63. KHẤT SĨ VÀ LÝ DUYÊN SINH

Chủ nhật - 09/09/2018 12:45
KHẤT SĨ VÀ LÝ DUYÊN SINH
TKN. Hạnh Thường Cử nhân Phật học khoa Đào tạo từ xa (Khóa I) Học viện PGVN tại TP. Hồ Chí Minh
Trong thời đi văn minh vt cht phát triển như vũ bão, vai trò của người tu sĩ trong đời sng xã hi là mt thách thức không nhvề cả hai phương diện tự độ và độ tha. Trong vic xiển dương Pht pháp đến đi đa squn chúng, người tu sĩ cn phi có tính năng đng, tích cực nhp thế thông qua các phương tiện thiện xảo; mt khác, cn phi đủ lực vn dng khéo léo phương tiện đưa người vào Chánh go, mở ra con đường vượt thoát lm mê sanh tử. Đó là cái khó của người tu sĩ Pht giáo trong thời đi hiện nay.

Người tu sĩ mắc phi không ít những sai lm trong vic sử dng phương tiện mt cách sai lạc, thiếu tỉnh thức đã dn đến vic bcun theo thăng trm của những làn sóng hư vinh thế tục. Do đó, tu sĩ trước tiên cn phi nhắc thức mình là mt vị Tỳ-kheo (Bhikkhu), nghĩa là người hành kht Pht go, là mt Kht sĩ. Đây được xem như là mt trong những ý nghĩa hết sức cao quý của mt Tỳ-kheo. Để nuôi thân mng, Tỳ-kheo chn đời sng kht thực, vì mục đích tự lợi, lợi tha khác hn với những kăn xin vt vưởng qua ngày. Tự lợi là vic dng phm vt của tín thí cúng dường đủ nuôi thân mng cho vic tu tp, lợi tha là thông qua vic trì bình kht thực để có cơ duyên giáo hóa, gieo chng phước điền cho tt cả chúng sanh mt cách bình đẳng. Kht thực chính là truyền thng của mười phương ba đời c Pht.
 


Trong bChơn lý, Tsư Minh Đăng Quang đã định nghĩa vphm trca hai chữ Kht sĩtht là thông thu và sâu rng. Mi tương quan, tương duyên ca vn vt trong vũ trkhông nm ngoài hai chữ Kht sĩ. Ngài định nghĩa chữ Khtlà sbao hàm nsau: “Tiếng khtc nghĩa là xin. Lẽ xin là chơn lcủa võ trụ, mà chúng sanh, kthì xin vn vt để nuôi thân, người thì xin các pháp để nuôi trí. Ai ai cũng đu là kẻ xin cthy, hoc đi xin, hoc đứng xin, hoc ngi xin, hoc nm xin, hoc ở mt chỗ xin, hoc đi cùng khp xứ xin. Xin cái ác, xin điu thiện, xin đo đức, xin quả người Tri Pht, xin vt cht, xin tinh thn, xin địa ngc, ngqu, súc sanhĐt xin nước, đt mi sống khi chết khô. Ccây xin đt nước mi sanh chi mọc nhánh. Thú xin đt nước ccây mi cđi chy. Người xin thú ccây đt nước lửa gió mi cnói làm. Tri xin người thú ccây tứ đi mi sanh thức trí. Pht li xin nơi Tri người thú ccây tứ đi mới được giác chơn1.

Tổ sư khng định lẽ xin là chân lý của vũ tr. Dng từ xin, vay mượn, hay sự trao đi qua li đều không có gì sai khác. Vn vt có mt đều nương vào cái khác mà có. Nhắc li câu chuyện vTỳ-kheo Mã Thng mt hôm đi kht thực gp Ngài Xá-lợi-pht, hiện đang đi tìm thy hc đạo. Thy dáng vcủa mt Sa-môn uy nghi, đĩnh đạc, Ngài Xá-lợi-pht bèn hi giáo pháp, Tôn giả Mã Thng nhân đó đc bài kệ:

Các pháp từ duyên sinh, Cũng do duyên mà diệt, Thy tôi Đi Sa-môn, Thường dy điều nthế”.

Bài knày đã làm chn đng toàn thân tâm của Ngài Xá-lợi- pht khiến cho Ngài thoáng sát-na nhn ra chân tướng của vn pháp. Đây chính là giáo lý Duyên khởi (Pratityasamutpada), còn gọi là nhân duyên sanh, cũng được dịch là tùy thuc phát sanh (Dependent
  1. Tổ sư Minh Đăng Quang, Chơn lý, tp I, Kht sĩ, Hà Nội, Nxb. Tôn go, 2009, tr. 264.
 


Origination). Mi sự vt, hiện tượng đang hiện hữu đều phụ thuc bởi yếu tcủa nhân và duyên kết hợp mà thành. Sự hiện hữu có được đều dựa vào, phụ thuc vào những yếu tkhác. Do đó, không có cái gì hiện hữu mt cách đc lp mà không có bt k mt yếu tnào tác đng. Nếu thiếu mt nhân hay mt duyên thì sự vt, hiện tượng đó skhông thể hiện hữu hoặc hiện hữu trong trạng thái khác với bn thân nó. Công thức lý nhân duyên được tóm tt như sau:

Cái này cthì cái kia có (imasmim sati idamhoti),

Cái này sinh thì cái kia sinh (imassuppada idam uppajjati), Cái này không thì cái kia không (imasmim asati idam na hoti),
Cái này diệt thì cái kia diệt (imasmim nirodha idam airujjhata)2.


Đthy rõ sphthuc ln nhau ca các pháp hữu vi mà chúng có mt, cái này cthì cái kia cócnh là xin, là vay mượn. Người được gọi là Kht sĩ cnh là người phi hc cho được bài hc ca vũ tr, bài hc ca sự tương c này, bài hc ca gii thoát mà mười phương chư Pht không ai không hc qua. Lý tương duyên được Tsư cthể hóa nsau: Giáo lăn xin là schan hòa cho nhau, tức công lý võ trụ, là Pháp bo, hay chơn lý, triết lnhim mu. Người này nu cơm, người kia ăn. Người khác may áo, người nmặc. Knày ct nhà, kkia . Kkhác lo thuốc cho knọ đau3. Nghĩa là ai ai cũng là người ăn xin hết, không ai trong chúng ta không phi là người ăn xin. Mi hơi thởo ra ca chúng ta cũng là s xin không kca tri đt, strao đi cht, trao đi tế o trong từng khonh khc sanh diệt trên thân thể đều là svay mượn, scho xin. Rng hơn nữa, kiến thức mà mi người có được cũng là sxin, mi thứ vt dng mà con người dùng đến cũng không ngoài scho xin mà có. Điều này, Tsư đã đcp rt cthiết: Lsống ở đi không ai duy kđược: o ai cthể tự sống riêng bit ly nh, mà không cn nhnơi tt c? Chính thân ta đây, đã do biết bao người to sanh và nuôi
  1. Thích Minh Châu dịch, Kinh Pht Tự Thuyết (Udāna), Tiểu bkinh, Tu thư Vn Hnh, 1982, tr. 291.
  2. Sđd, Chơn lý, tp I, Kht sĩ, tr. 266 – 267.
 


dưỡng: Mt đim tinh cha, mt chút huyết m, hòa hiệp thành nh, từ lúc lt lòng, đã chịu ơn muôn loi: Thức ăn, s mặc, ch, thuốc men, các vic nhu cu v.vhá phi chmt đôi người đm nhn? Vn vt chung quanh ta lúc o cũng đỡ nâng đùm bọc, ta là kqnhnhen, đang xin nhnơi tt c, mà mi chúng ta không ai tự nh csn món chi được vy4.

Người thế gian thường hiểu mt chiều: Do tôi lao đng cực kh để mua sm tt cả tiện nghi mà tôi mun có, không xin ai c. Hiểu như thế là thiển cn, là cái hiểu của người chưa biết lý duyên sinh, chưa biết đến chân lý vũ trụ là gì. Do đó, tt cả những vic làm, suy nghĩ, hành đng mi mi người ta đều gn thêm cái tôi vào đó: Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ncủa tôi. Nhưng giáo lý của Đức Pht dy rt rõ ràng rằng: Cái này không phi ca tôi, cái này không phi là tôi, cái này không phi tự ngã ca tôi, để thy rõ rằng không có mt cái tôi nào trong bn thân mt con người, con người chỉ là tp hợp của các yếu tduyên sinh mà thành. Do đó, sự tht mi con người chính là Kht sĩ. Vn vt cũng là Kht sĩ, đang là Kht sĩ, sẽ là Kht sĩ. Tuy nhiên, dưới con mt thế gian, chẳng ai tự cho mình là kăn xin cả, trừ mt vài người ăn xin vt vưởng để sng qua ngày, còn hu hết những người có ý cphn đu, biết lao đng để sinh sng, làm sao họ có thể hiểu được ý nghĩa xin cao quý y. Còn người ăn xin sng bám xã hi thì cũng chẳng bao giờ hiểu được nghĩa lý huyền vi của đạo ăn xin cao cả. Vy thì, chỉ có giáo lý của Đức Pht mới chỉ rõ cho nhân loi thy rõ sự tương duyên ln nhau trong vũ tr, và con người chu sự chi phi tun hoàn trong mười hai nhân duyên để chu luân hi, sanh tử. Điều này, chính Tổ sư Minh Đăng Quang đã khẳng định li lời cPht như sau: Go lý ca Kht sĩ là trung đạo, chánh đng chánh gc vô thượng, ct yếu đđem li chữ a cho muôn loài, xin cái cao ban o cái thp, đto sự bng phng giữa cõi đời. Đi xin đkêu gi lòng từ bi hỷ xả, đức từ ái cho nhơn loài,… không phi vì đói khát sợ chết mà xin, người đi xin vt cht là làm cớ sự đbthí tinh tn phước lc, nhắc nhđkhuyên
  1. Sđd, tp III, Hòa bình, tr. 349 – 350.
 


người. Đi xin tức là bthí pháp vy. Mi ngày đi xin mt ln, lp mt công đức dn đo ban hành, dìu dt chúng sanh, đền ơn cPht lưu truyền chánh pháp.5

Như vy, có thnói hai chữ Tỷ-kheo (Bhikkhu) mà Đức Pht thường gọi hàng Sa-môn Thích tử của Ngài chính là thể hiện chân lý ti cao, ti thượng mà giáo lý của Đức Thế Tôn mun chỉ bày cho tt cả chúng sanh. Tỷ-kheo là Kht sĩ, trên xin giáo pháp của Đức Pht, dưới xin vt thực của tín thí, trên cu gii thoát, dưới cứu khhàm linh. Xin và cho cũng là cp phm trkhông bao giờ khuyết. Đng thi, mt người được gọi là Tỷ-kheo cũng đng nghĩa với vic người này đã nhn ra chân lý của vũ tr, nhn ra các pháp vốn có mt trong lý tương sinh, tương diệt mới xứng đáng là mt Tỷ-kheo. Vào thời Đức Pht, có ln Bà-la-môn Bhikkhaka đến hi Đức Pht: Thưa Tôn giGotama, con là người kht thực và Tôn giả cũng là người kht thực. Vy có sự sai khác gì giữa chúng ta?”. Đức Thế Tôn đáp: Không phi ai ăn xin, cũng gi là Kht sĩ, nếu chp trì đc pháp, không gi là Tỷ-kheo. Ai sống ở đời này, từ bc phước o, đon trừ mi ác pháp, hành trì theo phm hnh, sống đời sống chánh trí, vy xứng Tỷ-kheo6. Như vy, Kht sĩ là người ăn xin nhưng không có nghĩa là người ăn xin nào cũng là Kht sĩ. Điều này đã được Đức Pht trả lời rt rõ ràng. Nếu không có đời sng phm hnh, không có đời sng chánh trí thì không phi là Tỷ-kheo.

Do đó, bn thân mi vị Tỷ-kheo là phi quán chiếu để thy tự thân chính là Kht sĩ, với tinh thn vô tr, vô chp, để có cái nhìn tuệ giác như tht: không cái gì của ta, là ta, tự ncủa ta. Và từ đó có thể truyền bá vgiáo lý Kht sĩ cho tt cả chúng sanh được hiểu rõ.


Là người con Pht, thường trực tuệ tri vbn cht Kht sĩ có thgiúp cho mi chúng ta gim dn tự ngã, dn đến đon diệt tham ái, để đời sng trnên có ý nghĩa thiết thực, để tâm hn được mở ra giữa đi đng với tinh thn từ ái, bao dung như bn tánh tự nhiên vốn có
  1. Sđd, tp I, Kht sĩ, tr. 274.
  2. ĐTKVN, Kinh Tương Ưng Bộ I, chương 7, phm Cư sĩ, phn Bhikkhaka, VNCPHVN n hành 1993, tr. 400.



của vũ tr, để “ta sống giúp cho tt cả, và tt cả sống giúp cho ta, nlà mt thân thto lớn liền lạc, nbàn tay làm việc chùi lau cho ccơ thể …7. Ai hiểu được Kht sĩ trong mi tương quan, tương duyên của vũ tr, người y sẽ có đời sng an lạc và gii thoát. Và chữ Kht sĩcũng chính là sự trv, Kht sĩ chính là tự tánh, Kht sĩ cũng gọi là chân lý, là Pht tánh… gọi như thế nào cũng đúng. Bởi nếu thy được thực tánh của vn pháp thì gọi như thế nào cũng chính xác và chng có sự phân biệt nào khi nn từ chỉ là phương tiện để chỉ bày cho chúng sanh hiểu thu bn cht cuc sng để đt đến an vui, hnh phúc vĩnh cửu.





































 
  1. Sđd, tp I, Kht sĩ, tr. 266.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây