Phật Pháp Ứng dụng - Mô hình Hoằng Pháp mới trong thời đại hộin, áp dụng những lời dạy thiết thực của Đức Phật vào chữa trị tâm bệnh

Thứ hai - 17/09/2018 07:35
ĐĐ.Thích Vạn Năng - Phó Thường trực Ban, hoằng pháp Phật giáo tỉnh Đăk Lăk
van nang 3PHẬT PHÁP ỨNG DỤNG - MÔ HÌNH HOẰNG PHÁP MỚI TRONG THỜI ĐẠI HỘI NHẬP ÁP DỤNG NHỮNG LỜI DẠY THIẾT THỰC CỦA ĐỨC PHẬT VÀO CHỮA TRỊ TÂM BỆNH

Tóm tắt:
   

Phật pháp ứng dụng - là sự ứng dụng lời dạy của Đức Phật trong cuộc sống hàng ngày. Đó là sự hợp nhất của tất cả các mặt thiết yếu của cuộc sống như là sự lành mạnh về thể chất, tinh thần, và quan hệ xã hội, cũng như những phương diện về đạo đức, triết lý, kinh tế và khoa học kỹ thuật. Điều này bao gồm tất cả các tư tưởng Phật giáo được thực hành trong môi trường hội nhập. Bài tham luận sẽ chú trọng dẫn ra những lời dạy thiết thực của Đức Phật nhằm giải trừ khổ đau cho chúng sanh, mà ngày nay, trong thời đại kỹ thuật công nghệ, các nhà tâm lý và phân tâm học đã vận dụng để đưa vào cuộc sống, làm cho những người thực hành chúng sẽ mang lại hiệu quả hết sức tích cực. Thực hành những phương pháp này sẽ góp phần làm cho cuộc sống thêm phần an vui, hạnh phúc.  
  1. Giới thiệu
Phật giáo được biết đến như là một tôn giáo hướng tới sự giải thoát giác ngộ. Tuy nhiên, trong cuộc sống đời thường, chân lý đó thường được đặt ra đối với mục tiêu giảm trừ khổ đau trong cuộc sống của con người. Chính vì lẽ đó, giáo lý Phật giáo đã được khai triển và ứng dụng hết sức phong phú và đa dạng, nhằm đáp ứng nhu cầu về mọi mặt của đời sống con người.   
- Phật pháp ứng dụng: Là một khuynh hướng mới trong thời đại khoa học kỹ thuật công nghệ và hội nhập toàn cầu hiện nay. Có thể thấy, Phật pháp ứng dụng (Applied Buddhism) là một sự tiếp biến của Phật giáo dấn thân (Engaged Buddhism), hay Phật giáo nhập thế (Socially Engaged Buddhism) mà những vị cao tăng thạc đức Phật giáo Việt Nam (PGVN) đã giới thiệu và ứng dụng rất hiệu quả vào giữa thế kỷ 20 của thế kỷ trước.
- Phật pháp ứng dụng: Đóng một vai trò hết sức quan trọng trong thời đại ngày nay khi mà con người phải sống trong một không gian rộng mở, phải tiếp xúc với nhiều loại hình tương tác khác nhau, tạo ra nhiều chướng duyên, phiền não, con người phải chịu nhiều bệnh tật, đau đớn, khổ sở. Theo số liệu của Viện Sức khỏe Tâm thần Trung ương: Hiện tại Việt Nam có đến 30% người dân bị rối loạn tâm thần, trong đó tỷ lệ trầm cảm chiếm 25%.[1] Cứ 05 người sẽ có một người bị rối loạn tâm thần. Những biểu hiện bệnh thường gặp có thể là cảm giác buồn chán, trống rỗng; khó tập trung, hay quên; luôn cảm giác mệt mỏi, không muốn làm việc gì; cảm giác mình có tội lỗi, vô dụng, không xứng đáng; mất ngủ, hoặc ngủ quá nhiều; hay cáu gắt, giận dữ; giảm thích thú trong các hoạt động hoặc sở thích hàng ngày... Một số hoàn cảnh dễ dẫn tới trầm cảm: mất mát người thân; ly dị, sống độc thân; thay đổi môi trường sống, thất nghiệp, hoặc có các bệnh cơ thể mãn tính...
Bài tham luận này sẽ nỗ lực đưa ra những khía cạnh ứng dụng thiết thực về mặt tâm lý của giáo lý Phật giáo và tâm lý liệu pháp cũng như những giải pháp tích cực nhằm giải tỏa các khuynh hướng phiền não có thể dẫn đến các nghiệp xấu, tâm thể bất an, đời sống không được an vui, hạnh phúc.
  1. Nội dung
  1. Đức Phật - nhà tâm lý trị liệu
Xuất phát từ một con người bình thường, Đức Phật nhìn thấy cuộc đời là khổ, rồi tìm đường giải thoát. Ngài nghiên cứu học hỏi rồi tự ngồi thiền định để tìm ra cốt lõi của mọi vấn đề về khổ. Ngài không phải là một thần linh, đấng tạo hóa. Trong một bài kinh, Đức Phật trả lời cho một người Bà-la-môn có tên Dona rằng,: "...Ta không phải là một con người bình thường như bao con người; Ta cũng không phải là thần linh, nhà tiên tri, mà là một con người giác ngộ..."[2] Điều này nói lên rằng, tất cả là nhờ sự tu tập, nỗ lực tự khám phá và hoàn thiện mình, không một ai có thể làm thay mình. Hơn nữa, Đức Phật cũng khẳng định, chúng ta phải tự chịu trách nhiệm cho chính mình và tương lai con cháu chúng ta.[3] Điều đó nói lên tính tự thân của mỗi con người rất rõ.
Những lời dạy của Đức Phật cũng rất thực tế, gần gũi, dễ hiểu, dễ thấy, không phải là những giáo điều huyễn hoặc, mê tín. Lời dạy của Đức Phật được mô tả như là những lời dạy mang tính “thích ứng”, “thiện xảo”, một nghệ thuật truyền đạt tri thức giải thoát làm ổn định tâm. Với khả năng thông hiểu những đặc tính của con người nhờ khéo léo trong việc thuyết giảng, Đức Phật đã hóa độ nhiều hạng người khác nhau, kể cả đối lập, ương ngạnh nhất. Qua đó, Đức Phật được ví như một vị thầy thuốc; lương y; bác sĩ. "Pháp" được ví như thuốc hay và "Tăng" ví như người y tá. Tất cả đều nhằm để chữa trị tâm bệnh cho chúng sanh. Hay nói cách khác, Phật là Đạo sư, người chỉ đường, Pháp là con đường, và Tăng là người bạn đồng hành.
  1. Phương pháp trị liệu bằng cách nói chuyện
Câu chuyện về cách ứng xử của Đức Phật đối với chàng Angulimala (Vô Não), kẻ giết người hàng loạt, cũng như nhiều tình huống khác, là phương pháp trị liệu bằng cách nói chuyện. Vô Não vốn dĩ là một người hiền lương nhưng vì nghe theo lời dạy bảo của thầy mình để đền đáp công ơn dạy dỗ mà phải trở thành một kẻ sát nhân, nhưng rồi chính Đức Phật đã giáo hóa chỉ bằng cách nói chuyện để sau đó trở thành một bậc thánh nhân.
Hay câu chuyện về người mẹ trẻ có đứa con qua đời. Đức Phật đã dùng lời nói để cảm hóa nhận thức và hướng dẫn con đường vào đạo. Trong câu chuyện này, Đức Phật đã dùng một kiểu nhận thức về hành động để đánh thức tuệ giác nội quán trong bà mẹ trẻ vừa mất đứa con trai yêu quý. Ngài “chữa trị” nỗi đau đớn của Kisa Gotami bằng cách yêu cầu cô ta mang đến cho Ngài một ít hạt cải từ một gia đình không có người chết. Đây có thể xem là một liệu pháp “ngược đời”, là cách làm cho một người “chấp nhận sự thật”, chứ không phải là cô ta chưa bao giờ thấy chết chóc.
Câu chuyện về sự bình thản của Đức Phật trước mọi hoàn cảnh sự việc: khi có người đến mắng nhiếc Ngài, chê bai Ngài, vu khống Ngài, Đức Phật đều ứng xử một cách bình thản với trí tuệ và ngôn từ thích hợp khiến cho họ cảm thấy có lỗi, sai trái, hối hận… Bằng cách sử dụng những phương pháp như vậy, Đức Phật đã thay đổi cách nhìn nhận sai lệch của con người.
Cách thực tập:
- Duy trì việc tiếp xúc bằng mắt và thoải mái, bằng giọng đàm thoại không quá rụt rè, không quá lớn.
- Sử dụng lối nói: “Tôi-nói” làm chủ thể, thay vì, “Mày đã làm nhục tôi,” hay “Mày có bị thần kinh khi làm điều đó không,” hãy bắt đầu bằng cách nói: “Tôi thấy khó khăn với những gì đã diễn ra,” hay “Tôi buồn,” hay “Tôi cho rằng điều đó là không công bằng.” Bằng cách thể hiện quan điểm của mình mà không có thẳng thắn phê bình hay tấn công. Bởi vì người gây tội nếu không bị chỉ trích, họ ít có khả năng để trở nên phòng thủ, bướng bỉnh, hay giận dữ.
- Hãy lịch sự; tránh ra lệnh. Một mệnh lệnh: “Ngừng ngay việc làm quá ồn này đi!” là cái ngôn ngữ của một ông tướng đối với một thuộc hạ. Nó không cho thấy sự tôn trọng đối với phía bên kia. Nó có khả năng không gợi lên một tinh thần hợp tác, mà sẽ tạo ra sự oán hận.
- Bắt đầu bằng một tinh thần thiện chí.
- Rèn luyện tính quyết đoán rất hiệu quả nhưng thỉnh thoảng lại không có tác dụng. Bắt đầu công việc giải quyết vấn đề bằng suy nghĩ rằng - không phải mọi vấn đề đều được giải quyết ổn thỏa. Nếu không đưa đến kết quả gì, hãy tự làm giảm đến mức thấp nhất mức độ rối loạn của chính mình.
- Thực tập theo ví dụ: Bạn đang ngồi trong một toa tàu không hút thuốc. Một tấm bảng "không Hút Thuốc" rõ ràng là ở ngay phía trên lối vào toa tàu. Một hành khách đi vào, ngồi xuống cạnh bạn, và đốt một điếu thuốc. Sẽ có các kiểu phản ứng như sau:
- Cách nhìn đe dọa bực bội nhưng không nói gì,
- Giận dữ chửi đổng với số từ ngữ mắng mỏ.
- Thẳng thắn chỉ trích: “Xin lỗi, anh không nhận ra đây là toa không hút thuốc. Có tấm bảng chỉ đằng kia.”
Bài thực tập hướng đến mục đích giúp ta giữ được trạng thái tâm cân bằng, không bị cuốn theo các cảm xúc của đối phương, để hạn chế những ngôn ngữ ứng xử không kiềm chế xảy ra khi gặp hoàn cảnh sự cố nêu trên.
  1. Liệu pháp nhận thức sâu
  1. Nhận diện bản thân:
Tôi là ai? Tôi là cái gì? Đó không phải là tôi; của tôi; tự ngã của tôi. Nên đó không phải là tư tưởng của tôi; cảm xúc của tôi; [4] Tâm không phải là ngã; Tâm thường biểu hiện ra các trạng thái khác nhau như: Thương; giận; yêu; ghét; khó chịu; chán nản; thích thú; hân hoan…Các yếu tố đó dường như khiến tâm chúng ta trở thành như là tâm thương, giận, yêu, ghét,…Chúng thay đổi rất mau chóng. Đó không phải là tâm chúng ta; cũng không phải tâm chính là ngã; vì nếu ngã là cái ta; cái của ta thì lẽ ra ta phải làm chủ nó; thân này là của ta ta cũng phải làm chủ nó; không để nó già đi…
Tâm không phải là những tư tưởng và cảm nhận đó. Khi ngồi thiền, chúng ta dễ dàng nhận ra chúng đến rồi đi, xuất hiện và biến mất mà không thể nào lần tìm được. Chúng như những vị khách, nhưng lại để nó cho chúng ta cái cảm tưởng về chúng ta là ai. Những tư tưởng và cảm xúc này đều thoáng qua, như thể chúng xuất hiện chỉ để diệt đi. Chúng ta không biết chúng đi đâu.
Đôi khi chúng ta dựa vào người khác để đánh giá mình là ai? Hoặc thấy mình đáng yêu, đáng ghét, vui vẻ, khó chịu.... Đó là một cảm nhận sai lầm về bản thân. Do đó, Đức Phật dạy rằng: Do chấp nhặt vào quan điểm về ngã như là cái gì đó chắc chắn và riêng biệt khiến cho chúng ta tham ái, chấp thủ nên gây ra đau khổ. Chúng ta không chỉ tự đánh giá mình thông qua cảm nhận của người khác mà còn so sánh mình với người khác. Chúng ta sử dụng những người xung quanh làm công cụ đo đạc cách chúng ta sinh sống. Từ đó đưa đến khuynh hướng căn bệnh “tình trạng lo lắng”; “mối bận tâm đau đớn”. Phép chẩn đoán của Phật giáo - Người mang chứng bện này là cái "Nội tâm", hướng ngoại và quan trọng thế giới bên ngoài. Qua đó, chúng ta nhận biết  "Ta là ai?" và bản chất của chúng ta là gì?
  1. Nhận diện thế giới
Nhìn thế giới đúng như thật của nó “see things as they are” là lời nói thường được thấy trong kinh điển. Đức Phật dạy:
- Sự vật không trường tồn, sinh diệt tương tục. Người vô minh, sẽ không muốn nhìn nhận sự vật theo cách nhìn đấy, họ suy nghĩ như thế là thiếu thực tế - Đức Phật muốn chúng ta nhìn thấy bản chất của chúng chỉ là giả tạo, để tránh tham đắm.
- Cách nhìn nhận sự vật tác động đến tâm và tâm phản ứng như thế nào? Vì chúng ta không muốn nhìn nhận sự vật diễn ra theo cách của chúng nên ta không có được sự bình an; vì chúng ta cứ muốn sự vật cứ khác đi. Nhưng chúng cứ diễn ra theo đúng bản chất của chúng là: VÔ THƯỜNG, KHỔ, VÔ NGÃ. Đó là bản chất của sự vật, là chân lý. Do đó, Đức Phật dạy: “những ai thấy Pháp là thấy Ta”.[5]
- Phương pháp nhận thức bằng Tứ đế: Trong khi giáo lý Tứ đế, là con đường trực chỉ tìm ra nguyên nhân của khổ và con đường để diệt trừ khổ. Pháp môn này giúp ta nhận diện được nguyên nhân khổ và giải pháp diệt khổ. Để có được nhận thức theo lý Tứ Đế, cần phải tư duy và thực hành Bát chánh đạo -
nhận thức sâu dày nội tâm, khéo giữ chánh niệm, ý thức tự chuyển hóa, tự làm nhẹ bản thân, cảm nhận được ba nghiệp diễn biến hằng ngày nơi tự thân và đưa  bản chất ấy "ra ánh sáng, để chấp nhận nó và chửa trị hành vi “sai trái” đó.
Giải pháp:
- Nhận ra các khát ái khẩn cấp, nhu cầu về cái tôi cấp bách đang bị hụt hẫng -> giảm thiểu cái tham ái này như : Sân hận; Sợ hãi; Kích động; Tham muốn, và  làm sao cho chúng khỏi chiếm cứ cảm xúc của chúng ta.
- Thấy được cái tạo ra khổ đau; Thói quen về suy nghĩ, đã góp phần tạo ra khổ đau.
- Tính lạc quan -> giải pháp định hướng; Bi quan -> ít thành công hơn, trầm cảm hơn, dễ trầm cảm.
- Giảm thiểu tham ái và đối phó với những nỗi sợ hãi quá mức (sự mất cảm thụ hệ thống - ví dụ như: Sợ một con mèo!)
- Hướng về con đường Trung đạo giữa hai cực đoan (rèn luyện tính quyết đoán; Luyện tập để thật sự lạnh lùng; Trung tâm giữa 02 thái cực sợ hãitức giận).
  1. Thiền tập về ảnh tượng
Thực tập thiền và thiền tập về ảnh tượng, được xem là hiệu quả trong những năm gần đây nhằm theo dõi một số tiến trình của nội tâm trong một trạng thái hoàn toàn thư giãn. Hoạt động này giống như việc thực hành thiền, trong khi thiền liên hệ đến việc tịnh hóa nội tâm.
Thực hành này được chứng minh, là đặc biệt hữu hiệu trong việc cải thiện nhiều chức năng của nội tâm. Bằng cách luyện tập việc thực hành đó trong trí tưởng tượng. Ví dụ  như: Một người phụ nữ trở nên dễ bị kích động và giận dữ đối với mẹ chồng. Phản ứng của cô về sự tức giận đối với mẹ chồng đã tạo ra những khó khăn cho người thân và chồng của cô. Cô ấy cần phải thực tập ngồi yên tỉnh và tảh lỏng, để thay đổi phản ứng nóng giận không thể kiểm soát được này sang một tư thế điềm tĩnh, thanh thản và buông xả. Bằng cách này, sẽ dần thay thế thói quen dễ dàng phản ứng với sự nóng giận.
  1. Liệu pháp chánh niệm
Phương pháp chánh niệm, có thể nói là trọng tâm của việc thực hành tâm lý liệu pháp. Bản thân chánh niệm là phát triển các kỹ năng chánh niệm, giúp con người trở nên ý thức hơn, giảm thiểu các hình thái tự động đối với các kiểu tự hại mình một cách vô thức trong các mối quan hệ.  Chánh niệm là phương pháp thực tập lắng nghe, hiểu sâu, nói chuyện cởi mở không phán xét, vừa thăm dò các mức độ phản ứng của tâm và cảm xúc; hoặc làm cho chủ thể, đối tượng tự cảm nhận, hiểu được các cảm xúc tích cực hay tiêu cực của bản thân. Phương pháp trị liệu này, sẽ giúp phát triển các kỹ năng. Nhiếp phục tham ái, sân hận, sợ hãi, thành kiến, cố chấp… để chúng không còn chiếm cứ kinh nghiệm và hành vi của chúng ta, đạt được một trạng thái đầy đủ hơn về các đức tính của nhẫn và của xả. 
  1. Kết luận
Trên đây là một số các kỹ thuật được áp dụng bởi những nhà tâm lý trị liệu được rút ra từ những lời dạy thiết thực của Đức Phật. Nhằm giảm bớt tình trạng đau khổ trong cuộc sống. Ở đây, nhà trị liệu giống như một người bác sĩ, là người tương tác với bệnh nhân nhằm đem lại cuộc sống an lạc hạnh phúc cho họ. Tuy nhiên, trong hầu hết các trường hợp, sự tương tác là một điều đòi hỏi phải có nhiều kinh nghiệm. Các chủ nhân sẽ học cách có chánh niệm hơn, từ bỏ những niềm tin và thói quen có hại lâu dài trong chính họ, thực hiện lập trường giải quyết vấn đề hơn là phản ứng chống lại sự kích động đối với những thách thức trong cuộc sống của họ.
Như đã được đánh giá trên đây, nhà trị liệu giống như là vị thầy đã chỉ dẫn con đường hướng đến sự chuyển hóa từ bên trong, sự chuyển hóa đó sẽ giải phóng cá nhân khỏi những khổ đau, sự chuyển hóa mà những người có trí tuệ trong cả hai truyền thống Đông và Tây đều nỗ lực hướng đến.  
 
 

[2] Tăng chi bộ kinh II, Chương IV, Phẩm bánh xe, VI (36).
[3] Trung bộ kinh, kinh Tiểu nghiệp phân biệt (Cùlakammavibhanga Sutta).
[4] Kinh Ví dụ con rắn thuộc Trung bộ kinh.
[5] Tuyên bố này xuất hiện nhiều trong các kinh Nikaya và A-hàm.
Và Chương 23, 24 của tác phẩm Buddhist Thought and Applied Psychological Research, Edited by D.K. Nauriyal, Michael S. Drummond and Y.B. Lal, Routledge, Frist Published, 2006.
 
PHẬT PHÁP ỨNG DỤNG - MÔ HÌNH HOẰNG PHÁP MỚI TRONG THỜI ĐẠI HỘI NHẬP ÁP DỤNG NHỮNG LỜI DẠY THIẾT THỰC CỦA ĐỨC PHẬT VÀO CHỮA TRỊ TÂM BỆNH
Thích Vạn Năng
Phó Thường trực Ban hoằng pháp
Phật giáo tỉnh Đăk Lăk
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây