80. HỆ PHÁI KHẤT SĨ VỚI TÍN ĐỒ DÂN TỘC THIỂU SỐ TÂY NGUYÊN

Chủ nhật - 09/09/2018 18:59
HỆ PHÁI KHẤT SĨ VỚI TÍN ĐỒ DÂN TỘC THIỂU SỐ TÂY NGUYÊN
TT.TS. Giác Duyên
Giảng viên Học viện PGVN tại TP. HCM Phó ban Trị sự kiêm Trưởng ban Giáo dục Tăng Ni tỉnh Gia Lai Chánh Thư ký Giáo đoàn III Hệ phái Khất sĩ
n giáo i chung và Phật giáo i riêng đều có mục đích đem lại san vui cho mọi người. Phật giáo truyền o Việt Nam từ n 2.000 năm, và tại mảnh đất Việt Nam thân u này, tnhững m 40 của thế kXX, xuất hiện Hphái Khất . Đối với vùng Tây Nguyên, slượng n đtheo Phật giáo đại đa slà người Kinh, còn c n tộc thiểu srất ít người theo đạo Phật. Cho nên, Hphái Khất sĩ với n đn tộc thiểu sy Nguyên là vấn đmới và cần m hiểu.
  1. i t vshình thành Hphái Khất

Đạo Phật là n giáo có ảnh hưởng u rộng nhất ở nước ta, Phật giáo Việt Nam được du nhập tn Đvà Trung Quốc. Ngay tđầu y lịch với truyện ctích ChĐồng Thọc đạo với một nhà sư n Độ ở Hưng n ngày nay, c truyền thuyết vThạch Quang Phật và Man Nương Phật Mẫu xuất hiện cùng với sgiảng đạo của Khâu Đà La trong khoảng thời gian t168 – 189, hay Luy Lâu (nay thuộc tỉnh Bắc Ninh) là trung m Phật giáo quan trọngnước ta c bấy giờ, điều đó chứng minh rằng Phật giáo du nhập o Việt Nam rất sớm. Đến đời nhà Lý (1010 - 1225), đạo Phật tại Việt Nam phát triển cực thịnh, ảnh hưởng đến tất cc mặt trong
 


cuộc sống, bấy giPhật giáo được xem là quốc giáo. Sang nhà Hậu , đạo Phật đi o giai đoạn suy yếu. Đến đầu thế kXX, do ảnh hưởng mạnh mcủa phong trào “Chấn hưng Phật giáotại Trung Hoa, c nhà sư Khánha và Thiện Chiếu đã có những đóng góp quan trọng trong skhởi đầu chấn hưng Phật giáo Việt Nam, bắt đầu tc đô thmiền Nam.

Trên đường truyền bá và hội nhập, Phật giáo luôn luôn thực hiện tính khế , khế . Khế lý là i vmặt tư tưởng, nhkhế n dù ở đâu và c o Phật giáo vẫn hợp với chân , vẫn luôn luôn phong phú, u sắc mà vẫn giữ được bản chất của mình, đó là “vgiải thoát”. Khế cơ thì thiên trọng vmặt lịch sử, nhkhế cơ mà tuy phong tục tập quán mỗi quốc gia có khác, đạo Phật tuy uyển chuyển nhưng vẫn không mất gốc. Phật giáo Việt Nam mang những đặc điểm khác biệt so với Phật giáo của c i khác trên thế giới, bởi Phật giáo Việt Nam tiếp nhận chai dòng truyền lớn nhất là Bắc tông và Nam tông. Bằng sdung hợp thai tông phái ấy, ở giai đoạn Chấn hưng Phật giáo Việt Nam o thế kXX đã xuất hiện Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam (nay gọi là Hphái Khất sĩ).

Người khai sáng Đạo Phật Khất Sĩ là Đức Tổ sư Minh Đăng Quang, Ngài đã vận dụng kết hợp hài hòa được hai truyền thống lâu đời của Phật giáo thế giới, khẳng định con đường tu tập theo Phật giáo đều ngang qua Giới Định Tuệ. Với lòng từ bi, vị tha; với bổn nguyện độ sanh thúc giục, Ngài phát tâm Bồ-đề mở mang mối đạo khắp miền Nam lúc bấy giờ, độ được nhiều đệ tử xuất gia và tại gia. Phật giáo Khất sĩ đã dung hợp tinh hoa từ hai hệ phái Bắc tông và Nam tông, đề cao đường lối không phân Đại thừa và Tiểu thừa, hình thành nên một hệ tư tưởng mang đậm tính dân tộc, thể hiện được tính phổ biến, gần gũi và dễ hiểu, dễ học, dễ hành trì. Vì thế, mặc dù ra đời sau hai hệ phái lớn nhưng Hệ phái Khất sĩ đã có sức lan tỏa rộng và tầm hoạt động lợi đạo ích đời mỗi ngày một thêm lớn mạnh.

Sau ngày mùng 1 tháng 2 m Giáp Ngọ - 1954, Đức Tsư vắng bóng, Đức NhtGiác Chánh bốn lần dẫn đoàn Du Tăng hành đạo miền Trung rồi tro miền Nam, riêng Đức Thầy Giác
 


Tánh, Giác Tịnh, Giác An ở lại lập c đoàn Du Tăng đhoằng dương giáo pháp Khất sĩ tại những i mà dấu chân Khất sĩ mới đến. Khoảng cuối thập niên 60, do nhu cầu thực tế, Hphái Khất đã thành lập 5 Giáo đoàn Tăng, 1 Giáo đoàn Ni và 3 Phân đoàn Ni trực thuộc Tăng quản lý.

Trước m 1975, Trung ương của Hphái Khất sĩ có 3 tchức là Giáo hội Tăng-già Khất sĩ Việt Nam (bao gồm Giáo đoàn I đến Giáo đoàn V), Giáo hội Khất sĩ Việt Nam (tức giáo đoàn VI) và Giáo hội Ni giới Khất sĩ Việt Nam. Ba tchức y sinh hoạt đến sau m 1981 cùng 8 tchức Phật giáo khác trong nước kết hợp thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam, và 9 tchức trên trthành 3 hệ phái lớn là Bắc tông, Nam tông và Khất sĩ trong “ngôi nhàPhật giáo Việt Nam. Tđó đến nay, Hphái Khất sĩ không ngừng lớn mạnh và phát triển, tịnh xá ngày càng nhiều, slượng Tăng Ni tu học, trình đPhật học và thế học mỗi ngày một cao dần, giáo pháp Khất sĩ được truyền đến đồng o n tộc thiểu sy Nguyên.
  1. Tình hình n đPhật tn tộc thiểu sy Nguyên sinh hoạt theo Phật giáo Khất

y Nguyên là vùng đất rộng lớn ở phía y Nam Trung Bộ. Tây Nguyên hiện nay có m tỉnh tính tBắc o Nam là Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông và m Đồng. y Nguyên vốn là vùng cư trú của nhiều n tộc ít người như Gia Rai, Ba Na, Xơ Đăng, M’Nông, Ê Đê... n 100 m trlại đây, sau khi người Pháp đã tiên phong trong việc khai phá vùng đất này, phong trào di n của  người Kinh đã tạo cho y Nguyên một bmặt mới.

Theo Ban n giáo Chính phủ, “Năm 2005, ở khu vực Tây Nguyên cgần 300 ngàn người n tộc thiểu stheo đạo Công Giáo và trên dưới 400 ngàn người theo đạo Tin Lành (Gia Lai: 70.946 người. Kon Tum 8.950 người. Đăk k và Đăk Nông: 130.515 người. m Đồng: 68.500 người...)1.

 
    1.  
    1. Ban Tôn giáo Chính ph, Tôn giáo và công tác qun lnhà nước đi với các hot động n giáo, Nxb. Tôn go, 2008, tr. 35.
 


m m sau, theo Thượng tọa Thích Viên Thanh2 thì Tây Nguyên là vùng đất có tu đời với c n tộc bản địa, n giáo gốc của c đồng o ở đây là n ngưỡng i vật giáo, Đa thần giáo với c tập tục bản địa tạo n một sắc thái đặc sắc của vùng này. Tchính sách thực n kết hợp với truyền giáo của người Pháp cách đây gần một thế kỷ, đạo Thiên Chúa đã có ảnh hưởng sâu rộng trong c buôn người n tộc. Sau đó, sdi n ồ t trong những m 1954, đạo Thiên Chúa đã có tầm ảnh hưởng u rộng thêm. Người Mcũng đưa đạo Tin Lành o c vùng n tộc khá mạnh. Thế nhưng sau những m 1975, sphân blại i cư trú với phong trào đi kinh tế mới, m cho tlphân bgiữa c dân tộc, n giáo cũng thay đổi nhiều. TlPhật giáo tăng theo slượng người Kinh đi kinh tế mới. Một svùng đồng o n tộc và các vùng u vùng xa vẫn chưa có n giáo. Gần đây, o thời điểm mới mcửa, một stu sĩ Phật giáo đi o vùng u sinh hoạt, chia sẻ những khó khăn với người dân, n một sbuôn đã đi theo Phật giáo, nhưng vẫn n rất ít so với đà tăng trưởng của c n giáo như Tin Lành, Thiên Chúa. Đến nay, có thnhận định vtình hình n giáo ở y Nguyên như sau:
  • Đại đa sngười Kinh ở vùng u theo Phật giáo hoặc nghiêng vPhật giáo.
 
  • Đồng o n tộc thiểu sphần lớn theo Tin Lành hoặc Thiên Chúa và tăng nhanh trong thời điểm hiện nay.
 
  • Có một svùng sâu, vùng xa không có n giáo nào3.

Thai thông tin trên cho thấy, đến khoảngm 2010 slượng đồng o n tộc thiểu sy Nguyên theo Phật giáo vẫn n khá khiêm tốn.

Đối với Hphái Khất , trong c tịnh xá của 6 Giáo đoàn và của Ni giới Hphái Khất , hiện nay chcó 3 tịnh xá là Tịnh
    1.  
    1. Phó trưởng Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Lâm Đng.
3.ThíchVnThanh,KếthphoằngphápvicPhttkhácticvùngsâu”. Ngun dn http://www.phatgiao.vn/PrintView.aspx?Language=vi&ID=574452
 


Ngọc Quang và Tịnh xá Ngọc Khánh (thành phBuôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk), Tịnh xá Phú Cường (thôn 1, xã Ia Pal, huyện Chư , tỉnh Gia Lai) là có Phật tn tộc thiểu ssinh hoạt tu học.
      1. Tịnh xá Ngọc Quang, Tịnh xá Ngọc Khánh với Phật tử n tộc thiểu số Ê Đê.

o những m 1978 – 1980, Phật tThiện Ý (nay là ĐĐ. Giác Sỹ, trtrì Tịnh xá Ngọc Khánh, thôn 4, xã a Khánh, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk) lần đầu tiếp c với đồng o dân tộc thiểu số Ê Đê liền chọn một người Kinh lấy chồng n tộc Ê Đê tại buôn (làng) Suk Mrang, huyện Cư Mgar m chdựa cho việc hoằng pháp, rồi nhiều lần o thăm viếng, tặng quà y tình cảm thân thiện với họ, đồng thời học tiếng Ê Đê đgiao tiếp. Vốn trước những m 1975, Sư từng học trong trường đại học Y khoa n biết vbệnh tật và trliệu. Những m 1981 - 1990, Sư o buôn chữa bệnh thông thường, tặng quần áo, gạo tiềncho n làng, khuyên hsống hợp vsinh, dời chuồng nuôi gia c t dưới nhà n ra bờ rào, tối lại mời hăn bánh kẹo, luôn tiện i chuyện đạo . Lúc đầu i gia đình tập trung nghe Sư giảng, sau đến 20 gia đình. Khi hiểu được đạo, 70 người trong buôn xin quy y Tam Bảo và cúng dường nhà đất đlập Niệm Phật đường. Hiện nay, hằng đêm nơi đây đều có Phật ttụng kinh.

Cũng giai đoạn này, Sư m quen với n tộc ở làng n cách khoảng 3km. Cũng với phương thức hành đạo kết hợp như trên, được hhết lòng mến mPhật pháp rồi xin quy y Tam Bảo, cúng dường đất và nhà đm tịnh thất, tạo điều kiện thuận tiện cho việc hướng dẫn htu học theo đạo Phật.

Sau đó, o những m 1990 - 2000, một sPhật tđã quy y trên hiểu được Phật pháp, hthường vTịnh xá Ngọc Quang (22 Đoàn ThĐiểm, tn ph4, phường Thắng Lợi, thành phBuôn Ma Thuột) và Tịnh xá Ngọc Khánh ở thành phBuôn Ma Thuột tham dc ngày đại lnhư Phật đản, Vu LanNhững m gần đây, Đại đức đã dịch một skinh sách sang tiếng n tộc Ê Đê để giúp hhiểu u n vgiáo , vnghi lễ, như m 2004 dịch
 


quyển Lịch sĐức Phật Thích-ca và giáo pháp của Ngài, m 2009 dịch quyển Nghi thức Tụng niệm của Hphái Khất sĩ.

Trong snhững đồng o n tộc thiểu squy y tu học theo Phật giáo, có em Y Phép Prong (pháp danh HuBảo) xuất gia tu học tại Tịnh xá Ngọc Khánh được 6 năm.
      1. Tịnh xá Phú Cường với Phật tn tộc Gia Rai

Cuối m 2009, thời tiết bất thường đến với đồng o Tây Nguyên, điển hình làn o số 9 đã y ra lụt lội m thiệt hại rất lớn cho nhân n vùng này, i bnặng nhất là xã Ia Broái, huyện Ia Pal, tỉnh Gia Lai. Đồng o xã y hầu hết là n tộc thiểu số Gia Rai. Nhân chuyến đi cứu trđến xã này, chúng i có duyên quen biết với gia đình n RCom Nah. Qua trao đổi và giảng giải vPhật pháp, gia đình anh vốn có c duyên với Phật giáo n cho một người con n Kpă o (pháp danh m Pháp) và một người cháu n K’Sor Khư (pháp danh HuHiền) theo chúng i xuất gia tu học được hai năm.

m 2010, Tịnh xá Phú Cường tại thôn 1, xã Ia Pal, huyện Chư , tỉnh Gia Lai thành lập. Hai m sau, một sngười đồng o ở 2 làng Kueng Thoa và Tà n trong xã xin quy y theo Phật. Sau đó, 10 người ở làng Ia Sor, xã H Bông tiếp tục xin quy y. Đầu m 2013, có khoảng 30 người đồng o ở làng Blo (xã Blang, huyện Chư Sê) xin quy y; đến tháng 10 m 2013, có thêm 350 người ở 2 làng Hlu và Mung (thuộc xã Ia Blang) xin quy y theo Phật giáo. Đến nay khoảng 450 Phật tngười n tộc thiểu sGia Rai thuộc 3 xã Ia Pal, H Bông và Ia Blang của huyện Chư Sê đã quy y và sinh hoạt tu học o mỗi sáng ChNhật hằng tuần tại Tịnh xá Phú Cường.
  1. Những thuận lợi và khó khăn của n đPhật tvà phương cách truyền bá chánh pháp hiệu quhơn

Trải qua thời gian giao tiếp, hướng dẫn, chúng i nhận thấy:

Đa snhững n đPhật thiện nay đều biết tiếng Việt nên những vtu hành chưa biết tiếng n tộc vẫn có thtiếp xúc, trao
 


đổi, hướng dẫn đồng o n tộc thiểu stu học bằng tiếng Việt.

Nghi thức tụng niệm Khất sĩ dịch nghĩa n dđọc tụng, dễ hiểu nghĩa. Điều đó giúp hdtiếp thu Phật pháp.

n cạnh những thuận lợi, việc truyền pháp Phật đến với những người Phật tn tộc thiểu sy Nguyên hiện nay vẫn n những khó khăn, bởi vì:
    1. Trình đhọc vấn của hthấp, chưa thgiảng giải u xa ý nghĩa Phật pháp.
 
    1. c n đquá nghèo, vật chất quá thiếu thốn n ảnh hưởng nhiều đến việc tu học.
 
    1. n đồ ở quá xa tịnh , như Tịnh xá Phú Cường (Gia Lai), làng Blo cách 5km, đa sphải đi bvì không có phương tiện đi lại; làng Ia Sor cách 10km, 2 làng Mung và Hlú cách khoảng 12 km, thế chmột sngười có xe y hoặc cùng đi bằng xe công nông (phương tiện di chuyển thô ) mới đi vtịnh xá được. n n đồ Phật tngười Ê Đê vTịnh xá Ngọc Quang, Ngọc Khánh (Đăk Lăk) xa 10km trlên.

Thông qua kinh nghiệm hoằng pháp, ngoài những thuận lợi vẫn n gặp phải một skhó khăn. Do vậy chúng i nghĩ rằng:
      1. Hphái Khất sĩ với việc truyền bá Phật giáo đến với người đồng o n tộc thiểu sy Nguyên n quá ít, ngay cPhật giáo Bắc tông cũng thế. Tuy vậy, cũng có người hướng đến sxuất gia tu học như c em Y Phép Prong (HuBảo), Kpă o (HuPháp) và K’Sor Khư (HuHiền).
 
      1. c n giáo bạn như Tin Lành, Thiên Chúa có điểm sinh hoạt n giáo ngay tại buôn làng. Phật giáo i chung, Hphái Khất sĩ i riêng, nếu thuận duyên và được c cấp chính quyền đồng ý thì cần phải thành lập điểm sinh hoạt Phật giáo, tịnh , tịnh thất, niệm Phật đường ngay i buôn làng scó rất nhiều thuận lợi cho việc hoằng dương Phật pháp. Được thế, chcần mộti vxuất gia làm đúng quy định của Phật giáo và c cấp chính quyền đến buôn
 


làng có n đtheo Phật giáo đgiảng nói, hướng dẫn h tu học thì stiết kiệm được nhiều thời gian của ctập thđi đến tịnh xá và cả thời gian vlại buôn làng. Lại nữa, n một sđông người trong buôn làng muốn theo Phật giáo nhưng hkhông có phương tiện đđến chùa, tịnh xá như những người khác. Do vậy, đơn vsinh hoạt nhnhất của Phật giáo không chgiới hạn chùa, tịnh , tịnh thất, niệm Phật đường mà slà điểm sinh hoạt mới đáp ứng cho việc hoằng dương Phật pháp đến vùng n tộc thiểu số, vùng sâu vùng xa.
      1. Hphái Khất , c Giáo đoàn, Ni giới Hphái Khất sĩ cần vận dụng mô hình Tthiện kết hợp Hoằng pháp đến với đồng bào n tộc thiểu sy Nguyên i chung, cthn là những Phật tn tộc thiểu shiện nay đang gặp nhiều khó khăn vvật chất. Với c công c tthiện như khám bệnh phát thuốc, tặng quà, giúp c học sinh có phương tiện đến lớp, có tiền đóng học phí, xây dựng nhà tình thươngsm cho han m tu học và những việc tthiện y p phần y dựng buôn làng n hóa.
 
      1. Chú trọng việc đào tạo Tăng Ni Phật tthông thạo một số tiếng n tộc và dịch một skinh sách Phật giáo cần thiết sang tiếng n tộc y đthuận lợi việc đọc tụng, giảng giải Phật pháp cho những người ở một sbuôn làng quá xa người Kinh và những người già chưa biết tiếng Việt.

Được như thế, việc truyền bá Phật pháp đến với người Phật tử thuộc đồng o c n tộc thiểu sy Nguyên scó những bước chuyển biến mới và tốt hơn.

m lại, Đức Tsư Minh Đăng Quang sáng lập Hphái Khất sĩ và được chư đtlớn của Ngài kế thừa phát triển. Với sxiển dương giáo lý đạo Phật bằng cách thiết thực, đặc sắc, gầni dđi uo quần chúng, Hphái Khất sĩ tuy xuất hiện sau nhưng cũng trthành một Hphái lớn trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam hiện nay. Hphái Khất sĩ truyền đến y Nguyên tnhững m 60 của thế kXX (cách đây khoảng 50 năm), mảnh đất y Nguyên Việt Nam có nhiều n tộc thiểu ssinh sống, nhưng sngười theo Phật



giáo i chung và theo Hphái Khất sĩ rất ít. Theo chúng tôi, hiện nay đồng o n tộc thiểu svùng y Nguyên theo Phật giáo có một sthuận tiện và một schưa thuận tiện, n cần phát huy những việc thuận lợi và tháo gỡ những gì tồn đọng, khó khăn y vạch ra cách thức truyền đạt Phật pháp đến với htốt hơn.



 

***


TÀI LIỆU THAM KHẢO
 
  1. Trần Ngọc Thêm, m vbản sắc n hóa Việt Nam, Nxb. Thành phHChí Minh, 2001.
 
  1. Võ Kim Quyên (chbiên), n giáo và đời sống hiện đại, Nxb. Khoa học Xã hội, 2004.
 
  1. Nguyễn Xuân Phước, Nghi lđời người Jrai huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai, Nxb. n a n tộc, 2006
 
  1. Nguyễn ThKim Vân, Đến với lịch sn hóa Bắc Tây Nguyên, Nxb. Đà Nẵng, 2007.
 
  1. Ban n giáo Chính phủ, n giáo và công c quản lnhà nước đối với c hoạt động n giáo, Nxb. n giáo, 2008.
 
  1. Thích Giác Duyên, m hiểu vHphái Khất sĩ, Nxb. Phương Đông, 2010.
  1.  
  1.  

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây