10. ĐÓNG GÓP CỦA PHẬT GIÁO NAM TÔNG KHMER TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM

Thứ bảy - 08/09/2018 12:36
ĐÓNG GÓP CỦA PHẬT GIÁO NAM TÔNG KHMER TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM của Danh Sol*
Phật giáo Nam tông là tôn giáo chính và gắn bó lâu đi của ngưi Khmer. Từ khi du nhập vào cộng đồng người Khmer, Phật giáo luôn là biểu tưng cu nhân độ thế bằng hình tưng giáo hóa (tc là sử dụng hình ảnh ngưi tu thanh tịnh, không bbụi trần làm ô uế thân tâm để cm hóa chúng sanh) hơn là thuyết pháp giảng đạo giáo hóa. Từ tập quán truyền thống, 95% ngưi Khmer chỉ biết theo Phật giáo và thc hin theo nhng gì cha ông đã tng làm và truyn lại cho thế hệ sau, ít có ngưi hiểu sâu sắc về ý nghĩa cũng nli Phật dy. Chỉ có nhng ngưi đã tng vào chùa tu học mt thi gian mi hiu được ít nhiều về Phật giáo. Phật giáo Nam tông trở thành một thành tố quan trng trong suốt quá trình lịch sử ngưi Khmer.

Theo Phật giáo 2500 năm (xuất bản năm 1957) của Hội Tri thc Phật học, sau khi Đức Phật nhập diệt đưc 218 năm, có một vị vua tên Dhammàsoka ở Pàtaliputta xứ Ma Kiệt Đà (Magadha) có lòng tin kiên cố vào Tam Bo vang danh khắp Ấn Độ, là ngưi hộ trì kiết tp tam tạng kinh điển Phật giáo lần thứ ba vào năm PL.234. Sau khi kiết tập tam tạng kinh điển, vua Dhammàsoka đã phái các đoàn tăng sứ giả ln đầu tiên đi hoằng pháp khắp nơi ngoài đất nưc Ma Kiệt Đà - Ấn Độ. Về tăng đoàn Pht giáo do Trưng lão Moggali Putta Tissatthera phái chín đoàn tăng sứ giả đi hoằng pháp ở các nơi như sau:



* y viên Ban Trsự Giáo hi Phật giáo Việt Nam tnh Kiên Giang
 
 

T T


Tên tăng sứ gi
Nơi tăng sứ giđược phái đến
Đa danh thời
đim PL. 234
Đa danh thời
đim 1957

Ghi Latin

1

Majjhantikatthera
Kasmira
Gandhàra
Kasmira
Gandhàra
 
2 Mahàdevatthera Mahisandala Tnh Mai So Mysore

3

Rakkhitatthera

Vanavàsìpadesa
Phía Bắc tỉnh Kannara
Kannara

4
Yonaka
dhammarakkhitatthera
Aparantappad
esa
Tnh Kuch
Chăk ret

Gujrat
5 Mahàdhammarakkhitatthera Mahàrattha Tnh Maratha Marathe

6

Mahàrakkhitatthera

Yonakappadesa
Vương quc
Hy lạp
Tây bắc
Ấn Độ

7

Majjhimatthera
Himavantappa
desa
Vùng Bắc Hy
mã lạp sơn
 
8 Mahàmahindatthera Tàmbapanni Đảo Tích Lan  

9

Sonatthera và Uttaratthera

Suvannabhùmi

Suvannabhùmi
Đông Nam
Á

Hai vị tăng hoằng pháp là Sonatthera và Uttaratthera đi theo thuyn buôn Ấn Độ đến cập cảng Ô Keo (ngưi Pháp ghi là Aukeo, sau đọc thành Óc Eo, thuộc đa phận huyn Thoại Sơn, tnh An Giang hiện nay) và truyền đạo cho nhiều dân chúng nơi đây. Sau một thi gian hoằng pháp và tế độ cho các gii tử xuất gia tu hc, đủ khả năng trụ trì cu độ chúng sanh, hai vị thánh tăng này đi từ xóm làng dân chúng lên hưng núi gần cảng Ô Keo rồi không thy trở về na, nên dân chúng và các vị đệ tử gọi là Băt Thê, tc là Băt Thera (nghĩa là mất Thera = mất Thưng tọa). Từ đó về sau, vùng núi này gọi Băt Thê, về sau đọc thành
Ba Thê cho đến ngày nay(1).






1 Phật giáo 2500 m, Nxb. Hi Tri thức Phật hc, Phnôm Pênh, Campuchia, 1957.
 
Từ khi truyền vào cng đồng ngưi Khmer đến nay hơn
2.000 năm, Pht giáo luôn đồng hành cùng sự thăng trm của đất nưc. Khi Phật t, bá tánh khổ cc thì (tăng tín đồ) Phật giáo luôn kề vai sát cánh chia sẻ ngọt bùi. Phật giáo dy con ngưi luôn có trái tim nhân hậu, biết độ lưng vị tha, biết chung sc chung lòng làm cho xã hội thái bình an lạc. Khi xã hội không an vui, thái bình thì Phật giáo nguyện hy sinh để cng hiến cho nhân quần xã hội an lc, thái bình.

Ngôi chùa là nơi tp trung tất cả các lễ hi ln của ngưi Khmer; là nơi tôn thờ xương cốt ông bà, cha mẹ quá cố ca ngưi Khmer (chùa o có nhiều tháp thờ xương cốt ngưi quá cố thì chùa đó có nhiều Phật tử bổn t); là trung tâm văn hóa giáo dục con em của ngưi Khmer; là nơi bo tồn lưu giữ kinh sách, phong tc, tập quán, thờ cúng, truyn thống, văn hóa của ngưi Khmer; là nơi cu nhân độ thế khi có ngưi gặp hoạn nạn, nuôi gi, ủng hộ cán bộ cách mạng trong thi chiến.

Như vy, ngôi chùa rất quan trọng đối vi mọi mặt đi sống của ngưi Khmer. Thế hệ con cháu muốn biết chữ Khmer phải vào chùa học, mc dù hiện tại có nhiều trường phổ thông dy chữ Khmer cho con em tộc ngưi này. Hằng năm, các chùa trong tnh đều mlp dy chữ Khmer, dy giáo lý Phật giáo bằng tiếng/ chữ Khmer và tiếng/ chữ Pàli) và cấp chng nhận cho tu sĩ và Phật tử học chữ Khmer. Tnăm 2003 đến năm 2009, Sở Giáo dục và Đào tạo tnh Kiên Giang tổ chc kiểm tra trình độ lp 9 tiếng Khmer cho tu sĩ và Pht tử Khmer tự tìm sách vở nghiên cu học tập nâng cao trình độ. Nhưng hình thc này đã bị gián đoạn từ 2010 đến nay, chưa thể tiếp tục như nhiều đa phương khác ở Đng bằng sông Cu Long. Hiện tại, nhiều
 
cán bộ, viên chc làm việc trong các cơ quan, ban ngành của Nhà nưc liên quan đến tiếng/ chữ Khmer có nguồn gốc xuất thân từ trưng chùa(1).

Mặc dù Phật giáo Nam tông Khmer có truyền thống xuất gia tu hc một thi gian nhất đnh nào đó rồi hoàn tục vi gia đình làm ăn bình thường. Khi hoàn tục, họ đưc mọi ngưi xem như là đã trải qua thi gian tu tập, huấn luyện trở thành ngưi tốt (ngưi có học/ bòn đưt) để giúp ích cho gia đình, làng xóm và xã hội.

Qua hai thi kỳ chng đế quốc xâm lưc, rất nhiều nhà sư Khmer tham gia cách mng, giải phóng dân tộc. Tại Kiên Giang, Hòa thưng Tăng Phố (Trần Phố) tham gia chống thc dân Pháp, đưc tưng quân Đào Công Bửu (CBu) cấp cho bằng Quân Đại Hùng Sư”. Tháng 6/1894 bị mật thám Pháp bắt, Hòa thưng Tăng Phô cùng 22 ngưi khác là Pht tử và thành viên Ban Quản trị chùa Láng Cát và mt số nghĩa quân ca tướng Đào Công Bu bị kết án và đày ra Côn Đảo. Khi ra đến Côn Đảo, Hòa thưng Tăng Phô tchc vưt ngục về đất liền. Sau đó, Hòa thưng lại bị bắt và biệt giam ở Côn Đo cho đến khi mất ở trong nhà tù này vào ngày 24/6/1912. Hòa thưng Tăng Hô là thị giả tín cẩn của Hòa thưng Tăng Phô bmật thám Pháp truy bt nên chy trn xuống chùa Cù Là Cũ, sau đó trốn qua chùa Giồng Cm tiếp tục hoạt đng, đưc Việt Minh giao cho làm Chtch Hội Kluật Sư sãi khu Tây Nam B(tiền thân của Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nước) và Phó Chủ tịch y ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ. Hòa thưng Tăng Hô bmáy bay đch bắn chết



1 Hi Đoàn kết Sư sãi Yêu nưc tnh Kiên Giang, Truyền thống đu tranh cách mạng ca đng o n tc Khmer tnh Kiên Giang, 1997.
 
tại chùa Giồng Cm (tnh Hậu Giang ngày nay). Sau khi Hòa thưng Tăng Hô viên tch, Hòa thưng Tăng Nê trụ trì chùa Chắc Băng Cũ, Phó Mêkón, là học trò của Hòa thưng Tăng Hô đưc bầu giữ chc vụ Chủ tch Hội Klut Sư sãi Nam Bộ. Tháng 12/1948, Hòa thưng Tăng Nê đưc bầu làm Chtch Hội đồng Kluật Sư sãi tnh Rạch Giá và Phó Chủ nhim Mặt trận Việt Minh tnh Rạch Giá (tiền thân của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam).

Cùng thi, Hòa thưng Sơn Vọng ở chùa Dòng Chuối (Trà Vinh) đưc bầu vào chc Phó Chủ tch y ban Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam, Phó Chtch y ban Bảo vệ Hòa bình Thế gii của min Nam Việt Nam, cố vấn y ban Mặt trận Dân tộc Giải phóng khu Tây Nam Bộ. Hòa thượng Sơn Vọng viên tch năm 1963. Đến năm 1965, Hòa thưng Tăng Nê cũng bị máy bay Mỹ bắn chết trên đưng đi công tác ở vàm Kinh Hai, Vĩnh Thuận. Nối tiếp, Hòa thưng Hu Nhem ở Trâu Trắng, Bạc Liêu làm Chủ tch Hi Kluật Sư sãi Nam Bộ kiêm Phó Chủ tch y ban Mặt trận Việt Nam Nam Bộ. Đến năm 1966, Hòa thưng Hu Nhem cũng bị máy bay Mỹ bỏ bom chết tại chùa Trâu Trắng. Năm 1967, Hội Kluật Sư sãi Nam Bộ đổi tên lại thành Hi Đoàn kết Sư sãi Yêu nưc khu Tây Nam Bộ, bầu Hòa thưng Thạch Som ở Trà Vinh làm Chtch kiêm Phó Chtch y ban Mặt trận Việt Nam Nam Bộ. Từ năm 1967, các đa phương ở Nam Bộ đều thành lập Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu c. Tại Kiên Giang, ngày 10/06/1974, nổ ra cuộc biểu tình chng bắt sư sãi đi lính, bắn phá chùa chiền, chà đạp tôn giáo, miệt thị dân tộc, chính sách ngu dân,… của Mngy do Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nưc tnh Rạch Giá tổ chc dưi sự lãnh đạo của Ban Khmer vn của Tnh y và các Huyện y vận động sư sãi, đồng
 
bào Phật tử các huyện Châu Thành A, Châu Thành B, Gò Quao, Giồng Riềng, Hà Tiên,… Đch đàn áp cuộc biểu tình làm bốn nhà sư Khmer là Danh Tấp, Lâm Hùng, Danh Hom, Danh Hoi hi sinh, 16 nhà sư bị thương nặng và 12 nhà sư bị thương nhẹ(1).

Trên đây là sự khái lưc đóng góp xương máu của các tăng sĩ và Phật tử Khmer trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống M. Có thể khng đnh, Phật giáo Nam tông Khmer đã kề vai sát cánh vi vn mnh đất nước.

Tiếp nối truyền thng, từ khi miền Nam hoàn toàn giải phóng thống nhất đất nưc năm 1975 đến nay, gii Phật giáo Nam tông Khmer đã đóng góp nhiều công sc đáng kể cho công cuộc xây dng và bảo vệ Tổ quốc trong thi kỳ mi. Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nưc các cấp hoạt động dưi sự lãnh đạo của y ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban Dân tc, Ban Tôn giáo… ra sc tuyên truyền chính sách, pháp luật của Nhà nưc đến tăng , Phật tử người Khmer; làm cầu nối gia quần chúng Khmer vi chính quyn các cp. Sau khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam ra đi năm 1981, Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu c tham gia vào Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, hoạt đng trong khuôn khổ Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam theo phương châm “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội”.

Phật giáo Việt Nam cũng như Phật giáo Nam tông Khmer luôn đồng hành cùng dân tộc. Ngưi tu hành theo Phật giáo gọi là xuất gia, nghĩa là ra khỏi nhà riêng (trong đó có cả bản ngã) để dấn thân vào xã hội, đu đội tri chân đạp đất cu độ chúng sinh. Ngưi tu Phật không có nhà mà chỉ có chùa là nơi của bá tánh



1 Hi Đoàn kết Sư sãi Yêu nưc tnh Kiên Giang, Lịch sđu tranh cách mng ca Hi Đn kết Sư sãi Yêu nưc tnh Kiên Giang, 1980.

Phật tử thập phương xây dng để tu dưng trưng thưng, tổ chc các lễ hội của dân tộc. Cho nên, ngưi tu Phật là ngưi phụng độ chúng sanh, vì li ích của bá tánh Phật t. Họ đi bất cứ nơi đâu chúng sanh cn phụng s, cần cu độ… không có strói buộc, vưng bận.

Hình bóng nhà sư ôm bát khất thc tng nhà, mỗi nhà không đưc nhận vật thc cúng quá ba lần liên tục, là hình bóng của Phật giáo, nghĩa là ăn những thứ dân chúng có. Nếu dân chúng đang khổ cc, ngưi tu Phật cũng nhận nắm cơm khổ cc của bá tánh. Nơi nào dân chúng có vật thc no ấm, nơi đó ngưi tu Phật cũng đưc hưng sự cúng dường, nhưng không đưc quá ba lần liên tục. Trong lúc đi khất thc, ngưi tu Phật bao giờ cũng nim không giờ phút sao lãng, luôn nghĩ (quán tưng xem xét) ti công lao của thí chủ và tìm cách cu độ cho chúng sanh bt đi khổ cc. Nhng từ “Phật học và ý nghĩa Phật học” nếu đưc nghiên cu klưng chắc có ltốt hơn đối vi việc truyền tha mạng mch Phật giáo bằng hình ảnh hoặc đối vi nhng ai muốn hiểu rõ n giáo này.



TÀI LIỆU THAM KHO:
  1. Phật giáo 2500 năm, Nxb. Hội Tri thc Phật học, Phnôm Pênh, Campuchia, 1957.
  2. Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nưc Kiên Giang, Lịch sử đấu tranh cách mng ca Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu tnh Kiên Giang, 1980.
  3. Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu c Kiên Giang, Truyền thống đấu tranh cách mạng của đồng bào dân tộc Khmer tnh Kiên Giang, 1997.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây