Thực trạng Hoằng pháp tại huyện miền núi Khánh Sơn - tỉnh Khánh Hòa và giải pháp ghi nhận từ thực tế

Thứ năm - 20/09/2018 11:13
ĐĐ Thích Thanh Tri - Trưởng Ban Văn Hóa Phật giáo tỉnh Khánh Hòa
thich thanh tri 1THỰC TRẠNG HOẰNG PHÁP TẠI HUYỆN MIỀN NÚI KHÁNH SƠN, TỈNH KHÁNH HÒA VÀ GIẢI PHÁP GHI NHẬN TỪ THỰC TẾ
 
  1. Tính thời sự của đề tài
Phát triển Phật giáo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số là mục tiêu quan trọng của Giáo hội, nhưng hiện tại mục tiêu này vẫn chưa thực hiện được bao nhiêu, trong khi những tôn giáo khác đã và đang phát triển như vũ bảo, bằng chứng là đã hình thành những buông làng “toàn tòng” giăng mắc khắp các vùng sâu vùng xa, trong khi Phật giáo chỉ long đong phận đánh lẻ mang tính mùa vụ, và hoàn toàn không bền vững dựa trên tập tính “nay đi mai ở” của người đồng bào, nên nguy cơ Phật giáo không còn địa dư phát triển trên địa bàn dân tộc thiểu số là có thật. Nguyên nhân do chúng ta không có một chiến lược cụ thể dựa trên những nghiên cứu thấu đáo về đời sống văn hóa, tập tục, canh tác, sinh hoạt… của người dân tộc thiểu số, để từ đó có cách tiếp cận hiệu quả.
Trong thời gian được BTS GHPGVN tỉnh Khánh Hòa chỉ đạo về nắm bắt tình hình Phật giáo tại huyện miền núi Khánh Sơn, nơi có đông người Raglai cư trú, chúng tôi có cơ hội tiếp cận các buông làng, được mắt thấy tai nghe, hiểu được phần nào về thực trạng phát triển Phật giáo nơi đây. Dưới đây là những ghi nhận bước đầu về thực trạng Phật giáo tại huyện miền núi Khánh Sơn, Khánh Hòa dựa trên khảo sát 3 cơ sở Phật giáo tiêu biểu nơi đây.
  • 1 là cơ sở ở xã Ba Cụm Nam;
  • 2 là cơ sở ở xã Thành Sơn,
  • Cuối cùng là cơ sở ở thôn Tà Nĩa thị trấn Tô Hạp.
Gọi là cơ sở Phật giáo nhưng đây chỉ là những căn nhà cấp 4 nhỏ hẹp, chưa được nhà nước và Giáo hội công nhận. Ba nơi này đều có những đặc điểm điển hình, đủ điều kiện để thực hiện khảo sát, so sánh, đối chiếu. Từ những điểm mạnh yếu,; cái được chưa được dựa trên thực tế đặc thù của từng cơ sở, ta sẽ rút ra những kết luận cần thiết, có thể cung cấp lý thuyết cho việc hoằng pháp vùng đồng bào dân tộc thiểu số nơi miền Trung tây nguyên. (phần tóm tắt)
  1. Khái Quát Về Tình Hình Phật Giáo Tại Huyện Khánh Sơn
Khánh Sơn là huyện miền núi xa nhất của tỉnh Khánh Hòa về hướng tây nam, cách Tp. Nha Trang 90km. Địa hình nơi đây chủ yếu đồi núi, diện tích núi rừng chiếm đến 94% đất tự nhiên. Dân cư khoảng 24 nghìn người, trong đó đa phần là đồng bào dân tộc Raglai, kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, lâm nghiệp[1]. Với đặc điểm của một huyện miền núi nên đời sống kinh tế còn nhiều khó khăn hạn chế, nhất là đối với người dân tộc thiểu số.
Vì những yếu tố khách quan nên Phật giáo đặt chân đến nơi đây khá chậm trễ.. Mãi cho đến năm 2012, tức là gần 30 năm sau ngày thống nhất đất nước, Phật giáo mới bắt đầu xuất hiện tại đây trong hình thức những am thất tự phát do các tu sĩ miền xuôi lên tạo dựng; đến năm 2015, GHPGVN tỉnh Khánh Hòa mới chính thức đặt chân lên đây và tiến hành xây dựng 1 ngôi chùa (từ đây gọi là chùa Hội). Hiện tại nơi đây có tất cả 7 cơ sở Phật giáo, ngoại trừ ngôi chùa do Giáo hội tỉnh xây dựng, tất cả đều là tự phát, chưa được công nhận của các cấp có thẩm quyền. Mặc dù vậy, sự đóng góp của những cơ sở này cho sự phát triển của Phật giáo tại huyện nhà là hết sức to lớn, nhất là trong bối cảnh những tôn giáo khác gần như đang làm chủ đời sống tâm linh ở đây. Và cũng chính những cơ sở này làm tiền đề cho sự xuất hiện của ngôi chùa Hội năm 2015.
Trong quá trình đi thực tế nơi đây, chúng tôi đặc biệt ấn tượng với 3 cơ sở: 1 là cơ sở ở xã Thành Sơn do sư Ni quản lý, 2 là cơ sở ở xã Ba Cụm Nam do Phật tử tự trị (có sư Tăng chịu trách nhiệm, nhưng ở dưới phố, thi thoảng mới lên) và 3 là cơ sở ở thôn Tà Nĩa do sư Tăng quản lý. Điểm chung của 3 nơi này đều là những căn nhà cấp bốn chật hẹp, chưa được công nhận, nhưng sinh hoạt tôn giáo thì đầy đủ như một ngôi chùa, được đông đảo quần chúng Phật tử ủng hộ. Ngoại trừ cơ sở ở thôn Tà Nĩa nằm ở thị trấn Tô Hạp – Trung tâm của huyện Khánh Sơn, thì 2 cơ sở còn lại đều nằm những nơi xa nhất của huyện, gần nơi buông làng của đồng bào dân tộc thiểu số, tất cả đều sinh hoạt rất tốt với hàng trăm người quy tụ. Tại thôn Tà Nĩa đa phần là Phật tử người kinh về sinh hoạt, còn 2 thôn Ba Cụm Nam và Thành Sơn đa phần là người dân tộc thiểu số về sinh hoạt.
  1. Những Nhận Định Bước Đầu
  1. Về vị trí ngôi chùa:
Cơ sở ở thôn Tà Nĩa, thầy trụ trì đầy tâm huyết với người đồng bào, nên mua hẳn 1 chiếc xe 11 chổ để đưa đón con em người đồng bào về chùa sinh hoạt vào mỗi cuối tuần hay rằm mùng 1, nhưng hiệu quả không cao, chỉ thưa thớt vài người. Trong khi cơ sở ở Thành Sơn và Ba Cụm Nam thiếu thốn, hạn chế đủ bề, đường xá đi lại khó khăn. Như cở sở ở Ba Cụm Nam còn chưa có điện, nằm chơ vơ đơn độc bênh sườn núi giữa núi rừng hoang vu, hay cơ sở ở Thành Sơn phải lội qua con sông Tô Hạp dù nước cạn nhưng chảy khá xiếc, vào mùa mưa bão thì không đi được, nhưng quy tụ gần cả trăm người dân tộc thiểu số về sinh hoạt đều đặn.
Từ thực tế đó cho thấy, để kết duyên với đồng bào dân tộc thiểu số, chúng ta cần những ngôi chùa nằm giữa buông làng mới gần gũi, dễ dàng gắn bó, khuyến hóa họ. Những ngôi chùa to đẹp nằm giữa phố phường, mỗi năm vài dịp lễ lớn có tổ chức xe đưa về, họ cũng thấy lạc lõng xa lạ, rồi cũng không đọng lại điều gì nhiều khi họ ra về với bản làng, vì “xa mặt cách lòng”. Chùa lớn nằm ở trung tâm làm nơi quy tụ cho tất cả mọi người cũng rất quan trọng, nhưng đó là về sau nếu có điều kiện. Cái ưu tiên trước hết là những cơ sở nhỏ thôi, nhưng nằm ngay trong bản làng của người đồng bào để làm kế “sâu rễ bền gốc”.
  1. Về tính pháp lý của các cơ sở Phật giáo nơi đây
Tiến trình của sự sống là đi từ không đến có. Khi BTS tỉnh lên xây chùa Hội thì được nhà nước cấp đất, rồi tạo điều kiện pháp lý để xây dựng, hoạt động… nhưng những cơ sở khác đâu có được như thế, những Phật tử đầu tiên và quan trọng nhất của chùa Hội vẫn là những người đến từ những am thất tự phát kia, nếu không có họ, chùa Hội dù có to lớn bao nhiêu, pháp lý vững vàng thế nào cũng sẽ trống vắng vô cùng. Chùa Hội chính là gặt hái hoa trái từ các am thất tự phát kia đã gieo trồng trong lặng lẽ vô danh. Hơn nữa, một mình chùa Hội đâu thể gánh hết Phật sự cho cả huyện. Do đó, chúng ta cần phải có phương pháp giúp đỡ các am thất tự phát nơi vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc. Nếu chúng ta cứ chờ đợi danh chính ngôn thuận thì chúng ta sẽ mãi mãi là người đến sau, hậu quả thì như chúng ta đã thấy. Mặc khác, trong những lần trò chuyện với các vị lãnh đạo tại đây, các vị vẫn nói rằng: “Chúng tôi luôn tạo điều kiện cho Phật giáo hoạt động, và sẵn sàng cấp phép làm chùa, với điều kiện chúng ta phải có đất, có cơ sở thì mới cấp được. Như vậy rõ ràng tiến trình pháp lý vẫn phải vận hành theo cách như trên. Và mặc dù các cơ sở Phật giáo tại huyện Khánh Sơn chưa được công nhận, nhưng có đầy đủ sinh hoạt đặt thù của một cơ sơ tôn giáo như tụng kinh, bái sám, giảng dạy Phật pháp cho đồng bào Phật tử. cơ sở nào cũng có tối thiểu 30 người Phật tử trở lên. Vào những ngày lễ lớn, chính quyền địa phương đều có đến tham dự và luôn tạo điều kiện giúp đỡ. Như vậy rõ ràng là do cách sống, cách hành xử của mình trước khi đặt vấn đề pháp lý mà thôi.
Trên cơ sở đó, chúng tôi đề nghị Giáo hội tỉnh nên tiến hành khảo sát tất cả các địa bàn trong huyện, nhất là các buông làng. Qua đó quy hoạch xem nơi nào cần có chùa, bao nhiêu chùa là hợp lý, dựa vào đó vận động các tổ đình, các sơn môn, chư Tăng Ni có điều kiện dưới phố lên đó lập chùa và hướng dẫn quần chúng Phật tử. Trước mắt là mua đất, rồi cùng Phật tử địa phương cất những căn nhà cấp bốn làm nơi sinh hoạt, Giáo hội sẽ hỗ trợ tối đa về pháp lý, kiên quyết không hỗ trợ lập cơ sở ngoài những nơi Giáo hội đã xem xét và quy hoạch, để hướng nguồn lực về những nơi cần thiết nhất, và cũng không nhất thiết yêu cầu Tăng Ni phải có mặt thường trực tại cơ sở, vì như cơ sở ở Ba Cụm Nam, dù do Phật tử tự trị nhưng vận hành khá tốt.
  1. Về cách đi chùa của người đồng bào
Họ đi chùa là đi cả làng, và khi không đi thì cũng cả làng không đi. Điều này cho thấy tính cộng đồng làng xã, tính phong trào của họ rất cao. Điều đầu tiên họ đến với chùa không phải là tin Phật, muốn tu… họ đi vì trong buông làng có người đi nên họ đi theo. Như vậy tính dẫn dắt của người có uy tín trong buông làng là rất quan trọng. Quan sát cơ sở ở Thành Sơn và Ba Cụm Nam đều cho thấy điều này, tự dưng cả làng đi chùa, rồi cũng tự dưng một thời gian cả làng không đi nữa. Điều này cũng phù hợp với đời sống du canh du cư từ xa xưa của đồng bào dân tộc thiểu số. Bây giờ thì vấn đề du cư đã ít đi rất nhiều, sau khi nhà nước vận động định canh, định cư để hạn chế phá rừng, nhưng tập quán này vẫn khó bỏ trong nhận thức của họ, nên sự gắn một cách lâu dài đối với nơi nào đó vẫn là khó khăn. Do đó, việc đi chùa, rồi không đi nữa cũng như vậy, cho nên chúng ta phải chủ động gắn bó liên lạc với họ, lâu lâu phải xuống buông làng thăm hỏi động viên họ, khi thấy họ không đi chùa nữa thì phải gặp những người có uy tín trong buông để động viên ngay. Họ sống rất tình cảm, thật thà, nếu ta yêu thương quý mến họ, họ rất gắn bó với chúng ta.
  1. Về giảng dạy phật pháp cho người đồng bào
Không cần đặt vấn đề cao siêu, to tát với họ, thậm chí những vấn đề rất bình thường với Phật tử chúng ta như tu tập, làm phước, công đức, công quả, an lạc… thì đối với đại bộ phận người đồng bào là rất khó hiểu, và không cần hiểu. Có nhiều người đi chùa cũng khá lâu, được giảng dạy nhiều nhưng cũng không biết, không nhớ gì hết, nhưng lại rất gắn bó với chùa, tụng kinh lễ Phật rất nhiệt tình, thậm chí có em không biết chữ, hay mắt không thấy đường vẫn có thể học thuộc lòng chú Đại Bi hay những bài đạo ca và hát lên say sưa mỗi khi có dịp như ở Ba Cụm Nam, hoặc như ở cơ sở Thành Sơn, mỗi khi các em ăn cơm Sư cô bắt phải đọc kinh, vì nếu không đọc kinh thì cơm không có để ăn nữa, Phật không cho cơm; hay khi tổ chức đi chơi ở đâu đó, Sư cô yêu câu mỗi người phải học thuộc một bài kinh, bài sám gì đó, nếu ai không thuộc thì không được đi, thế là mọi người làm theo răm rắp. Tóm lại, động lực để họ đi chùa và gắn bó với chùa là niềm vui, là sự quan tâm của nhà chùa dành cho họ, ở đó họ thấy được tôn trọng và an vui. Đây là điều chúng ta cần hết sức quan tâm trong giai đoạn đầu.
  1. Về thái độ ứng xử với người đồng bào
Nơi đạo tràng nào chỉ toàn người dân tộc thiểu số thì dễ, nếu có cả người kinh và người đồng bào nữa thì là cả vấn đề. Vì người dân tộc thiểu số có tính co cụm lại trong cộng đồng của mình và e ngại tiếp xúc bên ngoài, tận sâu bên trong của họ là tính mặc cảm e dè. Trong những buổi lễ lớn tại chùa Hội, chúng tôi quan sát thấy người đồng bào dân tộc cứ lủi thủi đứng bên ngoài mọi sinh hoạt, bảo gì làm nấy, không bảo gì thì họ lại ra ngoài bụi, ngoài bờ mà ngồi, hoặc tìm một góc khuất nào đó mà ngồi, do đó vị trụ trì hay người điều hành phải dành cho họ sự quan tâm đặc biệt. Đó là chưa nói thái độ, cách ứng xử của Phật tử người kinh dù không cố tình, nhưng nhiều khi cũng làm cho người dân tộc mặc cảm xa lánh, co cụm lại rồi từ từ cũng thưa thớt và mất hẳn. Nên ngoài thái độ của vị đứng đầu ra, ta còn cần phải đặc biệt lưu ý đến thái độ, lời ăn tiếng nói, cách ứng xử… của Phật tử người kinh nữa, nếu ta muốn người đồng bào đi chùa một cách bền vững.
Còn khi cộng đồng họ đông thì họ rất tự tin và sinh hoạt vui vẻ năng động, gắn bó. Nên nếu chùa nằm giữa buông làng của người dân tộc và được người đồng bào họ làm quản lý cho thì không gì bằng; như cơ sở ở Ba Cụm Nam, ngoài một cô Phật tử người kinh phụ trách chính ra, còn một chị người dân tộc phụ giúp, nên trong những trao đổi, truyền đạt… thấy rất hiệu quả.
Trong những ngày ở Khánh Sơn, chúng tôi được tiếp xúc với rất nhiều các em nhỏ người dân tộc, các em rất hồn nhiên, chất phát. Tuy ngại ngần, e dè và không chịu nói năng gì lúc ban đầu, nhưng nếu kiên trì và thực sự quan tâm, chúng ta có thể tạo được sự an tâm tin tưởng nơi các em. Và đã có ít nhất 3 em người dân tộc muốn đi xuất gia. Như vậy có thể thấy vấn đề đi xuất gia của người dân tộc không phải là cái gì đó quá khó khăn, cái chính là ta phải thiết kế lại môi trường tu tập cho các em này, vì nếp sống, văn hóa, tâm tư tình cảm các em rất khác với truyền thống dạy chúng điệu trong chùa từ xưa đến giờ của chúng ta, nên các em sẽ khó thích nghi, và rồi sẽ bỏ cuộc nữa chừng là điều tất yếu. Trong chiến lược phát triển về vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc chúng ta nhất định phải lấy người đồng bào làm trung tâm, cần đặc biệt quan tâm đến vấn đề này.
  1. Đối tượng tiếp cận đầu tiên
Có thể bắt đầu từ trẻ em. Ở nơi vùng sâu vùng xa, cha mẹ phải lên nương cả ngày, các em nhỏ ngoài đi học thì không biết làm gì, không có đồ chơi, sân chơi như dưới phố, thường hay lang thang trong rừng, trong suối hay ven đường, thậm chí quên cả giờ học. Nên nếu chúng ta tiếp cận và tập hợp các em về chùa để chăm sóc, cũng như cho các em vui chơi thì rất tốt. Ngang qua trẻ em chúng ta tiếp cận được với bố mẹ các em và cộng đồng làng xã. Hiện tại cơ sở ở Ba Cụm Nam, Thành Sơn và Tà Nĩa làm rất tốt điều này. Các em ngoài đi học thì thường lên chùa chơi, rồi chùa trông coi các em tốt nên được bố mẹ an tâm khích lệ lên chùa mỗi khi đi làm, đi xa. Rồi chùa giúp các em học, thương các em nên các em biết nghe lời. Mỗi khi các em bỏ học, (điều này thì rất thường xuyên xảy ra), nhà trường phải nhờ nhà chùa khuyên răng nhắc nhở các em đi học. Như vậy chùa được nhà trường, cộng đồng tôn trọng nên công việc hoằng pháp càng thuận lợi. Nhờ tập trung được các em nên chúng ta cũng dễ vận động giúp đỡ về mặt vật chất nơi các Phật tử hảo tâm dưới phố. Vì người dân tộc phần lớn có nhiều khó khăn, nếu chúng ta giúp được về học tập cũng như ốm đau bệnh tật thì rất tốt, tạo được thiện cảm nơi cộng đồng, đem lại phúc lợi cho xã hội. Hiện tại ở 3 cơ sở trên, các em thanh thiếu niên người dân tộc là lực lượng đi chùa chủ yếu.
  1. Về từ thiện xã hội
Phật giáo phải nói là một tổ chức từ thiện khổng lồ, với báo cáo hàng năm từ địa phương đến trung ương hàng chục tỷ, trăm tỷ. Nhưng hầu như tự phát, thiếu tính tổ chức chiến lược. Với trách nhiệm điều phối của mình, Giáo hội nên quy hoạch lại hoạt động từ thiện có định hướng, từ thiện phải hỗ trợ cho hoằng pháp. Rất nhiều cơ sở Phật giáo ở vùng sâu vùng xa thiếu thốn những điều kiện vật chất để chăm lo, giúp đỡ những đồng bào Phật tử khó khăn, trong khi đây lại là thế mạnh của những tôn giáo khác. Chúng ta có tín đồ, nhưng không giữ được tín đồ phần nhiều do đây mà ra, nên cần phải định hướng lại hoạt động từ thiện. Chúng ta giúp được mọi người thì rất tốt, nhưng nếu nguồn lực hạn chế thì phải điều chỉnh nguồn lực đó đến nơi cần thiết nhất, trình tự tự nhiên là trong nhà trước, ngoài đường sau. Sẽ chẳng vẻ vang gì khi con cái trong nhà nhóc nheo thiếu thốn không giúp lại đi giúp hàng xóm.
IV. Kết Luận
Chúng ta không thể làm tốt một việc khi chúng ta chưa hiểu về nó. Đối với vấn đề phát triển đạo Phật lên vùng đồng bào dân tộc là một chủ trương lớn và hoàn toàn đúng đắn của Giáo hội. Tuy nhiên, để cụ thể hóa chủ trương này bằng hành động là cả một vấn đề, trong đó tìm hiểu kỹ lưỡng, thấu đáo về đời sống văn hóa, kinh tế, tập tục sinh hoạt… của đồng bào dân tộc là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu, để từ đó có cách tiếp cận hiệu quả
Với chức năng của mình, ngành hoằng pháp vừa trực tiếp thuyết giảng giáo lý, vừa là cơ quan tham mưu chính sách cho Giáo hội trong lĩnh vực hoằng pháp, nên cần nghiên cứu sâu vấn đề này để bảo đảm cho sự nghiệp hoằng pháp thành công.
Trên đây là những ghi nhận bước đầu khi chúng tôi có thời gian làm việc trực tiếp với người dân tộc Raglai nơi huyện miền núi Khánh Sơn, tỉnh Khánh Hòa, hy vọng có ích cho ngành hoằng pháp nơi vùng đồng bào dân tộc thiểu số./.

Thông tin tác giả:

 
THỰC TRẠNG HOẰNG PHÁP TẠI HUYỆN MIỀN NÚI KHÁNH SƠN, TỈNH KHÁNH HÒA VÀ GIẢI PHÁP GHI NHẬN TỪ THỰC TẾ
ĐĐ Thích Thanh Tri (ĐT: 0916958459)
Trưởng Ban Văn Hóa Phật giáo tỉnh Khánh Hòa
Email: minhtrietthichthanhtri@yahoo.com
 
[1] Theo cổng thông tin điện tử huyện Khánh Sơn.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây