thản. Vì thế, trong tâm thức của người dân Khmer, chùa từ lâu còn là nơi cất giữ hài cốt của ngưi đã khuất.

Không nhng thế, nơi đây diễn ra nhiều cuộc lễ cầu siêu cho anh linh liệt sĩ, đng bào tử nạn trang trọng và linh thiêng. Dường như, Phật giáo và những ngôi chùa đã thành bùa hộ mệnh cho mỗi người dân Khmer chốn này. Dù còn sống hay đã mt, họ
 
đều sát cánh với chùa, hướng vọng về chùa để mong ra sạch những bụi trần và đưc siêu thóat khỏi những trm luân khổ ải của kiếp ni.

Có thể nói, ở đâu có người Khmer sinh sống, ở đó có chùa chiền và sư sãi. Ngôi chùa không nhng là nơi chứa đng nhng giá trị tâm linh sâu sc, nơi sinh hoạt tôn giáo, mà còn là mt trung tâm văn hóa của cộng đồng cư dân trong khu vc. Chính tại nơi đây, chư tăng và đồng bào Khmer đưc vui chơi giải trí sau nhng giờ lao động vất vả, đưc học Phật pháp, học ch, học làm ngưi để ri biến chùa thành một ngôi trưng thanh khiết mà thật đỗi gần gũi. Hơn thế, ngôi chùa còn như một biểu trưng văn hóa của ngưi dân Khmer trong khu vc vi nhng phong cách kiến trúc, điêu khắc hết sc độc đáo, cha đng trong đó nhng giá trị mỹ thuật đặc hu của miền đất y. Không chỉ gn bó vi chùa từ lúc sinh ra cho đến khi trưng thành mà ngay cả lúc về già và khi chết đi, mọi buồn vui của cuộc đi mỗi ngưi Khmer đều đưc gi gắm ở chùa. Không ở đâu khác, chùa là nơi cất giữ hài cốt nhng ngưi đã khuất. Vi tất cả nhng giá trị đó, chùa thc sự trở thành mt không gian thiêng mà gần gũi đến lạ ktrong tâm thc mỗi ngưi n Khmer ở Nam Bộ.



TÀI LIỆU THAM KHO:
  1. Nguyn Nghị Thanh, Phật giáo Nam tông Khmer An Giang: Những vấn đề đặt ra. Luận án tiến sĩ Tôn giáo học, Học viện Khoa học Xã hi, Vin Hàn lâm Khoa học xã hội Vit Nam, Hà Nôi, 2013.
  2. Tìm hiểu vốn văn hóa dân tộc Khmer Nam B, Nxb. Tổng hp Hậu Giang, 1988.
 
  1. Trưng Lưu chủ biên, Văn hóa người Khmer vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Ni, 1993.
  2. Hunh Đc, “Hình tưng Chằn vi ngưi Khmer, Tạp chí
Sân khấu, số 3/2007.
  1. Trần Hồng Liên chủ biên, Vấn đề dân tc và tôn giáo ở Sóc Trăng, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002.
  1.  

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây