14. HẠNH PHÚC VÀ TỰ DO TRONG GIÁO LÝ PHẬT GIÁO NAM TÔNG KHMER

Thứ bảy - 08/09/2018 12:49
HẠNH PHÚC VÀ TỰ DO TRONG GIÁO LÝ PHẬT GIÁO NAM TÔNG KHMER của TT. TS. Thích Nguyên Thành*

Dẫn nhp


Ngưi Khmer tiếp nhn tư tưng Phật giáo từ rất sm. Theo nhng phát hiện khảo cổ mi nhất thì có thể tư tưng Phật giáo ban đầu thâm nhp các vương triều Phù Nam, Chân Lạp và đế quốc Khmer là tư tưng Đại tha, chu ảnh hưng của vương triều Sailendra trong vùng Nam đảo (Indonesia); trong thi gian này, tư tưng Phật giáo Theravada cũng đã có mặt nhưng chỉ có tác động trong dân chúng. Vào thế kỷ XII, mt vị Tỳ kheo tên Tamalinda – đưc nhiều nhà nghiên cu cho là con trai của vua Javavarman VII – đã tham gia đoàn hành hương do các tu sĩ Miến Điện tổ chc đến Sri Lanka và sau đó mang về xứ nhiều kinh điển thuộc giáo phái Theravada. Kể từ thế kthứ XV, trong quá trình suy sp của đế quốc Khmer, Phật giáo Theravada lần lần trthành nền tảng tư tưng của ngưi Khmer và tiếp tục có ảnh hưởng mãi đến sau này.

Từ thế kthXVI, nhng cọ xát gia Đại Việt, Thái Lan và Cambodia, c y còn có các danh xưng Thy Chân Lp và Lục Chân Lp, đã dần dần làm cho lãnh địa ca ngưi Khmer ngày càng bthu hẹp. Đến cuối thế kthứ XVII thì toàn bộ vùng đồng bằng sông Cu Long trở thành đất đai của ngưi Việt. Vi nền tảng tư tưng là giáo lý Phật giáo theo truyn thống Theravada, nhng ngưi Khmer còn tiếp tục ở lại trên vùng đất cũ tng bưc hòa nhập vào cuộc sống mi dưi sự quản trị của ngưi Vit và cũng đã có nhiu đóng góp để làm phong phú văn hóa Việt. Một trong nhng giá trị đó chính là giáo lý Phật giáo Nam tông Khmer, đã đưc ngưi Khmer ở vùng đồng bằng sông Cu Long gìn giữ theo kinh đin Pali, gm trong các bộ kinh Nikaya. Bản tham lun dưới đây sẽ trình





* Phó trưởng ban Giáo dc Tăng Ni Trung ương, Phó Vin trưởng Hc viện Phật giáo Việt Nam tại Huế.
 
bày quan nim về Hạnh phúc và Tự do theo giáo lý Phật giáo Nam tông Khmer.

Quan đim Hnh phúc và Tdo


Sau khi đế quốc Angkor tan rã, ngưi Khmer tiếp tục chu nhng sc ép mnh mtừ phía Xiêm La (Thái Lan ngày nay) và Đại Việt (Việt Nam ngày nay). Các thế lc cát cứ khi phải da vào Xiêm, lúc phải nhờ vào Việt để duy trì quyn thống trkhiến lãnh thổ Khmer dần dần bị thu hẹp.

Cuối thế kỷ XVIII, toàn bộ vùng đồng bằng sông Cu Long trở thành lãnh thổ Việt Nam. Nhng người Khmer còn tiếp tục đnh cư trong vùng đã trthành công dân Việt Nam, cùng chu đng vi ngưi Việt Nam số phận dân btrị khi hu hết vùng Đông Nam Á trở thành thuộc đa ca các cưng quc phương Tây. Trong hoàn cảnh đó, ngưi Khmer ở vùng đồng bằng sông Cu Long tiếp tục gìn giữ truyn thống Phật giáo Theravada mà họ đã thấm nhuần từ vài trăm năm trưc. Truyn thống y cũng đưc gìn giữ trong thi gian Việt Nam trải qua hai cuc chiến tranh Đông Dương hồi gia thế kỷ XX và từ khi Việt Nam thc hiện đưc sự thống nhất đất nưc vào năm 1975 cho đến nay, kể cả giai đoạn có cuộc chiến tranh biên gii Tây Nam vi Khmer đỏ. Theo tng thi k, và tùy theo hoàn cnh chính trị thc tế, đã có nhiều tổ chc quy tụ nhng nhà sư và các vị cư sĩ Phật giáo ngưi Việt gốc Khmer được thành lập để thc hiện việc tu tp, học hỏi và truyn bá giáo pháp Theravada.

Sau năm 1981, mọi tổ chc Phật giáo của ngưi Khmer ở đồng bằng sông Cu Long thống nhất gia nhập Giáo hội Phật giáo Việt Nam dưi danh xưng Phật giáo Nam tông Khmer, xác đnh rõ mt hệ phái Phật giáo ly tư tưng Theravada làm căn bản, thc hiện mọi hoạt động tu tập trên nn tảng các bộ kinh Nikaya và truyn thng của ngưi Khmer, dẫn xuất từ kinh điển do ngài Tamalinda đem vtừ Sri Lanka hồi thế kỷ XII. Như vy, quan đim về hạnh phúc và tự do trong giáo lý Pht giáo Nam tông Khmer chính là nhng điều đưc đúc rút từ các bộ kinh Nikaya.
 

Vn đề hạnh phúc


Có thể nói rng mục đích của cuộc sống con ngưi là mưu cầu hạnh phúc. Nhưng hạnh phúc là gì? Thông thưng, ngưi ta nghĩ rằng hạnh phúc là sthỏa mãn cả về vật chất lẫn tinh thần. Tuy nhiên, mt điều rất rõ là nhng yêu cầu cần thỏa mãn về vật chất và tinh thần của mỗi cá nhân lại khác nhau, tùy thuộc vào hoàn cảnh, cá tính, thi đại… Có ngưi thy rằng nhng yêu cầu y là tiền bạc, sc khỏe, gia đình, tiện nghi… Lại có ngưi nhấn mnh đến việc đưc khen, đưc yêu, đưc thc hiện lý tưng gần gũi vi một đấng Thưng đế… Như vy thì ý nghĩa của hạnh phúc vẫn chưa phi là ý nim chung nhất của mi ngưi và như vy, chưa có những tiêu chuẩn để đánh giá hạnh phúc. Như đã đưc ghi nhận bi các nhà nghiên cu về hạnh phúc, ngay tthi cổ đại, triết gia Hy Lạp Aristotle đã rất quan tâm đến việc tìm hiu nhng nguyên nhân mang li hạnh phúc nhưng ông cũng cho rằng sự tiến bộ trong lãnh vc này khó mà đạt đưc.

Vn đề tự do


Nói chung, các triết gia hiện sinh phương Tây, như Albert Camus, Simone De Beauvoir, Jean Paul Sartre…, đu đề cao tự do trong hành động. Tự do đưc quan nim là tình trạng của một ngưi đưc phép làm nhng gì mà ngưi đó cảm thy là tốt cho mình; tự do cũng là phm chất của một ngưi có đủ kiến thc và phẩm hạnh để làm nhng gì phù hp với quy tắc đạo đc; và mọi ngưi đều đưc tự do ngang nhau. Từ nhng quan nim trên đã dn đến nhận đnh cho rng tdo thuộc về bản chất, khả năng của con người. Vấn đề đặt ra là không phải lúc nào con ngưi cũng có thể làm bất kỳ điều mình muốn cho dù điu đó không phương hại đến tự do của ngưi khác và stự do như thế có mang lại hạnh phúc cho mình hay cho ngưi khác hay không.

Hnh phúc và tự do theo quan đim ca Phật giáo


Vi nhng quan đim về hạnh phúc và tự do như trên, ta có thể thy rằng con ni tuy khao khát hạnh phúc, mơ ưc tự do nhưng họ chỉ có thể đi đến bế tắc. Thật ra, từ trên 2.500 năm trưc, quan đim về hnh phúc và tự do đã đưc Đc Phật nêu
 
lên mt cách cthể, thc tiễn và hoàn toàn có thể đạt đưc. Nhng quan đim đó hiện đang đưc Pht giáo Nam tông Khmer gìn gi.

Hạnh phúc và tdo ti hậu theo Phật giáo là Giải thóat, Niết bàn, có nghĩa là thóat khổ, không còn bị mi sự ràng buộc, là thanh thóat, an vui, vưt khỏi cái ngã hp hòi, giả ảo. Đc Phật dy: Nước của đại dương chỉ có một vị là vị mặn. Cũng vậy, Pháp và Luật của ta chỉ có một vị là vị giải thóat(kinh Udana, Phật tự thuyết). Nói cách khác, hnh phúc và tự do chính là trạng thái vô ngã. Trạng thái này ta có thể đưc trải nghim trong cuộc sng hàng ngày trên bước đưng mưu cu hạnh phúc và tự do tối hậu.

Khi tôi làm việc thin, khi tôi đem tài vật của tôi, khi tôi chu bỏ công lao để giúp ngưi khác tức là tôi đã quên mình, quên cái ngã nhỏ nhen của tôi. Trong kinh Trung bộ, Đc Pht đã phân tích các yếu tố cấu thành một chúng sinh gm sc, thọ, tưng, hành, thc và nêu rõ tất cả nhng thứ đó đều không phải là một thc thể cố đnh, không tùy thuộc vào ý muốn của chính nó, nghĩa là không có ngã; và Ngài khuyên các t-kheo, Do vậy, này các T-kheo, phàm sắc gì quá kh, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoi, thô hay tế, liệt hay thng, xa hay gn; tất cả sắc cần phải như thật quán với chánh trí tuệ như sau: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi’.

Phân tích sâu hơn, Đc Phật đặt câu hỏi để các T-kheo ttrả li:

Này các Tỳ kheo, các Ông nghĩ thế nào? Sắc là thường hay vô thường?

- Là vô thường, bạch Thế Tôn!

- i gì vô thường là khổ hay lạc?” - Là khổ, bạch Thế Tôn.
- Cái gì vô thường, khổ, chu sự biến hoại, có hp lý chăng khi quán cái ấy là: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’”
 
- Thưa không, bch Thế n.

Qua nhng dẫn dụ khéo léo của Đc Phật, các vị Tỳ kheo nhận biết cthể rằng cuộc đi là khổ. Và Ngài dy, “Thấy vậy, này các Tỳ kheo, bậc Đa văn Thánh đtử yếm ly đối với sắc, yếm ly đối với thọ, yếm ly đối với tưởng, yếm ly đối với các hành, yếm ly đối với thức. Do yếm ly, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thóat. Trong sự giải thóat, trí khởi lên: ‘Ta đã đưc giải thóat’…”. Cái ngã đưc hình thành bằng ngũ uẩn. Ngũ uẩn là con ngưi, là ngã, là khổ (Ngũ uẩn xí thạnh khổ). Thóat khỏi ngũ uẩn là thóat khỏi ngã, thóat khỏi kh, thóat khỏi mọi ràng buộc, là hnh phúc, tự do.

Thưng tọa Buddhadasa phát biểu trong  cuốn Heartwood of the Bodhi tree (Wisdom Publications, 1994): Để nói đến cốt ty của Phật pháp, tôi muốn nêu ra một câu nói ngắn gọn: ‘Đng để dính mắc vào bất cthứ gì’ (Sabba dhamma nalam abhinivesaya). Cũng vy, Nhà Nghiên cu Pht học Joseph Goldstein nói thêm: “Có nhiều din tả khác nhau về Giác ngộ, nhưng tất cả các truyền thống Phật giáo cùng gặp nhau ở mt hiểu biết về những gì giải thóat tâm. Đức Phật đã bày tỏ điều đó một cách rõ ràng, cthể: ‘Đừng dính mắc vào bất cứ thứ gì như là ‘tôi’, ‘của tôi’”(One Dharma, Harper Collins Publishers, 2003).

Luân hồi, khổ đau là do nghiệp. Nghiệp đưc hình thành do nhng hành động có tác ý. Như vy, giữ gìn ý thanh tnh, thiện lành thì hành động sẽ thiện lành. Trong hai bài kệ đầu tiên của kinh Pháp cú, Đức Phật dy:“ Ý dẫn đầu các pháp; Ý làm chủ, ý tạo; Nếu với ý ô nhiễm; Nói lên hay hành động; Khổ não bước theo sau; Như xe, chân vật kéo” “Ý dẫn đầu các pháp; Ý làm chủ, ý to; Nếu với ý thanh tnh; Nói lên hay hành động; An lạc bước theo sau; Như bóng không rời hình”.

Ý ở đây chính là tâm. Thc hành thiền đnh chính là tìm cách nhận biết tâm, tu sa tâm và chng ngộ cái tâm vô ngã. Căn bản cho thin đnh chính là Tứ nim xứ hay Minh sát tuệ (satipatthana sutta, số 10, kinh Trung bộ), quán sát bốn đề tài: thân bất tnh, cm thọ là khổ, tâm thì vô thưng, pháp thì vô ngã. Chính thiền đnh đưa đến trí tuệ, trí tuệ xóa tan vô minh,
 
phiền não, ràng buộc. Vy trí tuệ cũng chính là hạnh phúc, là tự do. Đc Đạt-lai Lạt-ma thứ 14 khẳng đnh: Đức Phật thấy rằng mục đích của cuộc đời là hạnh phúc. Ngài cũng thấy rằng trong khi vô minh trói buộc chúng sinh trong khổ đau, sợ hãi thì trí tuệ là sự gii thóat.(www.dalailama.com).

Hạnh phúc và tự do là trạng thái của một cái tâm vô ngã. Dĩ nhiên, trạng thái hnh phúc và tự do gồm nhiều cấp độ, từ thấp đến cao, từ chốc lát đến lâu dàicho đến khi đạt đến mc độ tối hậu: Giải thóat, Niết-bàn. Trong cuộc sống hàng ngày, ta có thể tìm thy hạnh phúc và tự do trong tng mc độ theo mc độ vô ngã của tâm ta. Đây cũng là nội dung của Phật sự hoằng pháp, của chư tôn đc trong cộng đồng Tăng-già qua việc giảng pháp, khuyến thiện, qua các nghi lễ, lễ lạc ti các tự viện.

Đó cũng chính là con đưng mà nhng ngưi Phật tử Khmer ở đồng bằng sông Cu Long chọn la khi hthc hành Phật giáo Nam tông Khmer; vì lẽ, họ vẫn luôn khắc ghi li Pht dy là hãy hành động “vì lợi ích, vì hạnh phúc của Trời và Người”. (Mahavagga). Chúng ta có ththy được điều đó khi nhận đnh rng ngưi Phật tử Khmer ở đồng bằng sông Cu Long đã thống nhất tham gia Giáo hội Pht giáo Việt Nam vi tư cách hệ phái Phật giáo Nam tông Khmer, sống hài hòa vi đồng bào các dân tộc khác, đóng góp vào nhng giá trị văn hóa Việt Nam bằng nhng giá trị văn hóa riêng mình qua các lĩnh vc giáo dục, văn hóa, xã hội… nhng lễ hội đặc trưng như Chol Chnam Thmay (Mng năm mi, cầu hạnh phúc may mn), Sel Donta (tương tự Lễ Vu-lan, nhớ ơn tổ tiên), Ook Om Book (lễ cúng trăng, cầu mưa thuận gió a, nhân dân hạnh phúc)… Có khoảng 15 lễ hội lớn mang ý nghĩa Phật giáo thu hút hầu như toàn thcộng đồng của đng bào Khmer đu nhm bày tsmong cu hạnh phúc. Cn nhấn mạnh rằng ý nghĩa chủ yếu của tự do ở đây là thái độ của cái tâm vô ngã, là hiu dụng ca các hành đng thiện. Do đó các nghi lễ cũng góp phần quan trọng trong việc mong cu hạnh phúc, nim vui trong cuộc sng, giải thóat, xa lìa các vưng mắc, phiền muộn.

Phật giáo Nam tông Khmer đã khéo léo gìn giữ và thc hiện nhng lời dy về hạnh phúc và tự do trong giáo lý Theravada.



TÀI LIỆU THAM KHO:
  1. Kinh Trung bộ, HT. Thích Minh Châu dch, VNCPHVN ấn hành, 1992.
  2. Kinh ơng ưng bộ, HT. Thích Minh Châu dịch, VNCPHVN ấn
hành, 1993.
  1. Kinh Pháp Cú, Tỳ kheo Thích Minh Châu dịch, NXB. Tôn Go, 2006.
  2. Chánh pháp và Hạnh phúc, Thích Minh Châu, NXB. Tôn Giáo, 2001
  3. Đạo đc học của Gii thóat, sĩ Trần Tuấn Mn, Tập văn Phật Đản, số 16, 1991.
6.   Nghi lễ của Pht giáo Nam tông gắn liền vi văn hóa dân tc Khmer. www.phathoc.net
  1. Khái quát về ngày lPchum ben. www.phatgiaovn.com
  2. Lịch   sử  Phật   giáo   Nam  tông  Việt   Nam,   ĐĐ.   Thiện   Minh. www.phatgiaonguyenthuy.com
  3. Gii  thiệu  sơ  lưc  về  Phật  giáo  Nam  tông  Khmer,  Minh  Nga. www.btgcp.gov.vn
  4. Freedom      from       Buddha      Nature,       Thanissaro      Bikkhu. www.accesstoinsight.org
  5. Happiness and Freedom, Paolo Verne. www.ideas.repec.org
  1. Khmer     Buddhist     History,     Preah     Thera     Bhikkhu     Santi. www.cambodianview.com
  2. Buddhism and Democracy. www.dalailama.com
14. Heartwood  of  the  Bodhi  tree,  Buddhadasa  Bhikkhu,  Wisdom
Publications, 1994.
15. One Dharma, Joseph Goldstein, Harper Collins Publishers, 2003.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây