82. SỰ GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN PHẬT GIÁO VIỆT NAM CỦA GIÁO HỘI TĂNG GIÀ KHẤT SĨ VIỆT NAM: QUÁ KHỨ VÀ HIỆN TẠI

Chủ nhật - 09/09/2018 19:22
SỰ GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN PHẬT GIÁO VIỆT NAM CỦA GIÁO HỘI TĂNG GIÀ KHẤT SĨ VIỆT NAM: QUÁ KHỨ VÀ HIỆN TẠI
HT.TS. Thích Thiện Nhơn
Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng Thư ký Hội đồng Trị sự GHPGVN
  1. Vài nét về lịch sử Phật giáo Việt Nam

Đạo Phật truyền vào Việt Nam từ cuối thế kỷ thứ II, đầu thế kỷ III, nhưng đến thế kỷ XVII mới truyền đến vùng đất Nam Bộ. Từ năm 1611, lưu dân từ Thuận Quảng đã vào Nam định cư sinh sống. Đến năm 1694, Tổ sư Nguyên Thiều từ Thuận Hóa vào phương Nam hoằng hóa, trú tại chùa Đại Giác – Đồng Nai. Năm 1744, Hòa thượng Linh Nhạc Phật Ý sáng lập chùa Từ Ân – Gia Định và Thiền sư Long Thiền người Quảng Ngãi đến xây dựng chùa Hội Tôn – Bến Tre. Năm 1725, Hòa thượng Hoàng Long người Bình Định đến hoằng đạo tại Hà Tiên, xây dựng chùa Bạch Tháp. Năm 1772, Hòa thượng Viên Quang về trụ trì hành đạo tại chùa Giác Lâm – Tân Bình (Gia Định). Năm 1900, Hòa thượng Bửu Quang, Hòa thượng Diệu Pháp từ Bình Định vào hành đạo tại chùa Phước Minh – Trà Vinh, v.v… Đạo Phật cứ như thế phát triển.

Đến m 1920, Hội Lục a Liên hiệp do TKhánh a khởi xướng, mđầu phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam. m 1931, chính quyền Pháp cho phép thành lập Hội Nam KNghiên cứu Phật học, trsđặt tại chùa Linh n – i Gòn, do TKhánh a m Hội
 


trưởng. m 1934, thành lập Hội ỡng Xuyên Phật học Trà Vinh do Hòa thượng An Lạc chùa Vĩnh Tràng (MTho) m Hội trưởng.

Trong bối cảnh y đã ra đời một tchức Phật giáo người Việt, gọi Phật giáo Nguyên thủy do người Việt xuất gia tu học tại Nam Vang, rồi vhoằng đạo tại miền Nam Việt Nam. Khoảng m 1930, cNguyễn Văn Hiểu - công chức Công chánh m việc ở SHỏa xa (Sài Gòn), nghiên cứu quyển Tugiác của Đức Phật” - c giGeorgos Grimm (người Đức). Một hôm, cLê n Giảng (bác sĩ thú y) ở Nam Vang về nghtại nhà cHiểu; hai người cng trao đổi c i liệu giáo lý Nam tông và quyết chí: Một người đi tu lo hoằng dương Phật pháp, một người làm cư sĩ hđạo. Sau đó, hai cđã phát m y dựng chùa Sng Phúc tại Nam Vang. Đây là Tđình đầu tiên của Phật giáo Nam tông người Việt trên x schùa Tháp, trước khi có Tđình Bửu Quang – Gò Dưa (Sài Gòn) y dựng m 1938 trên phần đất của ông Bùi Nguơn Hứa hiến cúng và chùa KViên (năm 1945). Khi nhân duyên hội đủ, vào m 1935, cLê n Giảng đã phát m xuất gia tại chùa Sng Phúc với ngài Phó Vua i (Hòa thượng Chua Nat) chùa Unalom (Phnom Penh - Nam Vang) và được a thượng Bổn sư tế đban pháp hiệu HTông. Năm 1950, Giáo hội y dựng chùa KViên (Bàn Cờ, Quận 3, TP. Hồ Chí Minh) m trscho Hội. m 1957, chính quyền i n chính thức cho phép thành lập Giáo hội Phật giáo Tăng-già Nguyên thủy Việt Nam, với một Ban Chưởng quản, doa thượng Bửu Chơnm Tăng thống, a thượng HTông m Phó Tăng thống v.vcthế phát triển đến c tỉnh miền Trung, miền Đông và y Nam Bộ.
  1. Vài nét về lịch sử hình thành Hệ phái Khất sĩ Việt Nam

Tsư Minh Đăng Quang thế danh Nguyễn Thành Đạt, tLý Huờn, sinh ngày 26 tháng 9 m Quý Hợi (1923) tại làng Phú Hậu, tổng Bình Phú, quận Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Thân phlà công Nguyễn Tồn Hiếu, thân mẫu là cbà Phạm ThTỵ, kế mẫu là bà Hà ThSong. Năm 1929, gia đình di cư n thxã Vĩnh Long sinh sống tại cầu Kinh Cụt, phường 1. Ngài theo học trường Tống Phước Hiệp (nay là trường Lưu n Liệt). m 1938, Ngài thôi học, quyết chí xuất gia tầm đạo, sang Nam Vang sinh sống, nghiên cứu giáo lý Nam tông suốt 3 năm.
 


Như trên đã đcập, chắc chắn trong thời gian Tsư u lại Nam Vang nghiên cứu giáo lý Nam tông, rất có thlà ở tại chùa Sng Phúc, do a thượng HTông cng cNguyễn n Hiểu sáng lập, không thể nghiên cứu tại chùa Unalom của Phó Vua i Chua Nat, vì i đây không có kinh điển chữ Việt, chữ Pháp mà chlà chữ Khmer, Pali và Sanskrit.

Khi trvViệt Nam, nếu Tsư tiếp tục nghiên cứu giáo lý Nam tông thì phải tại chùa Bửu Quang, Gò Dưa, ThĐức. Chùa được sáng lập m 1938 cũng do a thượng HTông, a thượng Thiện Luật, cNguyễn n Hiểu, ông Bùi Nguơn Hứa sáng lập và tại chùa KViên (Quận 3, i Gòn) m 1945.

m 1946, Ngài xuất gia tu học tại chùa Linh Bửu, MTho do Hòa thượng Thtọa Đoàn Ngọc Đê trtrì. Tại đây, Ngài đã thgiới Sa-di, ctúc. Theo phương thức thgiới của Phật giáo Bắc truyền thì giới Bồ- t là có thtphát nguyện lãnh th(kinh Anh Lạc), nhưng giới bản Tỳ-kheo là phải có Thầy Tế đtruyền thọ, không có quy định tthọ giới. Theo luật Bắc truyền, có hai trường hợp: Thnhất là truyền giới Phương trượng, Thầy trò truyền cho nhau (2 người) vẫn đắc giới; thứ hai là những vng ít Tăng thì chcần tam sư (3 Thầy) là a thượng Yết-ma, Giáo thọ, và 1 vn chứng, và phần lớn chtruyền 4 giới trọng, n lại 13 pháp hữu , 2 pháp bất định, 30 pháp x đọa, 90 tội đọa, 4 pháp hướng bhối, 100 pháp chúng học, 7 pháp dứt stranh cãi thì Thầy Tế đi c vphải tm Thầy hướng dẫn, dạy dỗ, hoặc tự nghiên cứu tiếp, vì không có thời gian truyền hết 250 giới như giới bản đã đcập. Do đó, có thhiểu tphát nguyện thgiới là Thầy Tế đchỉ truyền 4 giới đầu mà thôi, n lại tnghiên cứu m hiểu đtu học hành trì theo giới pháp Tỳ-kheo. n trường hợp ngđạo, n cgiáo lý Bắc truyền, nhất là Luận Du Già Sư Địa quyển 34 do Bồ-tát Di-lặc thuyết giảng, Bồ-tát Vô Trước tập hợp thành Luận o thế kthV, Tam tạng Pháp sư Huyền Trang dịch sang n n o thế kthVII, thì hàng Bích-chi Phật (Độc Giác) có ba hạng là Đại Bích-chi Phật, Duyên Giác Bích-chi Phật, Tiểu Bích-chi Phật. Trong đó, vthhai ghi: Nhân Duyên Giác (Bích-chi Phật) do qubáo, phúc đức hạnh nguyện đời trước n đời nay không cần phải nghe theo người khác i pháp,
 


mà tmình có khnăng phát sinh trí tunhư thấy hoa rơi, lá rụng, hiện tượng vô thườngmà ngđạo. Nếu i theo TquThinh n là Bất Hoàn (A-na-hàm), muốn đi đến chứng quA-la-hán thì không nương tựa o Phật, mà ttu, tngvà chứng quA-la-hán.

Sau khi chứng ngộ, Ngài bắt đầu truyền đạo với danh xưng Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam, Nối truyền Thích-ca Chánh pháp” khắp các vùng Đông, Tây Nam Bộ. Từ đó, Phật giáo Nam Bộ tiếp nhận thêm một tổ chức Phật giáo mới, đó là Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam do Tổ sư Minh Đăng Quang sáng lập.

Năm 1954, sau khi Tổ Minh Đăng Quang ngộ nạn, Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam được tiếp tục duy trì, phát triển do chư đệ tử của Tổ sư kế nghiệp, hình thành các Giáo đoàn: Giáo đoàn I do Nhị Tổ Giác Chánh và Trưởng lão Giác Như lãnh đạo; Giáo đoàn II do Trưởng lão Giác Tánh và Đức Thầy Giác Tịnh lãnh đạo; Giáo đoàn III do Đức Thầy Giác An lãnh đạo; Giáo đoàn IV do Pháp sư Giác Nhiên lãnh đạo; Giáo đoàn V do Đức Thầy Giác Lý lãnh đạo; Giáo đoàn VI do Thượng tọa (TT.) Giác Huệ và TT. Giác Đức lãnh đạo. Về Ni giới, Tổ hóa độ Ni trưởng Huỳnh Liên, Bạch Liên, Thanh Liên v.v… hình thành Giáo đoàn Ni và cùng các Giáo đoàn Tăng hành đạo khắp miền Trung và miền Nam.
  1. Sa hợp và đóng p cho sphát triển của Phật giáo Việt Nam

Khi cuộc cách mạng ngày 01/11/1963 thành công, Phật giáo thoát cơn pháp nạn. Ngày 04/01/1964, Đại hội thống nhất Phật giáo Việt Nam được tchức tại chùa Xá Lợi – i Gòn. Nhận lời mời của Hòa thượng Thích m Châu, Chtịch y ban Liên phái Bảo vPhật giáo, Trưởng ban Tchức Đại hội, phái đoàn Phật giáo Khất sĩ Việt Nam tham dĐại hội với tư cách quan t viên. Tăng đoàn : TT. Giác Nhiên, TT. Giác Luận, TT. Giác Đạo, TT. Giác Đăng, TT. Giác Tâm. TT. Giác , TT. Giác Nguyên, TT. Giác Hậu, TT. Giác Định, TT. Giác Thọ, TT. Giác Đức; Ni đoàn : NS. Huỳnh Liên, NS. Bạch Liên, NS. Thanh Liên, NS. Diệu Liên, NS. Minh Liên. Shiện diện của phái đoàn Phật giáo Khất sĩ Việt Nam đã chia sđồng tình với sthống nhất Phật giáo Việt Nam, tuy nhiên vẫn giữ vtrí là một tchức Giáo phái độc
 


lập. m 1966, nhchất c c của phong trào thống nhất Phật giáo, hình thành c tchức Phật giáo có quy củ, n c ngài Giác Tường, Giác Nhu, Giác Nhiên đứng đơn xin thành lập Giáo hội Tăng-già Khất sĩ Việt Nam và được BNội vChính phViệt Nam Cộng a cho phép tại Nghđịnh 405/BNV/KS, i n ngày 20/4/1966, do Thẩm phán Trần Minh Triết (GS. Nguyễn n Tương) . Trong Nghđịnh có đoạn: “Giáo hội Tăng-già Khất sĩ Việt Nam, trsđặt tại Tịnh Trung Tâm, s98 đường Nguyễn Trung Trực (Gia Định) được phép thành lập và hoạt động đúng theo bản điều lHội được duyệt y đính m theo Nghđịnh nầy và trong quy chế Hiệp hội”.

m 1972, khi chiến tranh leo thang, ước vọng a bình của nhân dân miền Nam, trong đó có Phật giáo Việt Nam càng cao độ. Thực hiện thông điệp của Đức Tăng thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN) - a thượng Thích Tịnh Khiết, nhân mùa Phật đản, Liên n giáo phái tchức Đại lPhật đản qui mô lần thhai sau m 1964 tại Công trường Ngã Bảy (Vườn Lài), với sự tham gia của c Giáo phái Phật giáo như Nam tông, Bắc tông và Khất , p phần cầu nguyện cho đất nước a bình độc lập, n chủ, tdo.

Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất Tquốc, năm 1976, Ban Liên lạc Phật giáo u nước TP. HChí Minh ra đời do a thượng Thích Minh Nguyệt m Chtịch, Hphái Khất sĩ (do TT. Giác Toàn, NS. Huỳnh Liên m y viên Ban Liên lạc Phật giáo u nước TP. HChí Minh) đã sớm a mình cng tchức Phật giáo trong giai đoạn mới cho đến khi thống nhất Phật giáo cnước.

Năm 1980, trước tình hình chính trị xã hội đã quy về một mối, các tổ chức Giáo hội, Hệ phái Phật giáo cũng phải thống nhất, nên Ban Vận động Thống nhất Phật giáo Việt Nam được thành lập do Hòa thượng Thích Trí Thủ - Viện trưởng Viện Hóa đạo GHPGVNTN làm Trưởng Ban vận động; TT. Giác Toàn, NS. Huỳnh Liên làm Ủy viên Thường trực Ban Vận động.

Tại Đại hội thống nhất Phật giáo Việt Nam ngày 07/11/1981, TT. Giác Toàn thay mặt đoàn Phật giáo Khất sĩ trình bày tham luận tại Đại hội: “… Hôm nay, Phật giáo cả nước hòa mình theo hướng đi
 


lên của dân tộc, thực hiện thống nhất để tạo nên một ý chí, một sức mạnh, một tinh thần tiếp nối tiền nhân, đóng góp phần mình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày càng thực sự được no cơm ấm áo, hạnh phúc tự do, vinh quang và giàu mạnh. Sự hội nhập nầy, sự đoàn kết nầy là niềm vui chung của Phật giáo Việt Nam, trong đó có Giáo phái Khất sĩ chúng tôi. Vì đây là lần đầu tiên Giáo phái chúng tôi được chính thức có mặt tham dự Hội nghị thống nhất Phật giáo cả nước v.v…”

Trải qua gần 7 nhiệm kỳ, đại diện cho thành viên sáng lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN), chư va thượng (HT), Thượng tọa (TT), Đại đức (ĐĐ) Tăng Ni Hphái Khất sĩ đã tham gia c cấp Giáo hội:

+ Hội đồng Chứng minh (HĐCM): HT. Giác Nhu, HT. Giác Nhường – Phó Pháp chủ; HT. Giác Trang, HT. Giác Tường, HT. Giác Phúc, HT. Giác Dũng (GĐ III), HT. Giác Ngộ, HT. Giác Lai, HT. Giác Cầu, HT. Giác Tràng – Thành viên HĐCM.

+ Hội đồng Trs(HĐTS): HT. Giác Nhu, HT. Giác Toàn – Phó Chtịch; HT. Giác Dũng (GĐ III), HT. Giác Phúc, HT. Giác Giới – Ủy viên Thường trực, Phó ban Tăng sTrung ương; HT. Giác Chí, TT. Giác Nhân, TT. Minh Thành, TT. Giác Pháp, TT. Minh Bửu, TT. Giác Sơn, ĐĐ. Giác Hoàng; Ni giới: Ni trưởng (NT) Huỳnh Liên, NT. Ngoạt Liên – y viên Thường trực; NT. Tạng Liên, NT. Tràng Liên, NS. Tín Liên, NS. a Liên, NS. Phụng Liên, NS. TuLiên – y viên HĐTS.

Đồng thời, chư n đức Tăng Ni Hphái Khất sĩ n tham gia các ban ngành viện Trung ương Giáo hội, Học viện Phật giáo Việt Nam… và tham gia Ban TrsPhật giáo cấp tỉnh, thành phtrực thuộc Trung ương, Ban TrsPhật giáo cấp quận, huyện, th, thành phthuộc tỉnh và c cơ skhác của Giáo hội (34 tỉnh thành phía Nam).

Trong hệ thống tổ chức cơ sở Giáo hội, cả nước có 1.395 vị Tăng, 1.863 vị Ni; tịnh xá Tăng có 264 cơ sở; tịnh xá Ni có 286 cơ sở. Tín đồ Khất sĩ có khoảng 500.000 người.

+ Trụ sở (Tổ đình) của 6 Giáo đoàn Tăng:
 
 
    • Giáo đoàn I: Tổ đình Tịnh xá Ngọc Viên, TP. Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.
 
    • Giáo đoàn II: Tịnh xá Ngọc Nhơn, TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

- Giáo đoàn III: Tịnh xá Ngọc Tòng, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
    • Giáo đoàn IV: Tịnh xá Trung Tâm, quận Bình Thạnh, TP. HCM.
 
    • Giáo đoàn V: Tịnh xá Trung Tâm, Quận 6, TP. HCM.
 
    • Giáo đoàn VI: Tịnh xá Lộc Uyển, Quận 6, TP. HCM.
 
    • Trụ sở của Ni giới Hệ phái Khất sĩ: Tổ đình Tịnh xá Ngọc Phương, quận Gò Vấp, TP. HCM.

+ Công tác Đào tạo:

Hphái Khất sĩ Việt Nam đã đóng p phần lớn cho công c đào tạo nhân i cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam như đã hoàn tất học vị Tiến sĩ có khoảng 30 vị; 30 vcó học vThạc , trên 100 Tăng Ni trình đcnhân Phật học và hàng trăm Tăng Ni tốt nghiệp Trung cấp, Cao đẳng Phật học, hiện đang phục vtrong c hoạt động GHPGVN c cấp.

+ Công tác Từ thiện xã hội: Thực hiện nhiều chương trình từ thiện trong thời gian qua ước tính hàng trăm tỷ đồng.
  1. Khẳng định vị thế trong lòng GHPGVN

Theo Hiến chương GHPGVN quy định: “Các truyền thống Hệ phái Phật giáo, pháp n tu học biệt truyền đúng Chính pháp thì được n trọng, duy trì”. Do đó, với tư cách là một thành viên sáng lập, ngoài trách nhiệm thực hiện và phát triển ngôi nhà chung GHPGVN theo như Hiến chương và chương trình hoạt động của Giáo hội, Hệ phái Khất sĩ đã thực hiện hữu hiệu phương châm hoạt động: “Đạo pháp – n tộc – Chnghĩa xã hộitrong thời khội nhập và phát triển toàn cầu.

Hệ phái Khất sĩ còn nỗ lực duy trì truyền thống sinh hoạt Hệ phái theo giáo lý biệt truyền do Tổ sư Minh Đăng Quang khai sáng,



thuyết minh và truyền thụ, làm cho Tông phong pháp phái, Tổ ấn vàng son, mãi mãi quang vinh và góp phần phát triển nền đạo giáo Việt Nam vốn đã phong phú càng thêm phong phú và khởi sắc, để từ đó vườn hoa đạo pháp mãi mãi xinh tươi đẹp đẽ cùng non sông gấm vóc, xã hội phồn vinh, văn minh tiến bộ, như cổ đức nói:
    • Hoa đời, hoa đạo đua nhau nở, Mãi mãi ngàn sau vẫn ngát hương.
    • Gương xưa biết mấy nhiêu đàng, Bây giờ xem lại rõ ràng là đây.
Bằng tinh thần đoàn kết hòa hợp, Hệ phái Khất sĩ Việt Nam, thành viên GHPGVN sẽ tăng cường đạo lực, trưởng dưỡng đạo tâm, trang nghiêm Giáo hội, phát triển vững mạnh, đồng hành cùng dân tộc trong hiện tại và tương lai.

 

***


TÀI LIỆU THAM KHẢO
 
  1. Kỷ yếu Đại hội GHPGVNTN (1964).
 
  1. Kỷ yếu Đại hội GHPGVN (1981).
 
  1. Kỷ yếu Hội thảo 30 năm thành lập GHPGVN (1981 - 2011).
 
  1. Ánh Minh Quang (2007).
 
  1. Minh Đăng Quang pháp giáo – Hàn Ôn (1956).
 
  1. Tìm hiểu Phật giáo Khất sĩ ở Nam Bộ Việt Nam (Thích Hạnh Thành, 2006).
 
  1. Sự hình thành và phát triển của Hệ phái Khất sĩ (Thích Giác Trí, 2001).
 
  1. Địa chí Văn hóa Tín ngưỡng TP. Hồ Chí Minh, tập 3 (TS. Trần Hồng Liên).

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây