13. VAI TRÒ XÃ HỘI TRONG PHẬT GIÁO NAM TÔNG KHMER Ở NAM BỘ

Thứ bảy - 08/09/2018 12:46
VAI TRÒ XÃ HỘI TRONG PHẬT GIÁO NAM TÔNG KHMER Ở NAM BỘ của Thích Nữ Viên Hiếu
Mỗi một cá nhân là một viên gạch xây nên ngôi nhà chung cho cuộc đi, là một cành hoa góp cho vưn hoa nhiều hương sắc. Chúng ta tn tại vi nhng địa vị khác nhau trong cuc sống, mỗi ngưi mang một vai trò khác nhau trong việc xây dng xã hội ngày một tốt đẹp hơn. Cũng vy, Phật giáo Nam tông Khmer ở Nam Bộ cũng có một vai trò của ngưi công dân đất Việt, hay rng hơn thế na là có trách nhiệm gia cộng đồng ngưi trên thế gii vi nhau.
  1. Vai trò xã hội của Phật giáo

Xã hội được tạo nên bởi nhiều yếu tố, thành phần, cộng đồng… Mỗi cá nhân có một vị trí, hoàn cảnh, điều kiện và vai trò riêng biệt. Nếu ai cũng thực hiện đúng vai trò của mình theo xu hướng tốt đẹp, chuẩn mực đạo đức thì sẽ đem lại động lực phát triển xã hội tốt.

“Vai trò là một tập hp các mong đợi, các quyn và nghĩa vụ được gán cho mt địa vị cụ thể. Nhưng sự mong đợi này xác định các hành vi của con người đưc xem như là phù hợp và không phù hợp đối với người chiếm giữ một vị trí(1).

Định nghĩa nêu trên cho chúng ta thy, vai trò không chỉ là nghĩa vụ mà trong đó có cả quyn và sự mong đợi. Ví d, một người nông dân đáp ứng được các mong đợi là mang thực phm đến cho mọi ngưi, đng thời có quyn hưng lợi nhuận từ sn


1 Trần Thị Kim Xuyến, Nhập môn Xã hi hc, Nxb Thng Kê Hà Nội, 2003, tr.205
 
phm đã làm ra, vai trò của họ là cày sâu, cuốc bm để có lúa gạo cùng các hoa màu khác cung cp cho đời sống con người.

Như vy, vai trò xã hội luôn có mối liên hệ mật thiết vi vị trí xã hi. Trước hết, một người phải làm tròn bổn phận đúng với vị trí của mình: Địa vị đóng vai trò là giáo viên thì cá nhân đó phải truyền giải kiến thức cho học sinh, còn những người học sinh để thực hiện tốt vai trò ca mình họ phải đi nghe giảng, ghi chép bài đy đủ, làm bài tập ở nhà(1).

Nếu mọi người không làm đúng vai trò của mình, thì hiệu quả, năng sut không cao. Chng hn, một nông dân mà đi dy học thì làm sao đưc. Trong một gia đình, mọi người phải làm tròn bổn phận của mình. Trong một xã hội, tùy theo trình đ, tay nghề,… mà mỗi người được phân công công tác khác nhau, có như thế thì xã hội mi tiến bộ, giàu đẹp.

Hệ thống kinh điển của Phật giáo luôn đặt nền tảng trên tinh thần duyên sinh vô ngã để trình bày về nhân sinh quan và vũ trụ quan một cách khoa học, nhm mục đích chng minh cho sự hiện hu của vạn pháp đều tồn tại dưi dạng nhân duyên. Vì thế, sự hiện hu của con ngưi và gia đình, xã hội cũng không ngoài nhng quy luật trên. Từ quan đim đạo đc Phật giáo bảo đm hạnh phúc và an lạc cho cá nhân, chúng ta bưc qua một lãnh vc khác, Phật giáo, nhất là Phật giáo Nam tông Khmer ở Nam Bộ có vai trò gì cho vn đề xây dng một xã hội tốt đẹp?
  1. Phật giáo trong vic thực thi đạo pháp và xây dựng một xã hội thiết thực
 
    1. Phật giáo trong việc thc thi đạo pháp


1 Nhập môn Xã hi hc, sđd, tr.125.
 
Phật giáo trong vai trò thực thi đạo pháp trước hết là phải tu học, giữ gìn giới luật… sau đó đem truyền trao lại cho mọi người cùng nhau có nim an lạc. Như vy, vai trò của tăng sĩ là mang thức ăn tinh thn đến cho tha nhân.

Hầu hết, ngưi Khmer ở Nam Bộ đều theo hệ phái Phật giáo Nam tông. Có thể nói, lý tưng sống truyền thống của ngưi Khmer ở Nam Bộ là Đc Phật. Cho nên, trong cuộc sống hằng ngày, dù sư sãi ở chùa hay dân chúng tại thế đều phải rèn luyn theo đạo pháp đó là: thọ gii, bố thí và niệm. Đối vi sư i, nhng điều trên là bắt buộc, đồng thi phải tụng kinh một ngày hai buổi, sau 12 giờ trưa không đưc thọ thc và không đưc tham gia các hoạt động dễ vui như ca hát, nhy múa…, còn ngưi dân phải thưng xuyên đến chùa cúng dưng và lPhật. Trong cuộc sống sinh hoạt của Phật giáo Nam tông Khmer, phần ln các vị tu sĩ sng vi hình thc trì bình khất thc, nhưng không khất thc quá hai lần trên mt con đưng… Như thế, trong giai đon này, Phật giáo Nam tông Khmer phần nào đó đã làm sống lại thời kNguyên thy Phật giáo, hạnh viễn ly, không tích cha tài sn, vật chất của Tăng già vẫn còn tồn tại như Đc Phật tng nói: Làm sao những đtử của Ta là nhng ngưi tha
tự pháp của Ta, không phải là nhng ngưi tha tự tài vật(1).

Tuy đây là một câu nói có vẻ rất đơn gin, nhưng lại hàm cha mt triết lý rất sâu sắc. Vì khi đã là một sa môn, một ngưi tu rồi thì hãy ly tinh thn giáo lý làm đầu, ly tinh thần tu tập làm đầu, không nên chú trọng quá nhiều vào các thế li mà ảnh hưng đến con đưng tu tập. Qua câu nói chúng ta cũng ngầm hiểu, Đc Phật đã thy rõ đưc nhng nguy him của thế gian mi từ

1  Thích Minh Châu dch, Kinh Trung b, tp 1, ‘i kinh Thừa tự pháp, Viện Nghiên cu Phật giáo Việt Nam ấn hành 1992, tr. 169.
 
bỏ tất cả để tìm đưc pháp giác ngộ giải thóat và khuyên các hàng đệ tử cũng thy rõ vấn đề đó để cho con đưng tu tập đưc tt.

Phật giáo Nam tông Khmer ở Nam Bộ cũng hành trì trên quan nim bố thí(1), làm phúc cu giúp mọi ngưi, tc là làm việc thiện, càng làm nhiều việc thiện thì càng có nhiều phưc đc. Trong Kinh Tăng Chi, phm Bố thí, Đc Phật dy cách bố thí như bậc chân nhân cho vật trong sch, cho vật thù diệu, cho đúng thi, cho vật thích ng, cho vi sự cn thận, cho luôn, tâm cho tnh tín, sau khi cho hoan h(2); hay Hãy đem cho sự không sợ hãi, sự không hận thù, sự không não hại chúng sanh(3).

Giới luật là nền tảng ca tu sĩ các tôn giáo, trong đó có Phật giáo nói chung, Phật giáo Nam tông Khmer ở Nam Bộ nói riêng. Nó kiến tạo nên một nền đạo đức gần như tuyt đối, giúp tu sĩ hoàn thiện bản thân mình trên mọi lĩnh vực cuộc sống. Phật giáo, trong đó có Phật giáo Nam tông Khmer ở Nam Bộ rất quan tâm đến việc “tiên học lễ, hậu học văn”, nghĩa là năm năm đu học luật (lễ), năm năm sau mới học kinh (văn).



Nói như vy không phải phủ nhận vai trò của kiến thức, mà còn hơn thế nữa, Phật giáo ly “duy tuệ thị nghiệp(4). Tuệ ở đây là tuệ siêu việt, vượt ra ngoài giới hn hiểu biết của thế gian.
  1. Bố thí (P. dàna) đây là mt hnh mà cả trong Phật giáo Nam truyn và Phật giáo Bắc truyn đều đề cập. Bồ tát thực hành hnh bthí không hbdính mắc vào bất cứ thgì, còn gi là tam luân không tch. Nếu như trong lúc bố thí mà còn thy mình cho, vật cho, người nhn,… là còn chấp ngã, là còn mun người khác trả ơn mình. Như thế là chưa đúng với bản hoài ca bồ tát. Mt nhân vật mà nhiều người biết qua các bản kinh đại thừa đó là ý Úc- già trưởng giả vi hnh bố thí bình đng, không phân biệt thành phn giai cấp.
  2. Thích Minh Châu dch, Kinh Tăng Chi, tập 3, phẩm Bố thí, Trường Cao cấp Phật hc Việt Nam, cơ sở II ấn hành, 1988, tr. 90- 91.
  3. Kinh Tăng Chi, sđd, tr. 90- 91.
  4. Ly trí tuệ làm snghiệp.
 
Cuộc sống ngày một thăng hoa, khoa hc, kỹ thuật phát triển, Phật giáo Nam tông Khmer ở Nam Bộ muốn hòa nhập, đem nim vui, an lạc đến cho mọi người thì cần phải học hiểu, bắt nhịp với sự tiến triển về mọi mặt, kể cả tâm lý, tinh thần của con người. Khi muốn giúp đỡ, khuyên bảo mt người đang gặp khó khăn, thì các tu sĩ Phật giáo Nam tông Khmer ở Nam Bộ thường tìm hiểu rõ về hoàn cảnh, nguyên nhân dẫn đến sự vic đó, để giúp Phật tử đưc làm mt con người đúng nghĩa trong xã hội.

Thc thi đạo pháp không có gì cao xa. Phật giáo nói chung, Phật giáo Nam tông Khmer nói riêng đều phải sống đúng theo tinh thn của ngưi con Phật, từ bi, hỷ xả, không bám víu mọi hư huyễn phù phiếm thế gian, chỉ một lòng phụng sự đạo, vì tha nhân trong tình yêu thương chân thật. Đạo - đi chẳng cách xa nhau. chúng tồn tại trong nhau như một điều thiết yếu của cuộc sống chân, thin, m… hòa mình vào cuc đi, nhưng không đánh mất bản chất tu sĩ, nghĩa là không mất đi nhân cách, đạo đc cần có trưc hết ca một con ngưi bình thưng.
    1. Phật go với việc xây dựng một xã hội thiết thực

Hầu hết người Khmer theo Phật giáo Nam tông, nên mi nghi thức lễ hội đu diễn ra ở các ngôi chùa và mang đm màu sắc lễ hội Phật giáo. Điều này thể hiện Pht giáo đóng một vai trò quan trọng trong ý thức hệ xã hội ca người Khmer. Chùa không chỉ là nơi tổ chức những ngày lễ hội Phật giáo thuần túy mà còn là trung tâm sinh hoạt văn hóa, xã hội của đồng bào Khmer. Cùng với sự sùng kính Phật giáo, các vị sư sãi được tôn trọng và có vị trí quan trọng trong đời sng tâm linh và sinh hoạt hằng ngày ca người Khmer. Trong suốt chiều dài lịch sử, khi Phật giáo Nam tông đi vào đời sng tâm linh của cộng đồng
 
người Khmer ở Nam Bộ, thì hầu hết bà con đã thực hiện những lời Đc Phật dy thông qua các tu sĩ, những Trưởng tử ca Như Lai.
      1. Trong gia đình

Gia đình là một xã hi thu nhỏ. Gia đình người Khmer ở Nam Bộ có sự chung sống giữa 3 thế hệ: ông bà, cha mẹ và con cháu. Phải hội tụ đy đủ các yếu tố cần thiết về chuẩn mc đạo đc của Đc Phật dy trong mỗi thành viên, theo tng vai trò và bổn phận trách nhim, thì gia đình mới có hạnh phúc đích thực đưc. Vì thế, muốn duy trì sự kiện toàn hạnh phúc gia đình, thì mi cá nhân không thể không tự tạo và thể hiện bổn phận và trách nhim của mình theo li Đc Pht dy đưc. Đức Pht đã đưa ra nhng nguyên tắc sau để làm chun mc cho mỗi cá nhân thc hiện nhm bảo vệ hạnh phúc gia đình đúng chánh pháp. Theo Kinh Thiện Sanh trong Trưng A-Hàm, Đc Phật dy rằng: “Sáu nghiệp tn tài là: đam mê rưu chè; cờ bạc; phóng đãng;
say mê kỹ nhạc; kết bn vi người ác; biếng lười(1).

Như vy, Đức Phật rất chú trọng đến kinh tế gia đình. Muốn xây dng mt nền kinh tế vng mnh, theo Đức Phật, trưc hết phải chọn nghề nghiệp mưu sinh chính đáng, nếu không, vì lòng tham muốn quá độ sẽ dẫn đến hành vi phm tội. Bà con Khmer ở Nam Bộ bao đời qua đã cố gắng tu tâm dưng tánh để lòng tham không trỗi dy. Trong thc tế, dù sống dưi chế độ chính trị nào, tlệ phm tội của bà con Khmer ở Nam Bộ rất ít so vi cộng đồng các dân tộc anh em khác.




1  Thích Minh Châu dch, Kinh Trưng A-Hàm, tập 1, Viện Nghiên cứu Phật giáo Việt Nam n hành, 2005, tr. 558.
 
Trong Tăng Chi BKinh, khi được hỏi cn phải hành trì nhng pháp gì để đem lại hạnh phúc trong hin tại, Đc Phật đã trả li: “có bốn pháp, tc là tháo vát, phòng hộ, làm bạn vi thiện, sng điu hòa(1). Tháo vát là nm thật vng nghề nghiệp của mình, mọi ngưi phải có một nghề để sinh sống và thiện xảo trong nghề y. Png hộ là phải khéo léo bảo vệ tài sản thu hoạch đưc, do công sc làm ra đúng pháp. Tài sản tạo ra đúng pháp y cn phải đưc bảo vệ, không cho la thiêu đốt, không
cho kẻ tha tự hư hng chiếm đoạt. Làm bn với thin là làm bạn vi ngưi có lòng tin để học tập lòng tin, làm bạn vi ngưi có gii đc để học tập gii đc, làm bạn vi người chăm bố thí để học tp bố thí, làm bạn vi ngưi trí tuệ để học tp trí tuệ. Sống điều hòa là sống có tiền nhập nhiều hơn tiền xuất, sống va phải, không quá keo kiệt bủn xn, không quá phung phí xa hoa, sống mt đi sống thăng bằng điều hòa. Khi có tài sản trong tay, Đc Phật khuyên nên dùng tài sản y như thế nào để đem lại hạnh phúc cho cho mình, cho gia đình mình, cho nhng ngưi phục vụ mình, cho bà con thân hu mình. Có tài sản không phải chất cha để làm giàu, không phải nhn ăn nhn uống để tích tr. Đc Phật khuyên nên dùng stiền thu hoạch đúng pháp để đem lại hạnh phúc cho mình và cho mọi ngưi xung quanh, như vy xã hội đoạn trừ đưc nhiều tham nhũng, bất công, la đảo,v.v... Thc tế bao đời qua, hầu hết bà con trong cộng đồng Khmer ở Nam Bộ đã thc hiện đưc điều y.
      1. Trong quan hxã hội.





1 Thích Minh Châu dch, ng Chi BKinh, tập 3, Viện Nghiên cứu Phật giáo Việt Nam ấn hành, 2005, tr.119.
 
Đc và suy ngm về nhng li dy của Đc Phật, cũng như liên hệ đến đi sống thưng nhật của bà con Khmer ở Nam Bộ, chúng ta ngạc nhiên về tính thiết thc hiện tại trong nhng li dy của Ngài về quan hệ gia đình và xã hội rất chi tiết như sau:
  • Tương hệ giữa cha mẹ và con cái(1). Đây là mi tương hệ thiêng liêng đáng đưc đảnh lễ. Và ý nghĩa đảnh lễ đích thc là quay về thc hiện các đim: Cha mnuôi con ăn học tốt. Khi con ln lập gia thất cho con nơi xứng đáng. Lúc cha mln tuổi, trao tài sản cho con. Con cái biết kính trọng, vâng li cha mẹ; lo học hành chăm ch; giúp đỡ cha mẹ khi cần; phụng dưng cha mkhi già; lo đám tang cho cha mẹ hẳn hoi theo phong tc tập quán.
  • Tương hệ giữa chồng và v(2). Chng phải thương yêu v; trung thành vi v; săn sóc đi sng vật chất cho v; kính trọng gia đình v,…Vợ phải thương kính chồng, trung thành vi chồng, quản lý gia đình tốt, siêng năng làm việc, đối đãi tốt vi gia đình và bạn bè chng.
ơng hệ gia thầy và trò(3). Thy phi dy nghcho trò đkhi vào đời có thể sinh sng. Trò phi chăm chhc tt, vâng li dy ca thy, gp đthy khi cn.
Tương hệ anh em, bà con láng giềng(4). Giữ tình chung thy, không bỏ nhau khi khó khăn, giúp đỡ nhau khi ốm đau, khó khăn.




 
  1.  
  1. Trưng Bộ kinh, tập 3, sđd, tr. 542.
  2. Trưng Bộ kinh, tập 3, sđd, tr. 543.
  3. Trưng Bộ kinh, tập 3, sđd, tr. 542.
  4. Trưng Bộ kinh, tập 3, sđd, tr. 544-545
 
Tương hệ giữa chủ và t(1). Chủ trả lương tương xng vi việc làm của tớ, thnh thoảng cho tớ thêm tin thưng, săn sóc giúp đỡ thuốc men khi tớ đau ốm. Tớ phải hết lòng lo việc, trung thành vi chủ.

Cuộc sống đang tn ti trong vô vàn mối liên hệ luôn đan xen để tn tại. Vì vy, nhân cách đưc thể hiện qua đạo đc sống luôn đóng vai trò quan trọng. Qua đoạn kinh trên, Đc Phật đã dy nhng phương cách tối thiểu mà cá nhân muốn hoàn thiện bổn phận trách nhim gia tự thân và cộng đồng xã hội cần phi có. Đây là những quan hệ xã hội mẫu mc và lý tưng có giá trị vưt thi gian. Từ khi Đc Phật xuất hiện cho tới nay, hơn 25 thế ktrôi qua, hơn nữa hoàn cảnh của xã hội Ấn Độ lúc by giờ hoàn toàn khác xa vi hiện nay, nhưng tất cả chúng ta phải khâm phục tinh thần bình đng và nhân bản toát lên từ nhng li dy của Đc Phật vmối quan hệ xã hội gia ngưi và ngưi.

Có thể khẳng đnh, mọi quan hệ xã hội nhân bản và bình đẳng đều có giá trị đo đc. Khi Đc Phật còn tại thế, nhân lúc hai nưc Vajji (Bạt k) và Magadha chun bị giao tranh, vua A- Xà-Thế phái đại thần Vassakara đến yết kiến Đc Phật. Ngài không trả li trc tiếp mà dy rằng: “Nếu một đất nưc hội đủ by điều sau đây thì già trẻ càng tăng thêm, nưc y càng đưc an ổn lâu dài, không ai có thể xâm lăng đưc: “Thưng nhóm họp để bàn luận về vic chính s; trên kính, dưi nhưng (phát huy tinh thần đoàn kết); thưng tôn trọng luật pháp, hiểu rõ nhng điều quốc cm và có lễ độ (tôn trng truyền thống); hiếu thảo vi cha m, kính thuận sư trưng; tôn trng đền miếu, kính nể quthần; khmôn chân chính, trong sạch không dơ, cho đến


1 Trưng Bộ kinh, tập 3, sđd, tr. 544.
 
các việc cưi đùa nói năng không tà vọng (đàn bà con gái phải giữ trinh tháo); tôn kính và phng sự Sa môn, ngưi trì gii, chăm chú hộ trì chưa tng lưi mỏi hộ dưng họ (như pháp tôn kính bậc A la hán)”(1).

Li dy của Đc Phật trong trưng hp quốc gia Vajji như mt thông điệp mang tinh thần bình đẳng, nhân bản, dân chủ. Li dy y mãi là bài học quý giá cho con ngưi, xã hội và quốc gia hiện đi.

Cũng thế, sự đóng góp của đông đảo sư sãi và chùa chiền Khmer ở Nam Bộ trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tc không hề nhỏ, đó là một phần không thể thiếu trong những trang sử vẻ vang của dân tc Việt Nam. Đó là cuộc mít tinh lớn của đồng bào và sư sãi Khmer ở chùa Ông Mẹt(2) vào tháng 7/1954; là cuộc đấu tranh lớn tập hợp hàng ngìn sư sãi kéo đến dinh tỉnh trưởng ngy ở Trà Vinh đòi thả sư Acha Lui Sarat(3), yêu cầu địch phải tôn trọng chùa chiền, thả những nhà sư bị bắt, không được bắt sư sãi đi lính của đông đảo đồng bào sư sãi Khmer ở Trà Vinh,v.v… Còn rất nhiều phong trào đấu tranh có sự tham gia của sư sãi Khmer cùng vi đồng bào người Việt bảo vệ đất nước. Đó là truyền thống đoàn kết vốn có giữa người Khmer - người Việt. Cũng vy, sở dĩ Phật giáo Nam tông Khmer đưc

 
  1.  
  1. Thích Minh Châu dch, Kinh Trưng A-Hàm, tập 1, Viện Nghiên cu Phật giáo Việt Nam n hành, 2005, tr. 84-87.
  2. Ca Ông Mẹk (Ông Mẹk là tên v sư cả có công khi dng chùa) , người Việt đọc là Ông Mẹt, tên ca chính thức theo tiếng Khmer là Bodhisálaràja (còn có tên gi khác là chùa Kom Pong); tọa lạc ở s50/1 đường Lê Li, phưng 1, thành phT Vinh, tỉnh Trà Vinh, Việt Nam. Chùa thuc hphái Phật giáo Nam tông Khmer,
hiện  là  nơi  đặt  Trường  Trung  cấp  Phật  hc  Nam  tông Khmer.  Ngày 3  tháng
3 năm 2009, Bộ Văn hóa, Ththao và Du lịch đã ra Quyết định s834/QĐ - BVHTTDL công nhn chùa Ông Mẹt là Di tích cấp Quc gia.
3 Acha Lui Sarat đng đu trong phong trào đấu tranh chính trị ca đồng bào Trà Vinh năm 1957 ở huyn T.
 
các tầng lp trong xã hội ủng hộ là nhờ sđoàn kết đó, nli Đc Phật dy: Này các tỳ kheo, khi nào chúng ta tự hp trong nim đoàn kết, giải tán trong nim đoàn kết và làm việc tăng sự trong nim đoàn kết, thi này các tkheo, chúng tỳ kheo sẽ đưc cưng thnh, không bị suy gim(1).

Như thế, tinh thần từ bi, đoàn kết, hòa hp và vô ngã vtha của Phật giáo có giá trị đối vi xã hội Việt Nam xưa cũng như nay. Nhưng trưc mắt, chúng ta thy bà con Khmer ở Nam Bộ đã thc hiện được phần ln nhng li dy của Đc Phật.
  1. Tự giác, giác tha

Cuộc sống mỗi ngày mt phát triển, thế nhưng hạnh phúc chân thật lại càng xa, phải làm gì để cu vãn tình thế, để đúng vai trò của một người tu sĩ mang nim vui đến cho đời? Trước hết phải tự giác rồi mới giác tha, ging như người biết bơi mới có thể nhy xung sông cu người chết đuối. Chúng ta phải loại bỏ những dục vọng tm thưng, ích ksống vì người khác hơn mình. Đc Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 dy: “Tình yêu và sự cm thông, tính kiên nhẫn, đức bao dung và lòng tha thứ là những phm chất cốt lõi. Khi ta có nó trong đi, mọi việc ta làm đều tr
thành công cđlàm li cho toàn thgia đình nhân loại(2).

Như vy, người theo Phật giáo nói chung, Phật giáo Nam tông Khmer ở Nam Bộ nói riêng không phải là những nhà truyền giáo, không phải chỉ có trách nhim đem nhng lời dy của Đc Phật truyền trao cho người có duyên thực hành, để có được sự an lạc trong nội tâm, không phân biệt thân sơ: Nên nghĩ thế này,

 
  1.  
  1. Kinh Trường b(1991), sđd, tr. 547.
  2. Đào Chính - Đoan Nghiêm, Biển trí huệ ca Đc Dalai Lama th14, Nxb. Phnữ, Hà Ni, 2006, tr. 165.
 
hết thy chúng sanh trong quá khứ đều đã là cha mẹ, vợ con, anh em, thân thuộc, thy bạn, tri thức của ta(1). Điều trước tiên là cần phải thực hành, kiểm nghim nó bằng sự an lạc của chính bản thân mình: Sự hoằng dương, truyền bá chánh pháp, quan trọng nht chính là ở nơi sự tu học của chính mình. Các vị tự mình tu học không tnh tựu, các vị tự mình không thể khế nhập cảnh giới chng đắc của chư Phật, Bồ tát. Như thế các vị ly gì mà giáo hóa chúng sanh(2).

Bên cạnh đó, bao đời qua, Phật tử Khmer ở Nam Bộ còn thc hiện đúng những gì pháp luật Nhà nước quy định, tham gia vào mọi công tác xã hội, bảo vệ môi trường, luật giao thông… góp phn xây dựng văn hóa nước nhà ngày mt tốt đẹp hơn. Họ quan nim, mình phải là người đy đủ phm hạnh, đạo đức chuẩn mực cho mọi người noi theo, đặc biệt là giới trẻ, giúp các em có cuộc sống lành mnh trong cõi Ta Bà vốn xô bồ, hối hả này.
  1. Thực dụng bn thân

Với Phật tử Khmer ở Nam Bộ, đạo - đời đu cần phải am tường. Cuộc sống ngày một thăng hoa với nhp độ phát triển như vũ bão của khoa học kthuật cũng như nhiều lĩnh vực trong cuộc sống. Từ li Đc Phật dy, thông qua nhng tu sĩ, những bậc làm cha mẹ ngưi Khmer ở Nam Bộ thy mình phải có bổn phận giáo dưng, phi có trách nhim đem đo đc mà giáo hóa con trẻ. Họ quan nim, trong một gia đình, nhng ngưi con đưc thành danh là nhờ vào sự giáo dục cũng như tình thương
  1. Kimura Taiken (Thích Qung Độ dch), Nguyên Thủy Pht giáo Tư tưng lun, Nxb. Tôn go, Hà Ni, 2007, tr. 424.
  2. Pháp sư Tnh Không (Thích Giác Thiện dch), Làm thế o để cu vãn phong hóa xã hội, Nxb. Phương Đông, tr. 216.
 
của cha mẹ. Đưc vy, con người mi xng đáng là con Phật, là nhng công dân có đc hạnh.

Trong xã hội ngày nay, lp trẻ ở một số nơi do chưa nhận thy giá trị đạo đc của tôn giáo, nên hsống thc dụng và buông thả. Phật giáo nói chung, Phật giáo Nam tông Khmer ở Nam Bộ nói riêng slàm gì đối vi tình trạng đạo đc đang suy thóai của một bộ phận trong xã hội hiện nay? Việc giáo dục lp trẻ vô cùng quan trng. Một thế hệ tốt phải da trên nền tng giáo dục đạo đc tốt. Do đó, giáo dục không chỉ là dy và học, mà trong đó không ththiếu yếu tố đo đc và yếu tố nhân văn. Theo Phật giáo, giáo dục tuổi trẻ là giúp chúng nhận diện đưc các hành vi xấu, dy cách chuyển hóa nhng hành vi bt thiện y. Phật giáo không thể không có trách nhim khi đạo đc của tuổi trẻ trong xã hội ngày một sa sút. Phật giáo có bổn phận chuyển mê khai ngộ, hóa giải nhng bất trc còn đọng trong tư tưng thế hệ trẻ, bằng cách tổ chc nhng lp học mà nội dung chủ yếu là giảng dy cho các em về giá trị đo đc, dùng li Đc Phật khuyên răn và hưng các em đến một đi sống chân thiện. Muốn đạt đưc điu đó, con ngưi không chỉ có nim tin tôn giáo, mà còn cần cả sự phần đấu nỗ lc của bản thân bằng cách thc hành một đi sng đạo đc đúng nghĩa. Từ đó, Phật giáo đưa ra nhng chuẩn mc đạo đc rất cụ thể để con ngưi tu tập, phấn đấu hưng đến con đưng tâm linh. Trong đó, nhng chuẩn
tắc phổ biến nhất là Ngũ gii(1) và Thập thiện(2).




 
  1. Không sát sanh, không trộm cp, không tà dâm, không nói di, không ung rưu.
  2. Không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không tham lam, không thù hn, không si mê, không nói di, không nói thêu dệt, không nói hai chiều, không nói ác
 
Đi vi thanh niên ngưi Khmer ở Nam B, theo truyền thống, khi đến tuổi trưng thành phải vào chùa tu vi thi gian tối thiểu là một tháng(1) và “đi tu không phải để trở thành Phật, mà tu để làm ngưi - làm ngưi có nhân cách, có phẩm chất đạo đc tốt(2), cũng chính là cách để báo hiếu vi cha mẹ. Khi đi tu, thanh niên Khmer một mặt đưc học Phật pháp, cách tu tập, cách sống, tự hoàn thiện bn thân, mặt khác đưc học nghề, học chữ Khmer, tiếng Pali để đọc tụng kinh điển… Vấn đề quan trọng hơn là, thanh niên Khmer đưc giáo dc, rèn luyện về đạo đc(3), lòng từ bi của Phật giáo, nhân cách và kỹ năng sống… khi htrở lại vi cuộc sống đi thưng. Về với vùng đt có đông đng bào Khmer ở Nam Bộ sinh sống, chúng ta được nghe họ truyn tụng: “Người không được tu trong chùa là người có nhiều tội li trong đời sống, hay Người Khmer từ lúc sinh ra cho đến khi trưởng thành, rồi về già và cho đến lúc chết mi buồn vui của cuộc đời gắn bó với chùa(4).

Nhng chuẩn mc này, nếu lưc bỏ màu sắc tôn giáo, sẽ là nhng nguyên tắc ng xử phù hợp gia ngưi với ngưi rất có ích cho việc duy trì đạo đc xã hi. Phải nói rng, Phật giáo Nam tông Khmer ở Nam Bộ đã đề cập trc tiếp đến nhng vấn đề đạo đc cụ thể của cuc sống thế tục và ít nhiều mang giá trị nhân văn qua kinh sách và qua cuộc sng thưng nhật. Trong thc tế,
  1.  
  1. Nguyn Mạnh Cưng, “Về đời sng tu tập ca sư sãi và Phật tử Khmer Nam B”, Tạp chí Nghiên cu Tôn giáo, s12/2007, tr. 25.
  2. Về đời sống tu tập ca sư sãi và Phật tử Khmer Nam B”, bđd, tr. 308.
  3. Đạo đức được xem là khái nim luân thưng đạo lý ca con người, nó thuc lĩnh vực thin và bất thiện. Nói đến đạo đức là nói đến lương tâm con người, ý thức xã
hi, nó gắn lin với văn hoá, tôn giáo và chnghĩa nhân văn, tập hợp nhng nguyên
tắc, quy tắc nhm điều chnh và đánh giá cách ứng xử ca con người trong quan hệ với nhau, với xã hi, với tự nhiên trong quá khứ, hiện tại cũng như tương lai.
  1. Trần Văn Bổn (2002), Phong tc và nghi lễ vòng đi ngưi Khmer Nam B, Nxb. Đại hc Quc gia Hà Ni, tr. 198.
 
nhng giá tr, chuẩn mc đạo đc đó có ý nghĩa nhất đnh trong việc duy trì đạo đc xã hội. Như vy, có thể khẳng đnh, Phật giáo Nam tông, trong đó có Phật giáo Nam tông Khmer ở Nam Bộ có một mng đạo đc mang tính đặc thù, đồng thi, có sự giao thoa gia nhng giá trị đo đc ca xã hi nói chung và đạo Đc Phật giáo. Đo Đc Phật giáo cũng có mt số giá trị nhất đnh trong đi sống xã hội, là một trong nhng nhân tố ảnh hưng mạnh mti nền đạo đc xã hội. Trong quá trình phát triển và phổ biến trên bình diện thế gii, Phật giáo không chỉ đơn thuần chuyển tải nim tin, mà còn có vai trò chuyn tải, hòa nhập văn hóa và văn minh, góp phần duy trì đạo đc xã hội nơi trần thế.

Như vy, xuất gia với ý nghĩa là ra khỏi nhà thế tục đy ràng buộc để sống một cuộc sống bn hàn, thanh cao, nhưng không có nghĩa là lìa bỏ thế gian này để đi tìm một thiên đường xa lạ. Các nhà sư vẫn sống trong lòng cuộc đời với sự tự tại, an nhiên vì lợi ích cho mi người.

Người tu sĩ Phật giáo nói chung, Phật giáo Nam tông Khmer ở Nam Bộ nói riêng không có vai trò trong việc tạo ra của cải vật chất, nhưng góp phần làm ổn đnh đạo đức xã hội trong khi thực thi đạo pháp. Phật giáo là một tôn giáo bình đẳng, tự giác, tự do, không bắt buộc. Trong vấn đề kỳ vọng xã hội cũng vy, Pht giáo Nam tông Khmer phải thực hiện đúng vai trò của mình, đồng thời là một công dân đất Việt: Người xuất gia phải làm sự nghiệp, bổn phận của người xuất gia đó chính là tu Định, tu Giới, tu Giới, Định, Tuệ... giúp đỡ hết thy chúng
 
sanh, phá mê, khai ng, lìa khổ, được vui(1). Nếu chỉ biết tu tập để được hạnh phúc riêng mình, đó không đúng với tinh thần lời Đc Phật dy, phi có trách nhim với những khổ đau của tha nhân, đem đạo vào đi, góp phần làm cho xã hội ngày một tốt đẹp hơn. Điu đáng mừng là nhìn lại đời sống thường ngày của cộng đồng Phật tử Khmer ở Nam Bộ hiện nay đã thực hiện cơ bản tinh thần y.
  1. Kết lun

Như vy, Phật giáo Việt Nam nói chung, Phật giáo Nam tông Khmer ở Nam Bộ nói riêng đã vn dụng vai trò xã hội vào việc thực thi đạo pháp nhm đáp ứng phần nào nhu cầu cuộc sống. Bởi lẽ, cuộc sống hôm nay đy đủ về mặt vật chất, nhưng lại thiếu thốn tinh thần, nếu không muốn nói là băng hoại về đo đức. Con người dễ rơi vào vực sâu của sự hụt hẫng, thiếu thốn mt cái gì khó định hình. Vì vy, nn tự tử ngày càng gia tăng. Mặc dù người ta đang sống một cuộc sống sung túc, nhiều lúc ở trên đỉnh cao danh vọng, nhưng họ vn không có đủ nim vui để tồn tại trên cuộc đi.

Vai trò xã hội của Pht giáo Nam tông Khmer ở Nam Bộ vi thuyết nhân duyên giúp cho mỗi phần tử trong đoàn thể, quốc gia, xã hội nhận thy rõ được đa vị quan trọng, cũng như ảnh hưng của mình đối vi toàn th, từ đó nhận thy trách nhim ca mình trong guồng máy xã hội. Bất cứ một phong trào xã hội nào nếu mun thành công cũng phải y đưc thiện cm trong quần chúng trưc đã. Thiện cm y đi kèm với một đc tin. Phật giáo Nam tông Khmer ở Nam Bộ vi một thế hệ ngưi sống


1 Pháp sư Tnh Không (Thích Giác Thiện dch), Làm thế o để cu vãn phong hóa xã hội, Nxb. Phương Đông, tr. 219.
 
đồng cam cộng khvi quần chúng, biết phụng sự lý tưng xã hội vô ngã và vô trưc, biết khinh thưng đa vị và quyn li thì chắc sẽ gây được nim tin và khơi dy ngun cảm hng y. Đó là một yếu tố cần thiết mang lại sự tồn ti của xã hội. Trong thời kđổi mới, Phật giáo Nam tông Khmer ở Nam Bộ phải có những phương hướng, chủ trương, biện pháp để xây dựng một xã hội Việt Nam đm đà bản sắc dân tộc và hin đại.



TÀI LIỆU THAM KHẢO:
  1. Kinh điển
  1. Kinh Pháp Cú, Thích Minh Châu dịch, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2000.
  2. Kinh Trưng A Hàm, tp 1, Thích Minh Châu dch, Nxb. Tôn giáo, Hà Ni, 2005.
  3. Tăng Chi Bộ Kinh, tp 3, Thích Minh Châu dịch, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2005.
  4. Kinh Trường b, tp 1, Thích Minh Châu dịch, Viện Nghiên cu Phật học Việt Nam ấn hành, 1991.
  5. Phật Quang đại từ đin, quyển 2, Thích Qung Độ dch, Hội Văn hóa Giáo dục Linh Sơn Đài Bắc xuất bản, 2000.
  6. Nguyn Mạnh Cưng, Về đời sng tu tp ca sư sãi và Pht tKhmer Nam Bộ”, Tp chí Nghiên Cu Tôn Giáo, s12/2007.
  7. Kimura Taiken (Thích Quảng Độ dịch, 2007), Nguyên thủy Phật go tư tưởng luận, Nxb. Tôn giáo.
  1. Sách nghiên cứu
    1. Trần Thị Kim Xuyến (2003), Nhập môn xã hội học, Nxb.
Thống kê.
 
    1. Phm Minh Hạc, Nguyn Khoa Đim (2003), Về phát triển văn hóa và xây dựng con ngưi thi kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa , Nxb. Chính trị Quốc gia.
    2. Đào Chính - Đoan Nghiêm (2006), Biển trí huệ của Đức Dalai Lama thứ 14, Nxb. Phụ nữ.
    3. Pháp sư Tịnh Không (Thích Giác Thiện dịch), Làm thế nào để cứu vãn phong hóa xã hi, Nxb. Phương Đông.
    4. Trưng Đi học KHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội, Trung tâm Nghiên cứu Tôn giáo đương đại (2009), Văn hóa, Tôn giáo trong bối cnh toàn cu hóa, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội.
    5. Trần Văn Bổn (2002), Phong tục và nghi lễ vòng đời người Khmer Nam Bộ, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Ni.
    1.  
    1.  
    1.  
    1.  

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây