59. TỔ SƯ MINH ĐĂNG QUANG VỚI CHÍ NGUYỆN "NỐI TRUYỀN THÍCH CA CHÁNH PHÁP"

Chủ nhật - 09/09/2018 12:34
TỔ SƯ MINH ĐĂNG QUANG VỚI CHÍ NGUYỆN "NỐI TRUYỀN THÍCH CA CHÁNH PHÁP"
HT. Thích Nhật Quang
Ủy viên HĐTS GHPGVN Viện chủ Thiền viện Thường Chiếu
  1. Vài nét về đạo nghiệp của Tổ sư Minh Đăng Quang

Người mang hoài o trong lòng,

Thích-ca Chánh pháp ni dòng độ sanh”.

Vào khong thp niên 40 - 50 của thế kXX, trên những no đường thuc địa bàn các tỉnh Long An, Mỹ Tho, Gò Công, Bến Tre, Thủ Thừa, Phú Lâm, ChLớn, Sài Gòn, Gia Định, Tây Ninh, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng u, sau đó là khp các tỉnh miền Tây, đng bng Nam B… đã từng in du chân của mt nhà sư khoác tm y vàng, đu trn, chân không, tay ôm bình bát kht thực, thuyết ging giáo lý Đức Pht Thích-ca. Người y là ai? Đó chính là Tổ sư Minh Đăng Quang, người sáng lp ra “Đạo Pht Kht Sĩ Việt Nam.

Tổ sư Minh Đăng Quang, thế danh Nguyễn Thành Đt, tự Lý Huờn, sinh năm 1923, ti làng Phú Hu, tng Bình Phú, qun Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Năm 15 tui, Ngài xin phép thân phqua xứ Chùa Tháp (Nam Vang) để tm sư hc đạo. Cui năm 1941, Ngài về li Sài Gòn, sau đó vâng lời thân phụ lp gia đình vào năm 1942. Mt năm sau, người bn đời và đứa con thơ đều thbệnh rồi ln lượt qua đời. Vào năm 1943, mt ln nữa Ngài xin phép thân phụ lên vùng núi Tht Sơn, n tu tn mt năm.
 


Năm 1944, Ngài đến đu gành Mũi Nai, Hà Tiên an trú thiền định 7 ngày đêm và chính nơi đây Ngài ngộ được ý pháp Thuyền Bát-nhãngược dòng đời cứu độ chúng sinh. Từ đó, Ngài hành cước giáo hóa theo hnh Mt bát cơm ngàn nhà. Mt hôm, trên đường vân du hóa đạo có mt thiện nam cm phục đạo phong cao khiết và ct cách đoan nghiêm nên thỉnh Ngài vgiáo hóa ở Linh Bửu tự, làng Phú Mỹ (Mỹ Tho – Tiền Giang). Nơi đây sut 3 năm (1944 - 1947), bui sáng Ngài đi kht thực, đến trưa thọ trai, bui chiều Ngài giáo hóa, bui ti tham thiền nhp định, nêu tm gương sáng về đời sng phm hnh thanh tịnh, y theo truyền thng của cTăng thời Đức Pht còn ti thế. Đu năm 1947, Ngài rời Linh Bửu tự, quyết tâm thực hiện tâm nguyện Ni truyền Thích-ca Chánh pháp – Đạo Pht Kht Sĩ Việt Nam.

Từ đó, bóng Ngài tri khp đng bng Nam B. Sau 8 năm tiếp Tăng độ chúng, khuyên tu khuyến thiện, giáo hóa bá tánh cư gia không mt ngày dừng ngh, vào ngày mng 1 tháng 2 năm Giáp Ngọ (1954), trên đường hành đạo từ Sa Đéc xung Cn Thơ, khi đi ngang qua thị trn Cái Vn (nay là huyện Bình Minh), Ngài đã hoan hỷ đi vào “lửa nn, vui trả nghiệp quả trong nhiều đời kiếp luân hi. Thế rồi Ngài vng bóng, biền biệt cho đến ngày nay đã 60 năm (1954 - 2014). Trong thời gian giáo hóa, Ngài có son ra bChơn lgồm 69 quyển và tp Bồ-tát go. Hai tác phm Pháp bảo cao quý còn li này chứa đựng những tư tưởng đặc thphát xut từ sui ngun tự chứng tự ngcủa bn thân, dựa trên nền tng Giới – Định – Tuệ truyền thng của đạo Pht.

Tổ sư đã ging dy những gì khi mang cnguyện Ni truyền Chánh pháp Thích-ca?
  1. Cnguyện Ni truyền Thích-ca Chánh pháp
 
    1. Hệ thống tư tưởng Pht hc của Ngài ni hàm trong b
Chơn lý

BChơn lgồm 69 quyn bao trùm cthiên nhiên vn vt. Văn cú trong Chơn lđơn gin mc mạc, súc tích; đặc biệt là không dng
 


âm ngữ của Pali, Hán ngữ mà hoàn toàn dng tiếng Việt đcho tt cchúng ta dhiểu, dnhớ, cân nhắc suy gm nương theo đó mà tu hành.

Mi quyển trong bChơn lđều có ý nghĩa riêng, nhưng xâu kết làm thành mt bộ xuyên sut từ thp đến cao, từ phàm đến Thánh, là kho báu trí tuệ vô cng tn, có đủ sự, lý, tâm, pháp, ni, ngoi, trn cnh, duyên sinh, chân đế, tục đế, tht vi diệu khó ngbàn. BChơn lý được ví như ánh đuc cho người đi đêm, là vng thái dương tỏa ngời ánh sáng hương vị gii thoát.

Giáo lý của Đức Pht Thích-ca được Ngài trình bày theo bcục như sau:

Khi lun ging đến phn phát sinh tư tưởng hành đng của mt con người, Ngài chrõ trong các quyn Công lvõ tr, Gc ng, Khuyến tu, Tu và nghiệp, Ăn và sống, Ht giống, Sti li, Con sư tử, Sám hi v.v…

Khi lun ging về đời sng con người, có cuc sng an vui, xã hi lành mnh, xây dựng hnh phúc tht sự ti mt xứ Thiên đàng, Cực lạc ti thế gian, Ngài ging dy trong các quyển: Trường đo lý, Đời đo đức, Ngun đo lý, Xứ thiên đường v.v…

Và khi chúng sanh đã có tm hiểu biết sinh hot ti thế gian mun đi đến sự an tịnh của tâm hn, đt được sự gii thoát an lạc đắc đạo, Ngài chỉ cho phương pháp, con đường, giới thiệu pháp môn tu tp trong các quyển: Bát chánh đo, Chánh đng Chánh gc, Y bát chơn truyền, Nhp đnh, Thn mt, Số tức quan, Chư Pht, Pht tánh, Chánh pháp, Pháp chánh gc, v.v…

Khi nói về tương quan liên hệ các tông phái và tư tưởng Đi thừa, Tiểu thừa, sự phát triển của các Hphái Nam tông, Bắc tông, Ngài nói rõ trong các quyển: Tam go, Tông go, Đi thừa go, Đo Pht, Pháp Tng, Vô Lượng Cam L, Quan Thế Âm, Đi Thái thức, Đa Tng, Pháp Hoa, v.v…

Còn li 9 quyển là phn giới lut của người xut gia và hàng cư sĩ đã thBồ-tát giới như: Bài hc Kht sĩ, Lut nghi Kht sĩ, Pháp hc Sa-di I, Pháp hc Sa-di II, Pháp hc Sa-di III, Giới Bồ-tát, Giới bn
 


Tăng, Giới bn Ni. Ngài dy: “Người xut gia, cư sĩ phi cgiới buộc ràng, phi cgiới ngăn chn tư tưởng hành động xu ác phát sinh làm chướng ngi đạo qu”.

Vì vy 9 quyển Chơn lsau là thềm thang bước lên Thánh quả, nếu ai mun đắc đạo, thành tựu mi công đức lành mà không giữ gìn giới lut thì không bao giờ có được điều mong mun và s bị ra khi biển Pht pháp.

Bởi vì: “Giới Lut là thmng ca Tăng-già,

Là xâu chui Anh Lc đtrang nghiêm Pháp thân.
    1. Pháp yếu thực hin phương châm

Tổ sư Minh Đăng Quang có mt nhơn duyên thù thng đi với giáo pháp của Đức Pht Tổ Thích-ca Mâu-ni. Tổ sư sinh ra đời cách Đức Pht trên 2500 năm, vy mà khi bừng ngộ ra ánh sáng Chánh pháp của Đức Pht, tức thì tâm linh phn chn. Tổ sư đã tuyên bố và khng định con đường hành đạo phi là “Ni truyền Thích-ca Chánh pháp. Từ sui ngun tâm linh vi diệu này, Tổ sư tiếp tục khơi thông ngun mch, thun duyên hành đạo trong cng đng dân tc, sáng lp “Đo Pht Kht Sĩ Việt Nam, mt sắc thái Pht giáo đặc thù, biệt truyền ti miền Nam Việt Nam.

Tổ sư Minh Đăng Quang chủ trương quay vvới ci ngun tâm linh, quyết tâm thực hiện truyền thng Giới – Định – Tu, phát huy tinh thn viễn ly trong hnh xut gia, tinh tn trong tu tp và chu toàn đức gii thoát trên đường hong hóa độ sinh. Đi với đời sng cng đng, cng trú tu hc trong những ni già lam tịnh xá, Tổ sư nêu lên phương châm:

Nên tập sống chung tu học, Cái SNG là phi sống chung, Cái BIT là phi học chung, Cái LINH là phi tu chung.
(Chơn lHòa bình”)
 


Sng chung tu hc để nung đúc, rèn luyện, tăng trưởng cái sng, cái biết, cái linh chính là cụ thhóa tinh thn Tam tLục hòa mà cPht đã giáo hun tự ngàn xưa.
    1. Tổ sư đã dùng biểu tượng gì cho Hphái Kht sĩ?

Đó là hoa sen đèn chơn lý.

*VHoa sen:


Tổ sư Minh Đăng Quang chn “hoa sen” và ngọn đèn chơn lý” làm biểu tượng cho dòng pháp “Ni truyền Thích-ca Chánh pháp - Đo Pht Kht Sĩ Việt Nam, hiện nay là Hphái Kht sĩ. Tổ sư đã bày tỏ ý hướng đem Chánh pháp thanh tịnh của cPht (hoa sen), soi đường dn li cho người hữu duyên (ngọn đèn chơn lý). Đó là cách thức phng thChánh pháp mt cách tt đẹp nht.

Nếu chúng ta thPht đúng theo tài liệu lịch sử, phi để Ngài ngồi trên tòa c, ti sao ngày nay chùa nào cũng thPht ngồi trên tòa sen? Đây là để biểu trưng con người của Ngài. Vì trước kia là ông hoàng, Ngài cũng nhiễm ô ndục, như mm sen còn ở trong bùn. Khi Ngài vượt thành xut gia là mm sen ra khi bùn, mà còn ở trong nước. Lúc Ngài ngồi tu ở dưới ci Bồ-đề và thành đạo là hoa sen ra khi nước nở tn đy, tỏa hương thơm ngào ngt. Hoa sen li tượng trưng cho sự bình đẳng giữa mi người. Đã là mm sen thì mm sen nào cũng có khnăng vươn lên khi bùn, khi nước và trhoa tươi thm hương thơm ngt no. Đã là con người thì con người nào cũng có khnăng thoát khi dục lạc ô nhiễm, thức tỉnh tu hành và đt thành đạo quả. Pht quả không phi của riêng mt người nào, mà của chung tt cả ai có ý chí thoát trn, có quyết tâm đt đạo. Vì vy, Pht quả gọi là Vô thượng giác, là giác ngkhông ai trên, không có người bng; Pht cũng dng hình nh hoa sen để nhắc nhPht tử, ở giữa chn ô nhiễm mà khéo vượt ra bng trí tuệ sáng ngời của mình.

Ngiữa đống rác nhp, Quăng bnơi bđm, Chy hoa sen nở,
 


Thơm sch đp ý người. Cũng vy, giữa qun sanh, Uế, nhiễm, mù, phàm tc, Đệ tử bậc Chánh Gc, Sáng ngời với trí tuệ.
(Kinh Pháp cú, câu 58 - 59)

Hoa sen mc chỗ nhp nhúa mà thơm tho tươi đẹp, sng trong đời nhiễm nmù ti, người Pht tchúng ta phải khéo dùng trí tuvượt ra đcứu nh và cứu người. Cái quý ca hoa sen là sinh tchn bùn ly mà tinh khiết, cái cao cca người tu là sng trong mi dc lc nhiễm ô mà vượt ra an toàn siêu thoát. Hoa hng, hoa lan thơm hơn hoa sen, mà không được nhc ti, vì sinh ở chỗ đt sch. Nếu Thái tlà người ttrên tri rơi xung mà đắc đạo thì không có giá trgì. Cnh trong vòng km ta ca dc trn, mà thoát được mi là bậc Đại hùng. Nếu chúng ta sinh ra đã là Thánh thì còn nói gì tu. Cnh vì chúng ta mang đy đủ thói hư tt xu trong nh, chứa đy tham sân si trong lòng, cho nên gp cnh thì nhiễm, trái ý thì sân, quẳng chúng thoát ra, tht là điều kkhăn trăm phần, ai làm được điều đó rt đáng cho chúng ta chp tay tán tn. Vì thế, TuTrung Thượng Sĩ đã làm bài kệ xut trn”:

Tng vi vt dc dch lao khu, Bài lạc trần hiêu thế ngoi du, Tán thna biên siêu Pht T, Nht hi đu tu nht hi hưu.
Dịch:

Ra khỏi bụi hồng


Đã từng ham mun phi long đong, Ném quách mà ra khi bụi hồng,
 


Buông thõng bkia lên Pht T, Mt ln phn chn mt ln xong.
Bởi vì chúng ta chy theo vt dục nhân gian nên phi khsgian nan, nếu can đm ném pht hết, vượt ra ngoài ng trn ly, quả là can đm phi thường, mới có thbuông thõng tay bước lên ni Pht Tổ được. Chúng ta phi mnh dn dứt khoát, mt ln bỏ đi không thèm ngó li, chớ đừng hc thói nhy nhụa, dùn dùn thng thng ct không đứt, bứt không ri, mt chân bước tới hai chân bước lui, không làm nên trò trống gì, chỉ chuc làm trò cười cho hàng thức giả. Phi can đm dứt khoát thì vic khó my cũng thành công. Chỉ cn chúng ta triệt để ứng dng sự nhy cm của mình để phát ctu hành, khéo xoay chuyển cái kkhái của mình vào con đường quyết tử cu đạo. Dám hquyết tâm trên đường hành đạo, chúng ta sẽ thu gt được kết quả chắc chn không nghi. Chúng ta là những mm sen phơi mình trên bùn ndục, vươn lên thoát khi nó có khó gì? Chúng ta đâu có cung vàng điện ngc, đâu có cung phi mỹ nữ… mi dục lạc tìm cu rt khó, nếu thoát nó li hết sức nhẹ nhàng. Chỉ cn mt cái nhy nhẹ đã ra khi rồi, thế mà chúng ta cứ chn chừ không ưng nhy. Đây là yếu điểm muôn kiếp chu trm luân của chúng ta.

*Về Đèn chơn lý:


Bài kệ LPhttrong Nghi thc Tụng nim ca Hệ phái Kht sĩ viết:

Kính ly Pht từ bi cứu thế, Đem đo lành phtế chúng sanh, Trần gian biết no tu hành,
Nhđèn trí tuquang minh soi đường.

Tổ sư khng định con đường mình đi là theo bước Đức Thích- ca Mâu-ni, ly trí tuệ làm ánh sáng soi đường. Quả tht, cả cuc đời hành đạo qua gương hnh từ bi, hỷ xả của Tổ sư đã đủ nói lên điều đó, bởi có trí tuệ mới có từ bi và hỷ xả.
 


Như vy, biểu tượng hoa sen ngọn đèn chơn lchính là lý tưởng, là hoài bão của Tổ sư vmt quc đ, mt cuc sng an vui, thun thiện của tt cả mi người. Trong đó, người tu phi thể hiện mt đời sng tu tp trong sáng, thanh thoát, thp lên ngọn đèn chơn lý phng hiến cho đời.
  1. Những thành tựu của Hphái sau 70 năm hành đạo

Có hai yếu tố dn đến sự thành tựu của Hphái này:
    1. Hình thức giống như Đức Pht thời còn ti thế

Tổ sư Minh Đăng Quang khai mgiáo pháp từ năm 1944 nhưng đến năm 1948 thì những bước chân hong hóa của Tổ sư và đoàn Du Tăng mới xut hiện ở vùng ChLớn – Sài Gòn – Gia Định. Ngay từ bui đu, những nhà sư đu trn chân đt, từng bước hóa duyên, thanh bn đơn gin đã gây ngạc nhiên cho người dân thành thị vốn quen với sặc sỡ phn hoa, n ào náo nhiệt. Điều này đã được mt thi sĩ Pht tử cm nhn rồi ghi li:

Sài Gòn hoa lệ từ xưa,

Tng phơi cánh mộng, gió đưa điệu đàn. Mt ngày kia, dưới nng vàng,
Bỗng trang nghiêm hiện mt đoàn Du Tăng. Dân thành thnhững băn khoăn,
Hlà ai? – Xin thưa rng hđây, môn đệ ca Đức Thy,
Minh Đăng Quang chiếu tự rày mười phương.

(TrVũ, Ánh Minh Quang”, Thi hóa tiểu sử Tổ sư)

Mi đoàn Du Tăng hoặc Ni được thành lp với túc số từ 20 vị trở lên. Theo chỉ dy của Tổ sư, các đoàn chia nhau đi hành đạo khp các vùng Phú Lâm, ChLớn, Sài Gòn, Gia Định và các tỉnh khu vực miền Đông và Tây Nam B. Dù ở nơi nào, mi sáng các nhà sư trong chiếc y vàng, trình tự hóa duyên, trưa giờ ngọ tìm nơi tàng cây bóng
 


mát hay miếu cổ vng vẻ thọ thực đm bạc thanh bn tùy theo sphm thực đã được hóa duyên. Chiều ti các nhà sư li thuyết kinh ging đạo ti các khu đông dân cư, nhà lng chợ, sân trường hc… để khuyên tu khuyến thiện cho bá tánh cư gia. Cứ như vy, theo thời gian hình nh những nhà sư rày đây mai đó, vân du hóa đạo, không chp giữ tiền bạc, của ci bn đạo riêng tư, tái hiện hình nh Tăng đoàn thời Đức Pht Thích-ca Mâu-ni và cũng chính là hoài bão của Tổ sư Minh Đăng Quang đã tạo du n thân thương trong tâm thức của hàng nam nữ Pht tử khp nơi.
    1. Biết vn dng ngôn ngữ thi ca bình dân vào vic giáo hóa

Vào những thp niên 40 đến 60, Tổ sư cng đệ tử đã khéo léo chuyển ti ý pháp trong thể thơ lục bát, song tht lục bát và thể tht nn, khiến người đc tng dễ dàng lãnh hi giáo pháp Pht Đà. Khi thuyết pháp, cTăng Ni cũng thường điểm xuyết những vn kệ diễn đt điều mun ging gii mt cách xúc tích cô đng mà rõ ràng làm cho thính chúng hiểu lời Pht dy mt cách nhẹ nhàng, nhớ lâu. Chng hn như để nói ý nghĩa Tăng Bo, cTăng Ni đc bài kệ:

Tăng là c nhà sư thanh tnh,

Thkhông không chng dính bụi trần, Ly gia, ct ái, khinh thân,
Dứt trừ bn ngã, lãnh phn độ sanh. Tăng là kthừa hành Pht pháp, Đem đo mu dy khp thế gian, Hồng trần đám lửa cháy lan,
Nước mưa cam lộ xi tn tt ngay. Chư Thánh Tăng công dày vô hn, Đchúng sinh bao qun nhc nhn. Đi ơn cm đức không ngn,
Chúng con thkỉnh lhng dám sai.



Quả tht thuyết phục! Chỉ vỏn vẹn 12 câu thơ vn điệu nhp nhàng gieo vào tâm thức người nghe, người đọc mt cm giác sâu lng và mt cách tự nhiên, ý nghĩa của Tăng Bảo đã thm thu vào tri thức lúc nào không hay.

Tm kết


Tuy ra đời mun màng song nh hưởng của Hphái và lợi ích Hphái mang đến cho người dân Nam Bnói riêng, cho người Việt Nam nói chung rt đáng kể. 70 năm đi qua, mt quãng thời gian không lâu nhưng cũng đủ đánh du vị trí mt truyền thng Pht giáo mới trong lòng dân tc, trong lòng Giáo hi Pht giáo Việt Nam.

Nhờ những yếu thành trì đúng con đường Đức Pht, truyền bá đúng Chánh pháp, và vn dng phương tiện nn ngữ địa phương mt cách thiện xảo thích hợp với căn cơ đi tượng, Hphái Kht sĩ chuyển mình lớn mnh khá nhanh chóng. Chỉ từ thp niên 50 đến nay, trên cả nước, đã có hơn 500 tịnh xá, cơ stu hc của Tăng Ni và Pht tử thuc Hphái Kht . Không những vy, hiện nay Đạo Pht Kht Sĩ cũng đã có mt ở nhiều nước trên thế giới, mang ngọn đuc Chánh pháp đến các sắc dân. Tuy liên tục phát triển, hòa vào nhp tiến triển của Giáo hi và xã hi, Hphái vn giữ được bn sắc truyền thng của mình lúc ban đu. Đy là điểm đáng trân trọng và phát huy.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây