20. PHẬT GIÁO NAM TÔNG KHMER VỚI ĐỜI SỐNG NGƯỜI DÂN MIỀN TÂY NAM BỘ

Thứ bảy - 08/09/2018 13:36
PHẬT GIÁO NAM TÔNG KHMER VỚI ĐỜI SỐNG NGƯỜI DÂN MIỀN TÂY NAM BỘ của Phạm Thị Phương Anh
 

 

Khmer là cộng đồng dân tộc ít ngưi ở Việt Nam, cư trú chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ. Theo số liệu điều tra về Dân số và nhà ở vào năm 2009(1), ngưi Khmer có dân số khoảng 1.260.640 ngưi trong đó tập trung hầu hết ở các tỉnh min Tây Nam Bộ. Trong lịch s, ngưi Khmer đã có một thi kỳ ảnh hưng khá đm nét văn hóa Bà La Môn giáo. Nhưng khi di cư đến phía Nam thì Bà La Môn giáo không còn chỗ đng trong tư tưng của ngưi Khmer, mà thay vào đó là tư tưng
Phật giáo Nam tông. Do đó, từ hàng ngàn năm nay, Phật giáo Nam tông đã phát trin đồng hành vi cuộc sống ngưi Khmer. Đây là mt cộng đồng ngưi cũng như một cộng đồng tôn giáo tương đối thuần khiết. Yếu tố tôn giáo mà chyếu là Phật giáo Nam tông đã chi phi rất ln đến đi sống sinh hoạt, văn hóa của cộng đng này. Ngay cả trong văn hóa, tư tưng, đưng lối tư duy, cách hành x... cũng đều da trên giáo lý Phật giáo. Phật giáo Nam tông trở thành phong tục, tập quán và có vai trò cc kỳ quan trong trong đi sống hằng ngày của ngưi Khmer ở vùng đất Tây Nam Bộ, vai trò y thể hin trên các mặt chyếu sau:
  1. Vai trò của sư sãi đối với đời sng của người Khmer

Trong đi sống m linh của ngưi Khmer, sư sãi mang mt ý nghĩa đặc biệt. Nhà sư là ngưi đi diện cho Đức Phật để chng giám nhng hành động, lòng thành kính của tín đồ, nhà sư còn là cầu nối gia tín đồ ti Đc Phật. Nam gii ngưi Khmer,


1 Ngô Văn Lệ, Đc trưng tín ngưng tôn giáo và sinh hoạt văn hóa ca các cộng đồng cư n Nam B, Đề tài khoa hc cấp Nhà nước, 2011, tr.51.
 
hầu như ngưi nào cũng phải vào chùa tu một thời gian, vic tu trưc hay tu sau là tùy ở hoàn cnh tng ngưi, thi gian tu dài hay ngắn là tùy duyên, ít nhất là một tháng, ai muốn tu trọn đi đều đưc. Nam gii đưc chấp nhận làm sư sãi trong chùa phải thc hiện nhiều quy đnh nghiêm túc, khắt khe: phải học thuộc nhng quy đnh đi vi sư sãi trưc khi o chùa; phải tập ăn mc, đi đng theo phong cách nhà sư, phải có thy tế độ, có sự đồng ý của cha mẹ (vợ hoặc người đỡ đầu nuôi dưỡng nếu có vợ hoặc ngưi nuôi dưng).

Yêu cầu cao và đòi hỏi nghiêm khắc đối vi các vị sư thc hiện đúng gii luật đã tạo ra cho nam gii qua tu hành có nếp sống chun mc, có đạo hạnh. Theo quan nim của ngưi Khmer, nam gii trải qua tu hành mi có đạo đc, có Pht tính, có hiểu biết, và đưc tôn vinh kính trọng. Vì vy họ rất dễ làm ăn, dễ ly v... Trưc đây, khi nhà sư còn mặc cà sa, dù có phm pháp vẫn không bị pháp luật hoặc ngưi đi xét x, chỉ khi hội đồng gii luật xét xlột cà sa, đuổi ra khỏi chùa, khi đó pháp luật mi đưc đụng ti.

Từ xưa đến nay, nam gii ngưi Khmer qua tu hành đưc xã hội kính trng, dễ làm ăn, dễ ly v, ai chưa qua tu hành xem như chưa có Phật tính bị xã hội xem thưng. Quan nim này đã khuyến khích nam gii ngưi Khmer vào chùa tu học từ rất sm. Từ năm 12 tuổi trở lên đã có thể vào chùa đi tu một thi gian để tỏ lòng thành kính vi Đc Phật, hay đthể hiện tình cm, trách nhim đi vi dân tộc, vi ông bà cha mẹ… và phải tu ti thiu là một tháng hoặc lâu hơn là tùy duyên và căn cơ của tng ngưi. Sau khi tu một thi gian có thể xin hoàn tục về nhà ly vợ làm ăn, ai còn nhân duyên tiếp tục ở tu hoc tu trọn đi tùy ý. Ngưi nam gii đi tu đã vnhà ly v, làm ăn, khi muốn có thể
 
trở lại chùa đi tu một thi gian, miễn là phi thc hiện đúng yêu cầu của gii luật trưc khi vào chùa.

Xã hội ngưi Khmer là xã hội sng trong môi trưng của nim tin và hành động theo Phật giáo truyền thống. Nam gii sau thi gian đi tu, trở về cuộc sống đi thưng, lập gia đình, có vợ con, trở thành chủ của mỗi gia đình, sẽ có ảnh hưng tác động rất ln ti gia đình, vợ con theo nền nếp đạo đc Phật giáo. Đây là nét khác biệt, đặc trưng của Phật giáo Nam tông của ngưi Khmer.

Ngưi Khmer từ khi sinh ra đưc cầu an cho đến khi chết đưc hỏa thiêu và nhp cốt vào tháp đều có sự tham gia của các nhà sư. Cuộc đời của ngưi Khmer theo Pht giáo gắn liền vi ngôi chùa "sống gi thân, chết gi cốt”. Nhng công vic dù ln nhỏ họ đều hỏi ý kiến của các nhà sư. Qua điều tra xã hội học(1) cho thy, có ti 95% số tín đồ được hỏi đều trả li trong gia đình có việc đều đến hỏi ý kiến các vị sư, chỉ có 5% không trli. Điều này nói lên vai trò cc kỳ to ln của các nhà sư trong đi
sống cộng đồng ca ngưi Khmer ở Nam Bộ.

Ngưi Khmer ở Nam Bộ theo Phật giáo, vì vy triết lý Pht giáo đã ngm sâu vào ý thc mỗi ngưi dân. Nó trở thành tim thc, trở thành triết lý sống của mỗi ngưi. Khi va chào đi họ mặc nhiên đưc xem là một tín đồ của Phật giáo, từ bé đã đưc cha mẹ giáo dục nếp sống theo triết lý sống của Phật giáo, bi thế ngưi Khmer, con nối tiếp cha, đi tiếp đi, sống trong nim tin theo triết lý Pht giáo.





1 Theo kết qunghiên cứu thuộc đề tài cấp Bdo Ủy ban Trung ương Mặt trn Tquc Việt Nam thực hiện vPt huy vai trò ca sư sãi Pht giáo Nam tông Khmer trong xây dng khối đại đn kết n tc.
 
  1. Vai trò của chùa đi với đời sng của người Khmer

Ngôi chùa của Khmer là mẫu hình kiến trúc độc đáo, va mang tính tôn giáo va mang nhiều yếu tố truyn thng dân tộc. Ngôi chùa có vai trò đặc biệt quan trng trong đời sng ca ngưi Khmer, nó va là trung tâm tín ngưng tôn giáo va là trung tâm văn hóa, trưng học… của cộng đồng ngưi Khmer thuộc khu vc chùa.
    1. Chùa là trung tâm tôn giáo

Vi ngưi Khmer, chùa là nơi thiêng liêng, nơi thPht, nơi gi gm nim tin qua nhng việc làm hiện tại, qua mong ưc hy vọng ở cõi cc lạc Niết Bàn trong tương lai. Ngôi chùa gắn bó vi ngưi Khmer suốt đi, bắt đầu sinh ra đã đưc làm lễ cầu an ở chùa ti khi chết đưc làm lhỏa thiêu, nhập cốt gi vào chùa. Bi thế ngưi Khmer luôn quan tâm ti ngôi chùa, chùa là nim tự hào của phum, sóc. Chùa càng to càng đẹp càng thể hin lòng thành kính của tín đồ ti Đc Phật. Ngôi chùa trở thành nơi chng nghim công quả của tín đồ để xem họ có đủ điều kiện lên cõi Cc Lạc hay không vì vy ngưi Khmer dành nhiều tiền của, công sc chăm lo cho ngôi chùa. Một ngưi dù xa quê hương ti đâu khi có phước làm ăn khá giả đều không quên ngôi chùa ca phum, sóc, không quên gi tiền của về cúng chùa. Mỗi khi ngưi đi xa về quê bao giờ cũng ti viếng chùa, lễ Phật, gặp sư.

Trong phum, sóc, ngưi gdù bn làm ăn giúp con cu, nhưng bao giờ cũng dành thi gian để thưng xuyên qua lại chùa trò chuyện vi các vị sư, trao đổi vgiáo lý về c ng vic ln quan ti gia đình, phum, c. Ngưi trẻ, tháng đôi ln vào ngày sóc, vng ti chùa lPht, khi có công vic, họ ti đthnh ý kiến
 
c vị sư hoc có ca ngon vt lng đem ti chùa cúng dưng chư tăng.

Hằng năm vào các ngày lễ, dân trong phum sóc tập trung về chùa làm lễ, tổ chc hội hè. Mọi ngưi va đưc tỏ lòng thành kính vi Đức Phật, va là dp để mọi người vui chơi sau nhng tháng ngày lao động vất vả, đồng thi đây cũng là dp các chùa tổ chc cho đồng bào trong các phum, sóc đua tài qua các cuộc thi đấu thể thao, văn nghệ, thể hiện sự nhanh nhẹn, khéo léo, dẻo dai qua đua ghe ngo, đua bè v.v.

Ngôi chùa không chlà nơi gửi gm tâm linh mà còn gn bó vi ngưi Khmer bi nhng kỷ nim của cuộc đi đã trthành mt phần máu tht của mỗi con ngưi. Ngôi chùa trthành biểu tưng đặc trưng cho ngưi Khmer như y đa, giếng nưc, n đình gn với cuộc sống làng qcủa ngưi Việt cổ xưa.
    1. Chùa là trưng học

Ngôi chùa Khmer ngoài vai trò tôn giáo, chùa còn có vai trò là trưng học của ngưi Khmer từ xưa ti nay.

- Chùa là trưng học chữ: Trưc đây khi không có trưng công lập ở bên ngoài, chùa là ngôi trưng gia vai trò chính trong việc dy chữ cho ngưi Khmer. Trong chùa các vị sư biết chữ Pali dy cho các vị sư chưa biết chữ để đc kinh Phật. Ngoài ra chùa còn tổ chc lp học chữ Pali cho trẻ em để các em ln lên vào chùa biết đọc để thnh kinh. Đây chính là yếu tố góp phần to ln trong việc bảo tồn chữ viết và văn hóa của ngưi Khmer.

Hiện nay, do nhiu yếu tố tác động nên số ngưi biết chữ Pali không nhiều, điều kiện cơ sở vật chất thiếu thốn, sách giáo
 
khoa không có hoặc có rất ít nên số ngưi biết chữ và số ngưi học chữ không nhiều, song dù ít thì chùa nào cũng có ngưi biết ch, chùa nào cũng có lp học ch. Chính vì thế chùa Khmer có ý nghĩa vô cùng to ln qua việc dy chữ góp phần bảo tồn chữ viết, bảo tn văn hóa Khmer.

Nhiều thế kỷ qua đã chng kiến lch sử thăng trm của ngưi Khmer và đó cũng là lch sử thăng trm đối vi Pht giáo Nam tông của Khmer ở Nam B. Đã có nhiều giai đoạn Phật giáo Nam tông của ngưi Khmer ở Nam Bộ đng trưc đe dọa bị đồng hóa. Thi nhà Nguyễn, các sư Khmer Nam tông bị ép phải mặc áo nâu, cvuông như Phật giáo Đại tha. Thi Pháp, chữ Pali bị cm dy trong chùa, các vsư bị cưng chế, dụ dỗ theo Công giáo. Thi Mỹ - Dim xóa bỏ dy chữ Pali, chỉ cho học chữ quốc ngữ vi lý do thống nhất văn t. Trưc nhng khó khăn đó, các chùa của ngưi Khmer ở Nam Bộ vẫn âm thm duy trì dy chữ Pali. Ngưi Khmer vẫn truyn hc chữ truyn thống để duy trì chữ viết, để bảo tồn kinh Phật viết bằng chữ Pali.

Sau giải phóng miền Nam năm 1975, trưng học công lập phổ thông đưc Nhà nưc mở ti tận các xã, mọi trẻ em đều đưc cắp sách ti trưng học chữ quốc ng. Trưng chùa không còn là yếu tố duy nhất dy chữ cho con em ngưi Khmer. Nhưng đối vi nhng ngưi cơ nhỡ và nhng ngưi có nhu cầu đưc trở thành nhà sư thì việc học chữ Pali trong các chùa trở thành nhu cầu và do đó trưng chùa đã không bị cm đoán mà còn đưc khuyến khích để các sư tổ chc dy chữ Pali. Bất chấp nhng khó khăn, việc dy của các sư và việc học của trẻ em ngưi Khmer vẫn din ra nghiêm túc, chăm ch. Chùa nào không tổ chc dy chữ đưc cho trẻ, các sư vẫn tổ chc dy cho nhau hc.

234
 
Ngưi Khmer ở Đồng bằng sông Cu Long, cũng như ngưi Khmer ở Campuchia và khu vc có tín đồ theo Phật giáo Nam tông rất kính trọng ngưi biết chữ Pali. Họ xem học chữ Pali không chỉ để đọc đưc kinh Phật, mà còn là ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày. Vì thế, các gia đình luôn khuyến khích con em ti chùa học ch.

- Chùa là trưng dạy giáo lý, đạo đức: Người Khmer theo Phật giáo Nam tông cho rằng ngưi nam gii phải qua chùa đi tu để rèn luyn tâm tính theo gii luật và triết lý nhân sinh của nhà Phật để gim bt "tham - n - si", tập làm điều thin, tránh không làm điều ác.

Vào chùa được học giáo lý, học đạo đc, thc hành theo gii lut, theo quy trình nghiêm khc của nhà chùa, đây là môi trưng tt rèn luyn đạo hạnh của con ngưi. Chuẩn mc theo triết lý Pht giáo Nam tông là tiết chế dc vọng xa lánh tham, sân, si, thc hành vô ngã vị tha, chuẩn mc này phù hp vi chuẩn mc cơ bản của đạo đc xã hội, của con ngưi mi xã hội chủ nghĩa. Như thế, nhà chùa Khmer đã góp phần rất ln trong việc giáo dục đo đc lối sống tạo nên nhân cách con ngưi trung thc giàu lòng yêu thương, yêu quý trong con ngưi. Chính nhân cách đó là chất keo gắn kết cộng đồng ngưi Khmer để họ rất mc thy chung bên nhau vưt qua nhiều thử thách để bảo tồn đưc truyền thống dân tộc còn nguyên vẹn ti ngày nay.

- Chùa là trường dạy nghề: Ngưi nam gii xuất gia vào chùa tu không chỉ đưc học ch, học giáo lý, rèn luyện đạo hnh mà còn đưc học việc, học nghề để làm nhng công việc trong chùa và tham gia các công việc khác ngoài xã hội sau này. Theo quy đnh, các sư trong chùa mỗi ngưi một việc do sãi csắp

235
 
đặt. Đối vi việc làm, sư mới vào chùa đưc các sư đi trưc hưng dẫn việc làm và truyn dy làm nhng việc thc hiện ngay ở trong chùa như xây dng, điêu khắc, trang trí, hội họa...

Chùa Khmer là công trình kiến trúc nghệ thuật đạt đến độ tinh xảo. Việc thiết kế, xây dng, hoàn thiện, trang trí... phần ln đều do các sư trực tiếp cùng vi tín đthc hiện. Các sư trong chùa đều là nhng ngưi có học vn, có tri thc nên tiếp cận nhanh vi kiến thc và kthuật, vì vy các sư thưng có đưc nhng nghề thủ công nhất đnh. Họ truyền dy cho nhau, khuyến khích nhau học tập và sáng tạo. Nhiều vị sư Khmer là nhng nghệ nhân trong ngành điêu khc, trang trí, hội họa,v.v... Các vị sư có thi gian, có điều kiện tự thể nghim lao động sáng tạo của mình, bi thế trong chùa Khmer có nhiều hin vật do sư tthc hiện đạt đến trình độ tay nghrất cao. Trong chùa, thế hệ sư này truyền nghề cho thế hệ sư khác, chùa này học nghề của chùa khác. Vì thế, chùa còn có vai trò quan trọng là trưng dy lao động đào tạo cho không ít nhân lc sau khi xuất sư trthành nhng ngưi lao động giỏi, tay nghề khéo ở nhiều lĩnh vực phục vụ cuộc sng của cng đồng người Khmer cũng như cho xã hi.
  1. Chùa là trung tâm văn a của cộng đồng người Khmer

Chùa Khmer thưng đưc xây dng ở vị tđẹp, nm vào trung tâm phum, sóc và ngưi Khmer hầu như mọi lễ hi từ lễ hội dân tộc, lễ Phật giáo đều gắn bó vi ngôi chùa hoặc diễn ra ở chùa do các vị sư chtrì. Vai trò trung tâm văn hóa của chùa đối vi ngưi Khmer ở y Nam Bthể hiện qua các đặc đim chủ yếu sau:

- Chùa là trung tâm hội họp: Chùa có vị trí trung tâm đng thi là nơi rộng rãi, có sân vưn, có sala rộng ln, có sư chủ trì
236
 
nên các cuộc hội họp, tập trung đông ngưi thường diễn ra ở chùa. Khi phum sóc có việc cần bàn hoặc có nội dung cần truyền đạt, chùa trở thành nơi tập trung bà con trong phum, sóc. Tại chùa ngoài sinh hoạt tôn giáo, các hoạt động văn hóa đưc diễn ra. Nhiều ngôi chùa còn tổ chc các hoạt đng văn hóa dân gian, nhng bài ca, bài thơ giàu chất dân tộc được sáng tác do các nghệ sĩ dân gian trình bày tại nhng buổi sinh hoạt văn hóa ở chùa. Nhiều chùa Khmer hiện nay còn giữ đưc nhng bộ nhc cụ dân tc rt độc đáo như chùa Xiêm Cán ở tnh Bạc Liêu.

- Chùa là bảo tàng văn hóa: Kiến trúc và trang trí của chùa Khmer rất độc đáo. Mỗi ngôi chùa cổ, chùa ln là một bo tàng về hiện vật văn hóa của ngưi Khmer (nhiu chùa trong chiến tranh bị tàn phá hy diệt, bà con mi xây dng lại chưa đủ điều kiện để trang trí bi đp cho thật đp). Từ kiến trúc đến trang trí và tưng th, mỗi một hiện vật cha đng khả năng sáng tạo rất ln của ngưi sáng tác. Hiện nay có 81 ngôi chùa Khmer còn giữ đưc ghe ngo. Ghe ngo cũng là một hin vật văn hóa độc đáo. Mỗi ghe ngo đưc làm từ nguyên mt cây gỗ sao đưng kính ti cả mét, dài 25 - 30m, đục đẽo công phu, sơn màu rc rỡ và đưc bảo quản cẩn thận. Đua ghe ngo là hoạt động thể thao văn hóa của ngưi Khmer như đua thuyền của ngưi Việt.

Trong chùa Khmer có lưu giữ nhng bản kinh Phật bằng lá bối đã 2 - 3 trăm năm, cùng vi nhng sách báo để tín đồ tu học. Hiện nay, 14 ngôi chùa đã đưc ngành văn hóa trang bị tủ sách thư viện phục vụ cho sư sãi và bà con có điều kiện nâng cao hưng thụ văn hóa.

Trong vai trò văn hóa, chùa Khmer thể hiện khá đm nét, thể hiện rõ sc sống bền vng, truyền thống lâu đi của ngưi

237
 
Khmer. Ngưi Khmer ly ngôi chùa làm biểu tưng tôn giáo, đồng thi làm biểu tưng văn hóa của mình. Ngôi chùa là nơi tập trung cao nhất sự kết tinh văn hóa của ngưi Khmer.
  • Chùa là từ đường: Chùa Khmer được xem như là từ đưng không chỉ của mt dòng họ mà chung cho cả phum, sóc theo chùa. Theo phong tục, tập quán của ngưi Khmer ở Nam Bộ, ngưi chết, sau khi hỏa táng tro ct đưc thân nhân đem gi vào chùa. Yếu tố này làm cho chùa trở thành từ đưng chung cho cả phum, sóc.

Nhng ngày tuần tiết, sóc vọng ngưi thân đến chùa dâng hương lễ Phật để tưng nhớ ti ông bà tổ tiên, ti ngưi đã thóat kiếp luân hồi về cõi cc lạc. Hàng năm vào ngày lĐôn ta (cúng tổ tiên, ông bà, cha mẹ) các gia đình có điều kiện thnh ông bà về nhà như là về thăm lại gia đình ngưi thân. Sau llại rưc lọ tro cốt lại đưc trả về chỗ cũ trong chùa, bi chùa là nơi gi gm tro cốt của ông bà. Vì thế, bất kỳ ngưi Khmer nào, khi trưng thành, đi đâu, ở đâu đu hưng về nơi có ông bà, cha mẹ và luôn tự coi phải có nghĩa vụ chăm sóc cho ngôi chùa. Ngưi đi xa nhớ về ngôi chùa, không chỉ nhớ về nhng kniệm cuộc đi đã gắn bó mà còn nhớ về nơi thiêng liêng, nơi y cội nguồn, nơi có cha mẹ, ông bà.
  • Chùa là đơn vị kinh tế: Theo Phật giáo Nam tông của ngưi Khmer ở Nam Bộ, chùa không làm kinh tế, sư không làm ruộng để tránh sát hại côn trùng ở trong đất (sau năm 1975, sư Khmer có tham gia làm ruộng vi ý thc làm công quả chứ không phải là sản xuất tự túc lương thực như sư Phật giáo Bắc tông). Bi theo luật Phật giáo Nam tông, sư phải da vào bá tính để sống. Sư không làm ruộng nhưng rung chùa của ngưi

238
 
Khmer ở Nam Bộ có diện tích krộng, có chùa có ti 80 - 90 ngàn mét vuông đất. Ruộng chùa do 2 ngun: các gia đình giàu có hoặc gia đình không con đem ruộng cúng cho chùa và ngưi đi tu đưc gia đình chia ruộng cho gi vào chùa. Khi tu trọn đi trong chùa ruộng đó trthành ruộng chùa.

Ruộng chùa ngoài phn làm chùa, làm sân vưn, số còn li gần hoặc xa chùa dùng để canh tác. Ruộng chùa đưc các Phật tử hằng năm đến thi vụ cắt cử nhau sn xuất dưi sự điều khiển của Ban Quản trị ca. Thóc, hoa li thu đưc nhà chùa dùng phân chia lại cho các gia đình trong phum, sóc và một phần để lại trong chùa dùng cho việc cu tế sau này. Sư trong chùa không dự trữ thóc gạo bi đã có bá tính. Nhờ có nguồn ruộng chùa và lao động tự nguyn của tín đồ mà chùa có nguồn lương thc giúp lại các gia đình Phật tử khó khăn nhng khi giáp ht.

- Chùa là đơn vị hoạt động từ thiện xã hi: Sư ngưi Khmer da vào bá tính để sống, nhưng chùa Khmer từ xưa ti nay thưng m việc tthiện giúp ngưi không nơi nương tựa, giúp trẻ em mcôi không ngưi nuôi dưng. Ngưi già không nơi nương ta, đưc chùa giúp đỡ có chỗ , chỗ ăn, tùy sức làm công quả trong chùa đưc việc gì thì làm, không làm đưc các vị sư thay nhau chia sẻ phần cơm do tín đồ bố thí để nuôi ngưi già quãng đi còn lại. Vi trẻ nhỏ không nơi nương ta, nhà chùa cho chỗ , các sư chia sẻ phn cơm và đưc sư dy ch, đưc giáo dục theo nếp sống trong chùa. Việc làm nhân đạo ca nhà chùa là hoàn toàn tự nguyện, thc hiện theo giáo lý từ bi, phổ độ chúng sinh của Đc Phật. Bi vy, ngưi đưc nhà chùa giúp đỡ nương nhờ của Phật thy đưc an ủi và thy cần phải cố gắng, không ai có tư tưng ỷ lại. Tín đồ theo chùa đưc giúp đỡ ngưi
 
khó khăn cũng thy vui vẻ, bi đã góp thêm chút tâm phúc vào việc giúp ngưi.
  1. Vai trò của Phật giáo Nam tông với việc quản lý xã hội

Ngưi Khmer ở Nam Bộ từ xa xưa cho đến nay luôn sống trong đơn vị cư trú của mình là phum, sóc. Qua nhng tháng năm khai phá, khẩn hoang và định cư ở đồng bằng sông Cu Long, đng bào Khmer đã dng nên nhng phum, sóc là nhng tổ chc xã hội truyền thống.

Phum là đơn vị cư trú của ngưi Khmer bao gm một gia đình của ông bà, cha mẹ và bao quanh là nhng gia đình của con, cháu và của họ hàng thân thuộc. Không thể tách ri vi sự vận động phát triển của quy luật tự nhiên, phum không thđóng kín theo đơn vị huyết thống mà đã đưc mở rộng hơn cho những gia đình ở nơi khác đến mặc dù không có họ hàng thân thích vi nhng gia đình trong phum. Mỗi phum đu có một tên gi nhất đnh để xác đnh vị trí của phum và phân biệt vi các phum khác và thưng mang tên nhng ngưi sáng lập hoc đng đầu phum.

Sóc là một đa vc cư trú của ngưi Khmer tương tự như các làng của người Vit, các buôn, plei của một số dân tộc trong vùng Tây Nguyên. Mỗi sóc có thể có nhiều phum hoặc chỉ có mt phum, đó là những phum ln. Gii hạn của các sóc thưng là nhng lũy tre kín bao bọc, hay nm trọn trên một con ry, hoặc mt đon nào đó. Giữa sóc có một con đưng ln là đưng chính ca sóc. Nhà ca của người Khmer trải dàn hai bên đưng chính đó.

Công vic qun lý đưc đặt ra ngay sau khi có sphân lp, to sinh mt cá thể, mt tp thể, một tổ chc, mt đơn vị hành
 
chính. Việc quản lý và mi quan hqun lý gia c tchc trong mt đơn vị hành cnh mang đậm tính đc thù vi chc ng hoạt động của nó. Vic quản lý phum, thông thưng do một Mê phum đng ra coi sóc mọi việc chung. Mê phum là ngưi ln tuổi có uy tín, và thưng là đng đầu dòng họ của các gia đình trong phum. Nhng Mê phum chu trách nhim đại diện cho các thành viên trong phum trong mọi mối quan hệ bên trong và bên ngoài phum. Các Mê phum còn có nhim vụ chăm lo, giúp đỡ cho các gia đình trong phum khi gặp nhng khó khăn trắc tr, chu trách nhim tchc lễ nghi chung cho toàn phum.

Việc quản lý sóc, đưc giao cho một số ngưi mà đứng đầu là Mé srok- tc chủ sóc. Ban Quản trị srok do sự tín nhim của các thành viên trong sóc cử ra, và Mé srok thưng là ngưi ln tuổi, có văn hóa, hiểu biết phong tục truyn thống và có nhiều kinh nghim sản xuất nông nghiệp. Mé srok cùng vi ban quản trị sóc thay mặt cho c thành viên trong sóc - nhng con sóc - lo mi việc quan hệ bên trong, bên ngoài sóc, gia con sóc và các cấp chính quyn, gia con sóc và nhà chùa ca sóc... Trong sinh hoạt, quan hệ quản lý  đã trở thành truyn thống  của ngưi Khmer là, các Mésrok kết hp với các Mê phum chăm lo quản lý vùng cư trú và sinh hoạt của toàn sóc về các công việc trị an, bo vệ, sử dụng đất đai, tài sản công cộng... Nhng Mésrok và các ngưi giúp việc chu trách nhim ly ý kiến của nhân dân trong sóc về nhng công vic quan hệ chung như việc chia phần đất hoang, đất rng lá... cho các thành viên của sóc, hoặc cho phép nhng ngưi bên ngoài đến cư ngụ trong phạm vi sóc. Mésrok cũng là ngưi thay mặt nhân dân trong sóc quan hệ vi các vùng lân cận để trao đổi, tổ chc nhng buổi lễ ln như đua thuyền, giải quyết nhng vtranh chấp đất đai.... Mối quan hệ gia
 
chính quyền hành chính và nhân dân phum sóc do Mésrok đm nhim như: việc truyn bá các chth, các lnh đến nhân dân và ngưc lại, các Mésrok phản ánh lại ý kiến của dân sóc vi các cấp chính quyền...

Phật giáo Nam tông của ngưi Khmer ở Nam Bộ có hệ thống tổ chc 4 cấp, bao gm: trung ương, tnh, huyện, xã. Các cấp đều hoạt động về tôn giáo, quan hệ vi các đạo khác, riêng quan hệ vi các cấp chính quyền (cùng hoặc trên cấp) cũng chủ yếu là giải quyết các công việc đạo s. Chỉ riêng có mt số chc sắc là tham gia vào ban chấp hành các đoàn thể, Mặt trận. Vic tham gia quản lý phum, sóc cơ bn ở cấp xã là do các chùa.

Nhà chùa, vi hình thc tổ chc tp thể đã bu ra ban qun trị để liên lạc vi chính quyn đa phương. Ban Quản trị chùa gm có các nhom wath, cha wath. Các Nhom wath đứng đầu Ban Quản trị chùa, là ngưi đưc la chọn, là ngưi có trình độ tổ chc, có đạo đc tốt, có lòng nhiệt tình đối với chùa và do nhân dân trong phum, sóc họp với các vị sãi cả đề cử ra. Thông thưng mỗi sóc có mt (hoặc hai) ngôi chùa, đó là tụ đim sinh hoạt của nhân dân toàn sóc trong các ngày lễ hội truyền thống và hành lễ Phật giáo. Chùa chính là nơi tiêu biểu cho bmặt phum, sóc, là trung tâm tôn giáo, chính tr, văn hóa, xã hi của phum, sóc. Có thể nói, Phật giáo Nam tông đã chi phối sâu sc xã hi nông thôn của đồng bào Khmer khu vc miền Tây Nam Bộ.

Mi quan hệ gia chính quyền hành chính, nhà chùa, sóc, phum thưng do các mê phum, mê sóc, sãi cả hoặc nhom wath đng đầu ban quản trị chùa trc tiếp bàn bạc về các công việc có liên quan gia các bên, và về nhng hoạt đng tôn giáo của nhà chùa, của nhân dân phum, sóc. Đthc hiện tốt một số công việc
 
cụ thể như văn hóa, giáo dục, sản xuất... các đơn vị tổ chc hành chính, tổ chc Phật giáo - nhà chùa đã thể hiện rõ vai trò của mình tham gia tổ chc, điều hành, quản lý. Chính quyền đa phương ở nhiều tnh, nhất là tnh Sóc Trăng - thống nhất vi nhà chùa tiến hành tổ chc đại hội sư sãi acha để đề ra mt số quy ưc về phong tục, tập quán và lễ hi của dân tộc, cũng là nhm bảo đm việc quản lý đa bàn thc hiện tốt an ninh trật tự trong chùa, phum, sóc.

Ngoài ra, nhà chùa đã tích cc tham gia, đng viên các con c - Phật tử cùng tham gia nhng công tác phúc lợi xã hội như: xây dng trưng, lp học, bắc cầu, đp đưng phục vụ li ích dân sinh và phát triển sản xuất. Đặc bit một số chùa có điu kiện sản xuất (có đất, mặt nưc) đều tranh thủ tham gia và cùng các Phật tử lao động tạo ra của cải góp phn tự túc một phần lương thc và tích lũy xây dng chùa.

Phật giáo Nam tông Khmer là một tổ chc tôn giáo, cũng là mt tổ chc thành viên trong đa bàn dân cư đã thể hiện rõ đưc vai trò trong việc quản lý cộng đồng phum, sóc. Là một tôn giáo, Phật giáo Nam tông Khmer không công nhn Thưng đế, thn linh, thc sự đề cao vai trò con ngưi vi triết lý sống từ bi, hỷ xả, vô ngã, vị tha, luôn tôn trọng sự bình đẳng, tự do và trên thc tế cuộc sống xã hội - Phật giáo Nam tông Khmer đã dn dần khẳng đnh vị trí độc tôn, chủ đạo về tôn giáo, chi phối đi sống tinh thần - xã hội của cộng đồng ngưi Khmer ở miền Tây Nam Bộ. Nó thc sự là trung tâm hoạt động tôn giáo, xã hội của phum, sóc. Vai trò ca sư sãi trong xã hội, trong giáo dục đào tạo, trong đi sống… luôn giữ một vị trí quan trọng.

Đim lại thc tế trong các thi klch s, qua các thể chế chính trị - tổ chc hành chính, xã hội, cơ sở có đơn vị là phum sóc, Phật giáo Nam tông có đơn vcơ sở là chùa. Trong cuộc sống nơi trn thế, chùa luôn là trung tâm của phum sóc. Tuy nhiên, về mặt tổ chc, đạo và đi có khác nhau nhưng vi nhng đặc đim riêng biệt ca công đồng ngưi Khmer do sự gắn kết - mi liên minh tự nhn, có nhng thi đim Phật giáo Nam tông Khmer vi tổ chc ca mình (nhất là cấp cơ s/ chùa) đã phát huy rất tt vai trò trong việc quản lý xã hội - phum, sóc.

Có thể khẳng đnh, vai trò tổ chc quản lý xã hội của Phật giáo Nam tông đối vi cộng đồng ngưi Khmer ở Tây Nam Bộ nói chung, của nhà chùa đối vi phum, sóc nói riêng, trong quá khứ cũng như hiện tại và về lâu dài là luôn luôn bền vng. Thc tế cho thy, cơ cấu tổ chc xã hội - đơn vị hành chính cơ sở là phum sóc luôn chu sự chi phối chặt chẽ của tổ chc Phật giáo, của chùa và cũng tlâu luôn giữ vai trò đc tôn mà không có mt tôn giáo nào khác chi phối đưc. Chùa luôn là trung tâm (nhiều mt) trong cng đồng phum, sóc. Tất cả nhng vn đề đó đều đưc đồng bào Phật tử người Khmer chấp nhận, tuân theo vi cả tâm nguyện của mình.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây