65. VÀI NÉT VỀ VẤN ĐỀ GIÁO DỤC TRONG HỆ PHÁI KHẤT SĨ

Chủ nhật - 09/09/2018 13:10
VÀI NÉT VỀ VẤN ĐỀ GIÁO DỤC TRONG HỆ PHÁI KHẤT SĨ
ThS. Trương Ngọc Quỳnh
Đại học Nghệ thuật Văn hóa và Du lịch Sài Gòn
Mi thời đại, mi tông phái đều đề cao tm quan trọng của vn đề giáo dục, Hphái Kht sĩ cũng không ngoi l. Nhìn từ góc độ khoa hc, tư tưởng giáo dục của Hphái Kht sĩ có rt nhiều ni dung có giá tr, không chỉ mang ý nghĩa quan trọng trong thời điểm Hphái ra đời, mà còn có đóng góp nht định trong hệ thng văn hóa, tư tưởng, lý lun hiện đi của Việt Nam. Khi nghiên cứu vn đề giáo dục Pht giáo Việt Nam, chúng ta không thbqua những ni dung tư tưởng trong Hphái Kht sĩ. Bởi chỉ khi nào có mt cái nhìn toàn diện về những tông phái trong Pht giáo Việt Nam, chúng ta mới có th bài trừ hiện tượng mê tín dị đoan và những tư tưởng bảo th, không còn phhợp với xã hi hiện đi ngày nay.
  1. Kht sĩ là gì?

Chúng ta đều biết, “khtnghĩa là cu, xin, như: kht thực, hành kht. Đáng bàn ở đây là chữ sĩ. Sĩ” là cách gọi tôn trọng với đi phương như dũng sĩ, chiến sĩ, tráng sĩ. Ngoài ra, sĩ” còn chỉ hc trò, người đi hc hay người có hc như hc sĩ, thạc sĩ, tiến sĩ.

Bàn vchữ sĩ, trong Lun ngữ, chương Tử L” có mt đon đi đáp giữa Tử Cng và Khng Tử như sau: Tử Cng hi Khng Tử: “Thế nào được gi là sĩ?. Khng Tử đáp: Có liêm shn chế hành vi ca nh, đi sứ nước khác, không phmnh lnh ca vua, người n
 


vy thì được gi là sĩ. Tử Cng hi: “Vy bậc thứ hai là gì?. Khng Tử đáp: Dòng hcho rng anh ta hiếu thun, thôn làng ca ngợi anh ta clòng hữu hảo”. Tử Cng li hi: Vy bậc thp hơn nữa là gì?”. Khng Tử đáp: nói lời đáng tin, hành động quyết đoán”.

Vy Kht sĩ là gì? Đi Trí Độ Lun quyển 3 có ghi: Tỉ-khâu là gì? Tỉ-khâu là Kht sĩ. Pháp Hoa nghĩa sớ, quyển 1 viết: Tỉ-khâu là Kht sĩ, trên xin pháp Như Lai nuôi tâm, dưới xin người phàm thức ăn nuôi thân, gi là Kht sĩ”.

Nếu hiểu theo những ý nghĩa trên đây, Kht sĩ là Tăng nhân đi tha hương xin vt cht nuôi thân, hc giáo pháp nuôi tâm.

Kht sĩ không nng về miếng cơm manh áo, chỉ trì bình kht thực, mi ngày ăn mt bữa, không ct giữ vt cht, không ở mt nơi cố định. Bởi vy mà Kht sĩ là người đi xin ăn, nhưng không phi người ăn xin nào cũng là Kht sĩ. Người ăn xin cũng tha hương cu thực, nhưng cố giành miếng ăn bng mi cách, lúc được cho nhiều thì vui, khi được cho ít thì đau bun. Đi với Kht sĩ, đồ được cho có ngon hay không đều không để tâm. Kht sĩ không mở miệng xin ăn như người ăn xin, được bố thí thì nhn, không được bố thí thì bước đi, trong tâm không chút phiền não, y chính là liêm sỉ của Kht sĩ. Chính vì sự khác biệt giữa Kht sĩ và người ăn xin nên dù đều là hành vi kht thực, nhưng từ Kht sĩ” đã thể hiện được sự tôn trọng của người đời với hành vi kht thực của h, chứ không mang nghĩa khinh miệt, coi thường như đi với kăn xin, hay người ăn mày.

Kht sĩ chú trọng vgiáo dục, là quá trình bao gồm cả dy và hc. Kht sĩ hc pháp Như Lai để diệt trừ bn ngã; hong pháp làm lợi cho chúng sinh, đng thời gián tiếp chỉ dy cho người đời biết bố thí để tp bkeo kiệt, xan tham.

Kht sĩ là mt trong ba nghĩa trong tiếng Pali Bhikkhu”, dng để chỉ hàng xut gia phm hnh, đệ tử của Pht. Danh từ Bhikkhuđược người Trung Quc dịch thành ba nghĩa là Kht sĩ, Bma và Phá ác. Đức Tôn sư Minh Đăng Quang, vị Tổ sư khai sáng ra dòng truyền thừa Kht Sĩ Việt Nam chỉ dng Kht sĩvới nghĩa “hc trò nghèo
 


xin ăn để tu hc. Tổ sư nói: Ai cũng phi xin và cho. Ai cũng phi học và dy vì không ai tự mt mình mình mà cthể sống được. Lẽ xin là chơn lý ca vũ trụ, mà chúng sanh, kthì xin vt cht đnuôi thân, người thì xin các pháp đnuôi trí, ai ai cũng đều là kẻ xin cthy1.

Từ đây, Hphái Kht sĩ đã nâng vic kht thực lên làm mt nguyên lý chung cho tt cả mi người, với quan điểm mi người đều là Kht sĩ.
  1. Vn đề giáo dc trong Hphái Kht sĩ

Tổ sư Minh Đăng Quang cho rằng Kht sĩ” là hc trò, mà đã là hc trò thì phi tu, phi hc.

Tu tức là tu thân, tu dưỡng thân tâm, nỗ lực nâng cao trình độ tư tưởng, đạo đức ca bn thân. Ta ti nay, tuy mi giáo phái đều đt ra ñng tiêu chun khác nhau vvn đtu thân, nng có thể khng định rng tu thân luôn được coi trng, được coi là cái gc căn bn.

Đng thi, tu phi gn liền với hc, bởi Tu không hc là tu m, như Tổ sư có nói hc ở đây không phi là hc mênh mông: Trong đời khc mà đhành, là phi đâu đi hc lún cmênh mông, đường nào cũng hc, lp vp xa vời, đđiên đu ri rut”. Vy Kht sĩ phi hc gì, hc ai và hc như thế nào?


Kht sĩ phi hc chơn lý: Hc chơn lđbiết rõ chúng sanh, vn vt và c pháp đng đem li mt cái sống, nthân nh võ trụ, nói thay cùng tạo hóa, dy khp muôn loài. Mt đa vtoàn gc, toàn năng, ti cao hơn trời đt, cứu đcchúng sanh, khp thế giới chúng sanh thy tự đem nh tôn nh2. Bởi vì mục đích của vic hc là thy được thể tánh, kiến tánh. Như lời NTHong Nhn nói: Nếu chưa kiến tánh thì tu hành luống công vô ích. Chưa kiến tánh nhưng nếu có thể hiểu được các thiện pháp, chúng ta có thể tránh ác, làm lành và có thsng an lạc, thm chí rt an lạc ở cõi dục, cõi sắc và cao nht là thành tựu an lạc ở cõi vô sắc, nghĩa là thành tựu an lạc trong
    1. Chơn lKht sĩ.
    2. Chơn lKht sĩ.
 


ba cõi. Còn khi kiến tánh, thy được pháp siêu thoát ba cõi, có lợi ích đi với người mun thành tựu pháp siêu thế. Điều này đòi hi thiền giả phi du phương, hành cước, nếu chưa kiến tánh hãy cứ đi hoài cu cho được chkiến tánh mới là tu hành đúng. Bởi vy, hc phi cho thu chơn lý, chứ nếu hc nhiều mà không thu chơn lý chưa phi là hc chơn lý, chưa phi là Kht sĩ.

Kht sĩ hc ai? Khng Tử từng nói: Trong ba người đi đường, t mt người là thy ta” (tam nhân đng hành tt hữu ngã sư yên). Đức Tổ sư Minh Quang Đăng đã mrộng đi tượng thhc, được viết trong Chơn lnhư sau: Chính Pht là Vô thượng sĩ, là ông thy go có sự học không ai hơn! Còn Tăng là Kht sĩ, là học trò đang đi du học khp nơi cùng xứ, học nơi thy, nơi bn, nơi trò, học với tt cchúng sanh, vn vt, các pháp, học với Pht Pháp Tăng ba đời, học từ xóm làng tnh xứ, đến khp các xã hi, thế giới chúng sanh, học nơi chữ viết, nghe lời nói, học bng lo lng nghĩ ngợi, học nơi sự tht hành, học nơi c, cây, thú, người, trời, Pht, đt, nước, lửa gió. Tm sống xin ăn tu học đi ngay chơn lchng chút lãng xao, không màng khnhọc. Và bá tánh là cư sĩ kđã lhi đường, hoặc vì tai nn nên phi đành kham thiếu thn, tập học ở mt chnơi đđng chngày gii thoát3. Khất phi hc dn dn đến chỗ thành tựu cái biết cao hơn, Kht sĩ theo hc từng cp bậc để chuyển đi tâm tánh và đi đến chỗ thu đt chơn lý, là đến cái giác toàn năng.

Nhắc tới vn đề tu hc không thkhông nói tới phương pháp, giúp người hc phát triển cân bng giữa hc và tu. Có thnói, tu và hc là hai mt của mt vn đ, phi được tiến hành đng thi. Người tu phi hc giáo lý để xây dựng chính kiến cho mình, thoát khi phiền não và tâm được an lạc. Hphái Kht sĩ dung hòa Pht giáo Bắc truyền, Pht giáo Nam truyền và tín ngưỡng văn hóa Việt Nam. Dựa trên những thay đi của xã hi, đời sng, tư tưởng văn hóa hiện đại, Tổ sư Minh Quang Đăng đã nỗ lực đưa ra phương pháp giáo dục Pht giáo kiểu mới dựa trên nền tng những phương pháp truyền thng, như văn, tư, tu, uy nghi nhiếp chúng” và đi cơ
 


thuyết pháp. Văn, tư, tu” tức là đề xướng hc bng cách lng nghe (văn), bng suy ngm (tư), bng tu tp (tu). Từ lng nghe, suy ngm và tu tp sẽ đt được trí tu, có trí tuệ sẽ được gii thoát và thoát khi phiền mun. Uy nghi nhiếp chúngnghĩa là ly mình làm gương cho những người xung quanh. “Đi cơ thuyết pháp” là tùy theo căn cơ, trình độ của người nghe để chn lựa xem thuyết pháp gì, thuyết pháp như thế nào.

Có thnói, xuyên sut tư tưởng của Hphái Kht sĩ là vn đề tu hc. Tổ sư Minh Đăng Quang đề ra phương châm hành đạo sng chung tu hc để nung đúc, rèn luyện. Ngài viết:

Cái sống là phi sống chung, Cái biết là phi học chung, Cái linh là phi tu chung.
Với các cư sĩ ti gia, Ngài khuyến kch tích cực gn bó trong cuc sng, cng chung xây dựng mt cõi đời đạo đức, mt cuc sng an vui hnh phúc ngay ti thế gian này bng cách:

Mi người phi biết chữ Mi người phi thuc giới Mi người phi tnh ác Mi người phi hc đo.
  1. nghĩa thực tin của vn đề tu hc trong Hphái Kht sĩ

Tổ sư Minh Đăng Quang nói: Ai cũng phi xin và cho. Ai cũng phi hc và dy vì không ai tự mt nh nh mà cthể sống được. Lẽ xin là chơn lý ca vũ trụ, mà chúng sanh, kthì xin vt cht đnuôi thân, người thì xin c pháp đnuôi trí, ai ai cũng đều là kẻ xin cthy4. Con người là tng hòa của mi mi quan hệ xã hi, không ai có thtn ti đơn lp trên trái đt này, bởi vy mà vn đề tu hc càng có ý nghĩa hơn bao giờ hết, bởi vì chỉ như vy mới giúp từng cá nhân

4. Sđd.
 


hòa hợp tt hơn với đời sng xã hi, tạo nên các mi quan hhài hòa giữa con người với con người, con người với môi trường. Có thnói, tư tưởng giáo dục trong Hphái Kht sĩ mang những ý nghĩa thiết thực và tiến bộ trong cuc sng hiện đi ngày nay.

Với quan điểm mi người đều là Kht sĩ, mi người đều là hc trò, Hphái Kht sĩ đã truyền bá tư tưởng hiếu hc, dy người đời tinh thn nỗ lực hc tp, không ngừng tu dưỡng, hoàn thiện bn thân mình. Trong tình hình vn sự luân chuyển, biến đi không ngừng, con người phi liên tục hc tp thì mới thích ứng được với xã hi tiến b.

Bên cnh đó, tư tưởng tu hc của Hphái Kht sĩ cũng kế thừa những ni dung chủ đạo của Pht giáo truyền thng, ví dụ như giúp người đời hiểu được chữ nhn. Tổ sư Minh Đăng Quang gii thích: “Sự xin ăn không phi là hèn kém, chng qua việcy nhc nhngười tu hành phi biết nhn nhc và chịu đựng những thử thách, đlòng tự ái, dc vọng... chng tiêu dn. Đồng thời qua đó, ncòn giúp người tu luyện trí, tạo cho nh những niềm lạc quan siêu thoát hơn5. Trong các kinh sách nhà Pht đều dy con người ly chữ nhn” làm đu, bền lòng nhịn nhục được, cái tâm mới an định, nht là vphương diện tu hành đạo đức, phi thực hành chữ nhn trước tiên.

Hphái cũng hướng đạo người đời rèn luyện cho mình tâm sáng, tính thiện, không tham của, phi chú ý hành vi, cử ch, lời nói của mình sao cho quy phm, nghiêm chỉnh. Điều này được thể hiện rõ trong 26 phép đi kht thực của phái Kht sĩ như: Khi đi kht thực phi trang nghiêm, ngó ngay xuống, ngó xa hai thước, chngó liếc hai bên, chtìm lng nghe chuyện người nói, tâm phi niệm Phật”; Khi đi kht thực, ai mun cúng hoặc thí gì tự ý, bao gingười hi sẽ chdy, bng không thì thôi, chchê khen bt li ép buc người tav.v…

Ngoài ra, Hphái còn nhn mnh vic tu hc không phi là chỉ hc cho mình, mà hc phi đi đôi với dy, hc để chỉ dy li cho đời. Vic dy ở đây có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp, ví dụ như vic kht



thực là cách dy gián tiếp, giúp người đem của đi bố thí có cơ hi tri nghiệm được niềm vui khi làm vic tt, hiểu được thế nào là niềm an vui, thanh sch.
  1. Kết lun

Ra đời trước thm trạng suy vi của đạo pháp, vì sự thiếu vng các bậc cao Tăng khiến tín đồ đi theo tà đạo, rơi vào mê tín dị đoan, để chùa chiền cho tả đạo bàng môn lợi dng, Hphái Kht sĩ đã hết mực đề cao tinh thn tu hc với nguyện vọng dựng li những gì bnghiêng đ, phơi bày những gì đã bchôn vùi, che ph, khêu tngọn đèn đã lu m. Khái quát điểm này, cun Chơn lKht sĩ” đã viết: Kht sĩ là cái sống ca chơn lvũ trụ, mà tt cchúng sanh đều là hc trò cthy. Bởi chúng sanh là cái biết, từ chưa biết đến đang biết, và cái biết sẽ hoàn toàn ngơi nghỉ. Các sự thy nghe hiểu đđem li cho cái biết. Biết qubáu hơn không biết, cbiết mới hết mê lm chp trt, khổ sở nn tai. Từ nhđến lớn, từ thp đến cao, từ trước đến sau, từ chiều đến sáng, mi lúc cái biết càng phân biệt, làm việc ch trữ, lớn to và đi tới; làm cho chúng sanh càng ngày càng được thêm sự hc hành”.

DHphái Kht sĩ ra đời không lâu, có nhiều điểm kế thừa từ Pht giáo Nguyên thy và cơ bn dựa trên quan hệ tương quan tương duyên đơn gin như xin – cho, hc – dy, nhưng tinh thn đề cao giáo dục của Hphái là tư tưởng tiến b, có lẽ sẽ thích ứng với mi thời đại, mi hoàn cnh xã hi sau này.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây