Chia sẻ chân lý theo cách của Đức Phật

Thứ hai - 24/09/2018 21:02
TT. TS Thích Nhật Từ Ủy viên HĐTS, Phó ban Hoằng pháp Trung ương
 
thich nhat tuCHIA SẺ CHÂN LÝ THEO CÁCH CỦA ĐỨC PHẬT


1.TĂNG SĨ TỪ “PHÁP SƯ’’ ĐẾN “BÁC SĨ TÂM LINH’’
Mỗi Tăng, Ni phải là một Pháp sư (). Về phương diện này, tôi thích người Trung Quốc dùng khái niệm “Pháp sư’’ chỉ cho các vị tu sĩ. ‘’Pháp sư’’ viết tắt của “Tam tạng Pháp sư’’ () mà Tam tạng Pháp sư là vị thầy truyền bá chân lý bao gồm ba kho tàng: Kho tàng chân lý (kinh tạng), kho tàng đạo đức (luật tạng) và kho tàng triết học (luận tạng). Rất tiếc, phần lớn Tăng Ni không chú trọng vai trò Pháp sư, đang khi chỉ làm những việc tay trái như hành chính, quản trị và tín ngưỡng.
Nếu dùng từ hiện đại thì “Pháp sư” có thể thay thế với cụm từ “kỹ sư tâm hồn” (spiritual technician) nhấn mạnh về phương pháp, hay “bác sĩ tâm linh” (spiritual doctor) nhấn mạnh về trị liệu, chẩn đoán bệnh, truy tìm nguyên nhân bệnh, cho giá trị sức khỏe và phương pháp trị bệnh.
Nếu 54,000 Tăng Ni trong 18,447 ngôi chùa trên toàn quốc đều làm vai trò Pháp sư, trở thành “bác sĩ tâm linh” hay “kỹ sư tâm hồn” thì chắc chắn Phật giáo sẽ được nhân dân Việt Nam thuộc mọi thành phần xã hội gồm giới chính trị, doanh nhân, trí thức, tuổi trẻ và giới bình dân đón nhận.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, vai trò chính của Tăng sĩ là nỗ lực hoằng pháp nhằm phát triển Phật giáo và phụng sự nhân sinh. Tăng Ni phải có nhiệt huyết truyền bá chân lý Phật, gồm dịch kinh sách, viết sách Phật học, thuyết pháp, tổ chức các khóa tu và tư vấn tâm linh. Mục đích của việc truyền bá chân lý không chỉ giúp cá nhân đạt được hạnh phúc an vui mà cần cam kết mang phúc lợi cho toàn nhân loại.

2. SƯ PHẠM HOẰNG PHÁP
Hoằng pháp () là nghệ thuật truyền thông chân lý và đạo đức Phật dạy đến người nghe nhằm giúp mọi người khép lại khổ đau, mở ra an vui, hạnh phúc. Trong suốt 45 năm hoằng pháp, đức Phật chỉ truyền giảng hai nội dung chính, chân lý (Dhamma) và đạo đức (Vinaya). Các tác phẩm Vô tỷ pháp (Abhidhamma) theo Phật giáo Đại thừa không do đức Phật nói.
Hoằng pháp là tiến trình truyền bá chân lý, huấn luyện chân lý, thực tập chân lý, chứng đạt chân lý nhằm thay đổi toàn diện các hành vi bao gồm tư duy, lời nói, việc làm của người nghe.
Sư phạm hoằng pháp (弘法師範) là khoa học mà việc sử dụng các phương pháp giáo dục nhằm đào tạo các Tam tạng pháp sư với  mục đích khải mê và khai ngộ. Khải mê chỉ rõ đâu là tham ái, sân hận, si mê, chấp thủ dẫn đến các nỗi khổ niềm đau, cần phải vượt qua. Khai ngộ là mở tuệ giác, đánh thức tính Phật bị ngủ quên trong nhận thức và hành xử của người nghe nhằm giúp họ sống tốt hơn, có giá trị hơn. Kết quả của giải mê khai ngộ là giải phóng toàn bộ khổ đau bao gồm sầu, bi, khổ, ưu và não.
Sư phạm hoằng pháp là nghệ thuật cảm hóa, giáo hóa, hóa độ, cứu độ quần sinh nhằm kết thúc những nỗi khổ niềm đau, hướng đến an vui và vượt khỏi sanh tử, luân hồi. Giáo hóa là cứu độ người khác thông qua phương pháp giáo dục gồm kỹ năng giáo dục và kỹ năng sư phạm. Hóa độ là cảm hóa người khác bằng phương pháp giáo hóa, từ tiêu cực thành tích cực, từ phàm thành thánh, từ mê tín thành chánh tín. Cứu độ là cứu giúp mọi người vượt qua sông khổ đau, đến bến bờ giác ngộ, giải thoát.
Các nhà hoằng pháp trước nhất phải là người nghiên cứu Phật pháp, nắm vững nền tảng Phật giáo Nguyên thủy và Phật giáo Đại thừa cũng như cách ứng dụng Phật pháp trong đời sống thực tiễn.
Sư phạm hoằng pháp giúp các pháp sư và hoằng pháp viên nâng cao chất lượng Phật pháp và ứng dụng Phật pháp trong đời sống, đồng thời, đảm bảo được hiệu quả của các hoạt động truyền bá chân lý Phật trong đời sống thực tiễn. Ở đây, cả người truyền bá chân lý và người tiếp nhận chân lý đều được nâng cao chất lượng hạnh phúc.

3. LẤY ĐỨC PHẬT LÀM QUY CHIẾU TRONG HOẰNG PHÁP
   Có hai trường phái Phật giáo là Phật giáo Nguyên thủy và Phật giáo Đại thừa. Trong các nước Phật giáo Nguyên thủy như Thái Lan, Tích Lan, Miến Điện, Lào, Campuchia thì các vị tổ sư chỉ đóng vai trò là người dẫn dắt đạo. Khi tổ sư này viên tịch thì tổ sư khác tiếp tục vai trò dẫn dắt nhân sinh. Trong Phật giáo Đại thừa gồm Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Tây Tạng và Mông Cổ thì hệ quy chiếu chân lý tập trung vào các vị tổ sư khai tông, lập phái. Đó là sự khác biệt căn bản về nguyên tắc hoằng pháp giữa hai trường phái Nam truyền và Bắc truyền.
Mặc dầu xuất thân từ Phật giáo Đại thừa, tôi đề nghị quý Tăng Ni hành đạo trong hoàn cảnh hiện nay, nên lấy đức Phật làm hệ quy chiếu để giảm bớt những học thuyết, do các vị tổ sư truyền bá vốn chỉ phù hợp với bối cảnh văn hóa xã hội vào những giai đoạn lịch sử nhất định, mà bây giờ có thể không còn phù hợp trọn vẹn.
Một trong sáu đặc điểm chân lý của đức Phật siêu việt thời gian, tức không bị lỗi thời khi khoa học, kỹ thuật và công nghệ phát triển cao. Khoa học càng phát triển thì Phật giáo lại càng chói sáng hơn, trong khi các tôn giáo khác bị thách đố trước sự tiến bộ của khoa học hiện đại. Do đó, lấy Phật làm hệ quy chiếu sẽ giúp pháp sư truyền bá chân lý Phật hiệu quả hơn và lợi ích cho nhân loại trong giai đoạn cách mạnh công nghiệp thứ tư.
Lời Phật dạy chỉ là phương tiện để diễn đạt chân lý, giống như ngón tay để chỉ mặt trăng; ngón tay không phải là mặt trăng. Bỏ ngón tay, ta mất cơ hội thấy mặt trăng. Chấp vào ngón tay, ta mất mặt trăng vĩnh viễn. Lời dạy của Phật tức bát-nhã văn tự là một công cụ, phương tiện chuyên chở chân lý hữu hiệu.
Trong quá trình hoằng pháp, các pháp sư phải đề cao chân lý Phật; tuyệt đối không đề cao bản thân trên các giảng đường. Pháp sư chỉ là công cụ của đức Phật, cánh tay nối dài chân lý Phật. Do đó, ngoài việc dựa vào tứ thánh đế, các pháp sư nên tôn trọng 5 quy luật[2] sau đây:
3.1. Quy luật thời tiết (Utu-niyāma) gồm có bốn mùa xuân, hạ, thu và đông; ngày và đêm; tối và sáng; nóng và lạnh… là các quy luật tự nhiên trong vũ trụ, không do thượng đế và thần linh chi phối.
3.2. Quy luật chủng tử (Bīja-niyāma) chi phối gien di truyền của con người, các chủng loại động vật và vạn vật trong vũ trụ, theo đó, có các chủng loại động vật khác nhau.
3.3. Quy luật tâm thức (Citta-niyāma) được sinh khởi, tồn tại và hoại diệt trong từng sát-na đối với từng cảnh vật thông qua, mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi, lưỡi nếm, thân xúc chạm, ý hình dung.
3.4. Quy luật nghiệp (Kamma-niyāma) gồm hành vi tốt, hành vi xấu, tích cực và tiêu cực liên hệ đến tâm ý, lời nói và hành động, tạo ra các loại quả hạnh phúc hay khổ đau.
3.5. Định luật pháp (Dhamma-niyāma) là luật chi phối các pháp hữu vi gồm mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới hữu vi trong vô thường và vốn không có nguyên nhân đầu tiên.

4. HOẰNG PHÁP PHÙ HỢP VỚI CHÂN LÝ (KHẾ LÝ)
Khế lý () là phù hợp với chân lý Phật dạy trong Kinh điển Pali, kinh điển Agama và kinh điển Đại thừa. Các nhà truyền bá chân lý phải truyền bá chân lý Phật phù hợp với bốn chân thánh đế, vốn là pháp môn quan trọng nhất trong 45 năm truyền bá chân lý của Phật. Noi gương đức Phật, các vị pháp sư nên chia sẻ giải pháp kết thúc khổ đau qua bốn bước như được trình bày trong Kinh chuyển pháp luân.[3]
Bước một, thừa nhận nỗi khổ, niềm đau. Giúp người nghe tránh ba thái độ tiêu cực: Cường điệu hóa khổ đau, vì như thế sẽ làm cho cảm xúc của người khổ dẫn đến trầm cảm và tự tử; phớt lờ khổ đau, vì như thế là liều mạng; và đào tẩu khỏi thực tại khổ đau, vì như thế là thiếu trách nhiệm.
Bước hai, truy tìm nguyên nhân khổ đau là tham ái (tanha), dẫn đến tình trạng bám víu chỗ này, chấp thủ chỗ kia gồm khao khát tính dục (dục ái), khao khát hiện hữu (hữu ái), khao khát kết thúc hiện hữu (vô hữu ái). Theo Kinh Mười hai nhân duyên thì nguyên nhân của nỗi khổ niềm đau còn có sân hận, si mê và chấp thủ. Khoanh vùng được nguyên nhân mới có thể kết thúc khổ đau thành công.
Bước ba, chứng nghiệm hạnh phúc, cao nhất là Niết-bàn ngay trong kiếp sống hiện tại. Niết bàn không phải là cõi Phật. Niết bàn không phải là mặt trời, mặt trăng, cảnh giới, mà Niết Bàn là trạng thái tâm thanh tịnh, nơi mà toàn bộ nỗi khổ niềm đau kết thúc và các nguyên nhân tạo ra nỗi khổ niềm đau không còn.
Bước bốn, thực hiện con đường kết thúc khổ đau. Đó là con đường chân chính gồm 8 yếu tố, còn gọi là trung đạo, con đường duy nhất hướng đến thánh quả.
Yêu cầu khế lý quan trọng nhất là các Pháp sư phải dựa vào bốn chân lý thánh, cung ứng giải pháp hạnh phúc, giúp mọi người thực tập chân lý, đạt được giác ngộ và giải thoát.
Các vị Pháp sư và hoằng pháp viên nên tự xem mình là phát ngôn viên của đức Phật dưới nhiều hình thức. Công việc của giảng sư là làm hiển lộ, sáng tỏ, nổi bật các giá trị và tính năng trị liệu của chánh pháp Phật, lấy hoằng truyền chân lý của đức Phật là hệ quy chiếu. Không thể đánh giá vai trò phát ngôn viên ngang với vai trò người sáng lập ra chân lý được. Pháp sư và hoằng pháp viên nên được xem như cánh tay nối dài chánh pháp Phật đến với mỗi gia đình, xã hội và quốc gia, nghĩa là Pháp sư làm chức năng nối kết, mồi truyền, dẫn dắt còn chất liệu chân lý cao quý của đức Phật chính là trọng tâm quan trọng nhất. Nếu Pháp sư không làm tốt vai trò đó thì số lượng quần chúng đến với đức Phật và đạo Phật sẽ giảm.
Yêu cầu căn bản là các Pháp sư và hoằng pháp viên cần thể hiện sự trung thành tuyệt đối với tư tưởng của đức Phật, trong việc diễn giải, truyền bá, hướng dẫn và thực tập chân lý Phật. Phật giáo Nam truyền làm tốt vai trò quan trọng này. Phật giáo Bắc truyền mỗi nơi có khuynh hướng làm đạo dựa vào các vị Tổ sư khác nhau và đề cao các vị Tổ sư lập tông. Hậu quả của cách làm đạo này đã làm cho tông chỉ của đức Phật ít được biết đến.

5. HOẰNG PHÁP PHÙ HỢP VỚI CĂN TÍNH (KHẾ CƠ)
Kinh Viên Giác giới thiệu  5 loại căn tính của con người như sau:
5.1. Căn tính Đại thừa: Hiểu triết lý và lý tưởng Phật giáo Đại thừa, có lý tưởng lớn, tâm lượng lớn, từ bi lớn, trí tuệ lớn, vô ngã lớn, vị tha lớn. Pháp sư cần phải truyền trao cho những người căn tánh này những giá trị như vừa nêu để họ trở thành những con chim đại bàng, tạo ra các quyến thuộc bồ đề lớn.
5.2. Căn tánh Nhị thừa: Đó là căn tánh thánh nhân, gồm Thanh văn và Duyên giác. Các pháp sự cần truyền trao chân lý và sự thực tập hù hợp để những căn tánh đó trở thành trụ cột Phật pháp.
5.3. Căn tánh bất định: Dễ thay đổi, dễ bị tác động, trong môi trường tốt thì không trở thành xấu, trong môi trường xấu thì trở thành bùn đen. Các pháp sư phải giáo dục và hướng dẫn họ thường xuyên, theo dõi những thay đổi về cử chỉ, thái độ tâm lý mới có thể giúp họ trở thành những người tốt.
5.4. Căn tánh ngoại đạo: Những người có niềm tin vào thượng đế, thần linh, sự sáng thế, sự mầu nhiệm từ đức tin, thiên nặng tin mê tín dị đoan. Các pháp sư nên độ những thành phần này các chủ đề về Tịnh độ tông và Mật tông.
5.5. Căn tánh thế gian: Gồm những người thói đời nhiều, nghiệp phàm nhiều, dễ nhiễm đắm. Các Pháp sư cần giảng những đề tài ứng dụng Phật pháp, giúp họ lột được tâm phàm, hành động phàm, thói quen phàm và lối sống phàm.
Thanh tịnh đạo luận, phần 101, đề cập sáu loại căn tính khác nhau:
5.a. Căn tính ái dục: Người có khuynh hướng ái dục nặng, dễ si tình, thiên nặng tình yêu. Những người như thế dễ dàng bị lừa, bị khổ đau về tình và về cảm xúc.
5.b. Căn tính sân hận: Người có khuynh hướng nóng nảy, bực tức, cau có, khó chịu, xung đột, loại trừ, bạo lực, gây tạo bất hạnh.
5.c. Căn tính si mê: Người mê tín, dị đoan, si mê, cuồng tín, thiếu tri thức, thiếu trí tuệ, cang cường, nan hóa, bảo thủ, cố chấp.
5.d. Căn tính suy tầm: Người có khuynh hướng nghĩ ngợi và sử dụng trí não, bao gồm giới văn nghệ sĩ, giới tác gia, giới tư tưởng, thiên nặng tưởng và cảm xúc.
5.e. Căn tính trí tuệ: Người có kiến thức khoa học, kiến thức logic; tin Phật pháp, tin nhân quả, tin tái sinh, tin chuyển nghiệp; có lập trường, có bản lĩnh, bén nhạy, thấu hiểu.
Trong sáu loại căn tính, căn tính trí tuệ là quan trọng nhất, dễ tiếp nhận được đạo Phật nhất, sống trong an vui và hạnh phúc. Pháp sư giảng các chuyên đề phù hợp với các căn tính trên sẽ mang lại các giá trị trị liệu và chuyển hóa.

6. HOẰNG PHÁP PHÙ HỢP VỚI NHÓM TUỔI
Các nhóm lứa tuổi mà Tăng, Ni cần hướng đến bao gồm sau đây: 
- Lứa tuổi Ấu nhi (từ 1 đến 3 tuổi)
- Lứa tuổi Nhi đồng (từ 3 đến 7 tuổi)
- Lứa tuổi Thiếu nhi (từ 7 đến 11 tuổi)
- Lứa tuổi Thiếu niên (từ 11 đến 14 tuổi)
- Lứa tuổi Kha niên (từ 14 đến 18 tuổi)
- Lứa tuổi Thanh niên (từ 18 đến 35 tuổi)
- Lứa tuổi Tráng niên (từ 35 đến 50 tuổi)
- Lứa tuổi Trung niên (từ 50 đến đến 60)
- Lứa tuổi Lão niên (từ 60 tuổi trở lên)
Về tâm lý, các nhóm lứa tuổi này rất khác nhau. Lứa tuổi thiếu nhi, dạy cái gì tin cái đó, không cần đặt vấn đề. Các Pháp sư cần cung cấp cho các cháu kiến thức chuẩn. Đối với nhóm lứa tuổi thanh thiếu niên gồm học sinh và sinh viên, các Pháp sư phải dùng kiến thức Phật học và khoa học để thuyết phục các cháu. Giới lão niên thì sống với thói quen, khó tiếp thu cái mới.
Ba nhóm lứa tuổi này khác nhau về tâm lý, do đó cách làm đạo cũng phải thích hợp mới thành công được. Trên tinh thần đó, Chùa Giác Ngộ đã tổ chức 5 loại khóa tu khác nhau, nhằm phục vụ cho các nhóm lứa tuổi với mục đích khác nhau.
6.1. Nhóm tuổi mầm non và thiếu nhi (từ 3 đến 13 tuổi): Các Tăng, Ni nên tổ chức khóa tu “Búp sen từ bi”. Hiện nay, Chùa Giác Ngộ tổ chức vào lúc 14:30 thứ bảy mỗi tuần, trung bình 400 cháu tham dự. Chùa Hoằng Pháp và Tu viện Quan Âm tại TP.HCM tổ chức mỗi tháng một lần. Tất cả các chùa Việt Nam trong nước và nước ngoài nên quan tâm nhóm tuổi này.
6.2. Nhóm tuổi thanh thiếu niên và tráng niên (từ 14-35 tuổi và 36-49): Các Tăng, Ni nên tổ chức khóa tu “Tuổi trẻ hướng Phật”. Từ năm 2006, Chùa Hoằng Pháp với khóa tu mùa hè và Chùa Giác Ngộ với Câu lạc bộ hoằng pháp trẻ, tổ chức mỗi năm 1 tuần vào trước kỳ thi tốt nghiệp cấp 3 và kỳ thi đại học. Hiện tại, Chùa Hoằng Pháp tổ chức một năm 6 khóa tu, mỗi khóa 7 ngày, đang khi Chùa Giác Ngộ tổ chức mỗi tuần một lần vào ngày chủ nhật, lúc 13:30 đến 17:30, trung bình 650 học sinh và sinh viên tham dự.
6.3. Nhóm tuổi trung niên và lão niên (từ 50 trở lên): Các Tăng, Ni nên tổ chức khóa tu “Ngày An lạc”. Mấy năm qua, Chùa Giác Ngộ tổ chức mỗi tuần một lần vào sáng chủ nhật, từ 06:30 đến 11:30, trung bình 700 người tham dự.
6.4. Khóa tu thiền Vipassana: Dành cho mọi đối tượng, nên tổ chức mỗi tháng tối thiểu một lần, trọn ngày. Hiện tại, Chùa Giác Ngộ tổ chức mỗi tháng 3 lần. Hai ngày chủ nhật dành cho mọi đối tượng, đang khi ngày thứ bảy dành cho doanh nhân và những người bận rộn.
6.5. Khóa xuất gia gieo duyên: Dành cho thanh thiếu niên nhằm đánh giá hạt giống và lý tưởng xuất gia để trở thành Tăng sĩ về sau. Hiện tại, Chùa Giác Ngộ tổ chức 1 năm 2 lần, mỗi lần khoảng 170-190 người (do giới hạn chỗ ở). Trung bình có khoảng 5-7 người trở thành Tăng sĩ sau khóa xuất gia gieo duyên.

7. HOẰNG PHÁP ‘’PHÙ HỢP VỚI HOÀN CẢNH XÃ HỘI’’
Không nắm được hoàn cảnh xã hội này, dù có lý tưởng lớn, nhiệt huyết lớn, năng lực lớn, các Pháp sư sẽ gặp phải những khó khăn nhất định.
7.1. Hoằng pháp phù hợp với thể chế chính trị
Phù hợp và hài hòa với các bối cảnh chính trị không chỉ là vấn đề tồn tại mà còn là phát triển bền vững. Làm đạo đối lập với thể chế chính trị đương đại sẽ gặp những trở ngại lớn.
Việc tận dụng sự hỗ trợ của các nguyên thủ quốc gia là rất quan trọng cho việc phát triển Phật giáo một cách hiệu quả. Vấn đề là vận dụng phương tiện một cách tài tình để không bị chụp mũ là cánh tay nối dài của một chính thể.
7.2. Hoằng pháp phù hợp với bản sắc văn hóa quốc gia
Nguyên tắc đồng hành với văn hóa Việt Nam có nguồn gốc từ lời Phật dạy sau đây: “Có những nơi nào mà những quy định của ta không phù hợp thì thể bỏ bớt đi. Những vấn đề phát sinh trong quá trình làm đạo thì linh hoạt bổ sung để hoàn thiện.”
Nguyên tắc này cho phép gia giảm để phù hợp với bản sắc văn hóa ở các nước mà Phật giáo là truyền thống tâm linh mới. Khéo léo sử dụng bản sắc văn hóa Việt Nam để truyền bá đạo Phật thì người Việt Nam dễ dàng tiếp tu và thực tập có kết quả.
7.3. Hoằng pháp phù hợp với văn hóa Bắc, Trung, Nam
 Nước Việt Nam hình chữ S, dài hơn 2500km nên miền Bắc, Trung, Nam có bản sắc văn hóa riêng. Cách thờ phượng, tụng niệm, truyền đạo, giảng pháp… ở miền Bắc khác với miền Trung và miền Nam, và ngược lại. Các Pháp sư miền Nam làm đạo ở miền Bắc khó thành công nếu không hội nhập được văn hóa miền Bắc.
Làm đạo ở miền nào phải tôn trọng bản sắc văn hóa bản địa của vùng đó để không tạo ra các cú sốc văn hóa, nhờ đó, việc hành đạo trở nên hanh thông và thành công hơn.
7.4. Hoằng pháp và tinh thần đoàn kết tôn giáo
Đa tôn giáo và đa tín ngưỡng vừa là phong phú và phức tạp. Về bản chất, đạo Phật là đạo vô thần, vốn là đường minh triết và đạo đức. Các tôn giáo khác có thể chia làm ba nhóm: Nhóm tôn giáo nhất thần (cho rằng chúa là đấng sáng thế duy nhất), nhóm tôn giáo đa thần (ngoài chúa, còn tin vào các thần linh) và các phong trào tín ngưỡng dân gian.
Khi hoằng pháp, các Pháp sư không nên đi ngược lại chủ trương của Giáo hội Phật giáo Việt Nam và chính sách nhà nước về việc đoàn kết các tôn giáo.
Hài hòa với các tôn giáo khác là chủ trương thiệp thế của GHPGVN, giúp các Tăng, Ni tránh được các xung đột tôn giáo vốn có thể dẫn đến những hình thức bạo lực và thánh chiến tranh, tạo ra các bất ổn xã hội.
***
Tôi hy vọng các ý tưởng trong bài này gợi mở một vài nhận thức tham khảo, theo đó, các Tăng Ni Pháp sư có thể tiên phong trong phong trào hoằng pháp theo tinh thần nhập thế, chia sẻ chân lý Phật cho người Việt Nam một cách hiệu quả hơn, góp phần phát triển GHPGVN, đất nước và con người Việt Nam.
 
CHIA SẺ CHÂN LÝ THEO CÁCH CỦA ĐỨC PHẬT
TT. TS Thích Nhật Từ Ủy viên HĐTS, Phó ban Hoằng pháp Trung ương
 

[1] Ủy viên Hội đồng Trị sự GHPGVN, Phó Ban hoằng pháp trung ương, Phó Ban giáo dục Phật giáo trung ương, Phó Ban Phật giáo quốc tế trung ương, Phó Viện trưởng Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP.HCM
[2] Chú giải Trường bộ Kinh, DA.II.432.
[3] Kinh Trường Bộ, tập 3, trang 277; Tương Ưng, tập 5, trang 421; Luật tạng, tập 1, trang 9.

img 6157img 6163

img 1394

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây