53. ĐƯỜNG LỐI HÀNH TRÌ CỦA TỔ SƯ MINH ĐĂNG QUANG

Chủ nhật - 09/09/2018 12:18
ĐƯỜNG LỐI HÀNH TRÌ CỦA TỔ SƯ MINH ĐĂNG QUANG
TT. Giác Nhuận
Giáo phẩm Hệ phái Khất sĩ Thư ký Ban Trị sự GHPGVN Q. 6, TP. HCM
  1. DẪN NHẬP

Thuxưa, khi Pht còn ti thế, Ngài đã chdy hàng đtlẽ sng chung tu hc, đưa đến giác ng và gii thoát. Kế thừa dòng Pht, bao thế hTăng-già ni bước nhau đi, nhđó đạo Pht còn sng mãi ti nhân gian làm lợi ích cho bao lớp người. Thành qutt đẹp y được là nhsđóng p ca quá trình sng chung tu hc. Kế thừa gia tài Pháp bo đồ sộ đó, Đức Tsư Minh Đăng Quang xut thế ti Việt Nam, khai mli nh nh xut trn thoát tc ngày nào ca Pht Tăng, Thánh chúng. Chvỏn vn mười năm n tu và hành đạo mà công hnh ca Tsư đã vực dy tinh thn giác ngcho cmt thế hệ Kht sĩ, đng chung lý tưởng dưới schche ca hng ân Tam Bo. Cho đến tn ngày nay, âm vang phm hnh và những lời dy ca Tsư vn còn nh hưởng sâu sc trong tâm thức ca hàng hu hc. T đã cng hiến trọn vn cuộc đời ca nh, p phn to lớn trong công cuộc chn ng đạo pháp. Những cng hiến ca Ngài làm cho Pht go ti Việt Nam được thêm ỡng cht, thêm hòa hp và sng mãi trong lòng dân tộc sut tnửa thế kXX sang qua thế kXXI này.

Ngày nay, Pht giáo ti nước ta đã thng nht thành mt t chức duy nht mang tên Giáo hi Pht giáo Việt Nam (1981). Trong đó, Hphái Kht sĩ là mt thành viên sáng lp quan trọng không thể thiếu. Có được vị thế đáng tự hào đó, chính là nhờ công ơn mt đời hành
 


đạo của đức Tổ sư.

Chúng ta thy rằng, trên con đường giác ng, bao thế hTăng Ni Kht sĩ hn đã ghi khắc trong tim mi người hình nh cao đẹp của Tổ sư qua chân dung mt nhà sư đu trn, chân đt, thân đp y phn tảo, tay ôm bình bát kht thực hóa duyên. Tổ sư đã đi khp chn từ thành thị đến thôn quê để gieo ht ging Bồ-đ, đánh thức tâm giác ngnơi mi con người hữu duyên. Cuc đời của Đức Pht và cTổ đều là những tm gương sng đng để chúng ta soi mình tu tp theo. Thế nên, khi nhvề công ơn của các bậc Tkhai sơn, không gì thiết thực hơn là thường tưởng nhcuc đời hành đạo, tư duy lời các Ngài dy và phi áp dng hành trì mt cách tinh tn.

Đi giữa đường đời đy hoa thơm cỏ lạ và cũng đy si đá chông gai, tm gương sáng ngời đạo hnh của Tổ sư đã dn bước soi đường cho chúng ta hướng v ngun ci tâm hn, tìm sự gii thoát trong ta, gii thoát ngay chính tự thân này. Để sng trọn vẹn theo lời Tổ dy và để tưởng nhớ ơn đức của Tổ sư. Đề tài Đường li hành trì ca Tổ sư Minh Đăng Quangsẽ được triển khai như là mt hành trình nhỏ vào trong kho báu quý gcủa tông phong Kht sĩ.
  1. NỘI DUNG
 
    1. Hành tgiới lut

Đời sng của Tăng sư, từ thể xác đến tinh thn đều được chỉ dn rt cn kẽ trong Lut tng. Chính Lut tng là khuôn phép, là những điều quy định mà người xut gia phi tuân th, hành trì. Ni dung Lut tng bao hàm từ chuyện nhỏ nht như cách ăn ung, nm ngồi, cho đến những điều hàm chứa lý lẽ cao siêu giúp người tu kiểm thúc được thân tâm, mau đt đến gii thoát.

Giới bn gm chứa đy đmi đức lành. Người thế tc mà xem qua cũng cthnhđmà được sự giáo hun li ích nhiu lm, huống hlà chư Tăng ngày ngày gìn giữ, noi theo thtrì. Khi Pht vừa thành đo, sáng lp Giáo hi Tăng-già, vì sTăng sĩ n ít và cĐức Pht bên cnh đun nn, chbày, nên ca cn đến giới lut. Những vic đúng sai, nên hoặc không nên, vTăng cthtrực tiếp ta hi Pht. Nếu c
 


ai không biết mà làm việc không phi, cũng đã cPht cn ngăn, dy d. Nng vsau, người xut gia càng ngày càng đông hơn, nên việc ban hành những khuôn mu, lut ltrnên rất cn thiết, vừa đhướng dn người tu đi đúng đường, vừa thiết lp được trật ttrong Tăng chúng đcùng nhau tu tp và đi đãi với nhau cho tt. Ngoài ra cũng phi quy đnh mi quan hthế nào cho thích hp, đúng đn giữa người xut gia với hàng cư sĩ ti gia, với c quan chức, và nói chung với cả xã hi. Và điu quan trọng nht là nhm bo vstôn nghiêm, thanh khiết cho chúng hi cngàn người trong mi ngôi chùa. Vi những scn thiết như vy, Gii bn đều đáp ng được c. Tchuyện ln đến chuyện nh, những quy đnh nào là cn thiết cho người xut gia đều được ghi rõ trong đc. Người xut gia cho dù tánh nết trước đây cnhư thế nào đi nữa, chcn tuân thhoàn toàn đúng như Gii bn là tt nhiên strthành bc chân tu đức hnh. Và nhvào skim thúc thân tâm, nên dn dn sđược trí tusáng sut mà trnên hàng thánh gi1.

Trong Chơn lý Tông giáo, Tdy: Mi cư sĩ đu có phn sự phi xut gia, mỗi Tăng sư đu có phn sự phi dung hòa gigiới, người hành ca đng, thì phi biết kính trng những kđang hành, phi hộ pháp nâng cao tán thán, chđừng gièm pha ố chọi, hãy nghĩ đến đạo, đến Pht, đến chúng sanh, mà đừng kiêu sa um ti. Phi khuyến khích người tu, phi giúp đỡ người ta hơn mình, phi hợp tác vi h, phi sửa chữa điu kém thiếu, phi nâng cao gii lut, đmi phi là phn sca Tăng bảo, mi gi là Tăng bảo kng to ti, phi to nấc thang cho người lên, phi chbmé cho người đến, phi sm tàu ghe đvt người nguy, mi là phn sự chánh ca Tăng-già, đối vi cõi đi tràng giang đi hi, ca chúng sanh ngày nay đang ln hp. Tht vy, chcTăng chúng mi lập đạo đng, ri thì các tông go stự nhiên thống nht. Còn nếu đạo Pht bng chng đng chỉnh đốn y như vy, thì âu là Tăng sư ai ny hãy tách riêng ra, tu trì Đc gc, khắc nghiêm gii hnh, ở n rừng sâu, cũng còn khá hơn là sxut gia cu th, ở nơi thành th, chi cho phi bị cư gia hủy m. Có như thế thì cái nn chiến tranh Tông go, tnay



1. Đoàn Trung Còn, Tăng đnhà Pht, Nxb. Tôn go, Hà Nội, 2004.
 


mi đng dứt hết2.

Đức Tổ sư luôn ly giới lut làm đu và luôn dy dỗ các đệ tử phi hành trì giới lut. Thế nên, ngay phn đu tiên Lut nghi Kht sĩ, Tổ đã ân cn dy bảo: Đo Pht được bảo tn lâu dài là nhgiới lut; c sư được tôn trọng sùng bái là nhgiới lut; bá tánh được an cư lạc nghip, vui hưởng mi sự lành, cũng nhgiới lut nữa! Ở xứ nào mà người ta cgiữ hnh, thì dân chúng được bình an, không ctai nn phiền hà; du là nhà sư Đi thừa ở Tàu, ở Nht; du là Tăng Lt-ma go ở Tây Tng; du là Tỳ-kheo Tiểu thừa ở miền Tích Lan hay Thiên Trước, mi người đều phi tn trọng giữ giới, và nhờ sự bảo hbởi giới lành. Li cư gia bá tánh cũng thế, không phân biệt là miền Đi thừa hay Tiểu thừa, ai ny đều phi cn trì giới, giữ hnh, để sống mt ch phi thế, trong sch và hiền hòa3.

Vic không hành trì đúng giới lut làm cho Pht giáo không giữ được giá trị trong sch vốn có của mình. Đây là mt pháp nn chính từ trong ni bmà Pht giáo Việt Nam vp phi. Tổ sư đề cao vai trò của giới lut, xác quyết li nền tng của Pht giáo là phi ly giới lut làm lẽ sng. Có như vy, Tăng đoàn mới vững chắc, các vị Tỳ-kheo mới có sự bảo hộ làm cho tam nghiệp thanh tịnh. Đây mới là con đường chn hưng Pht giáo n định nht.

2.  Xây dựng li hình nh Pht Tăng xưa


Vi chí nguyn Ni truyn Thích-ca Chánh pháp, Tsư đã quyết chí đi theo con đường truyn thng mà Đức Thế Tôn đã vạch ra, noi gương Pht Tăng a sng đời phm hnh của mt du phương Kht sĩ.

Trong quyển Tông go, Tổ dy: Đo Pht ngày nay không còn cao quý, là bởi Tăng-già suy kém, vt cht thnh hành. Đo Pht ri đây sẽ gia nhp bng thng vtheo thế sự o các ngoi go kc; Pht Thích Ca sẽ không còn hình bng tiếng tăm nữa. Xem ngó li nơi giữa chánh điện ca ngôi chùa ngày nay, ngôi chùa nguy nga lộng ly, mà
  1.  
  1. Tổ sư Minh Đăng Quang, Chơn lý, tp II, Tông go, Nxb. Tôn go, Hà Nội, 2009, tr.111-112.
  2. Tổ sư Minh Đăng Quang, Lut nghi Kht sĩ, Nxb. Tôn go, Hà Nội.
 


chng cmt pháp lý, ích lợi dy đời vì tín đ, vì Tông go, vì số đông thp dưới, các sư làm người thủ tự cho tín đ, đâu crnh rang dy đạo, nói pháp; vì mun cho đông người lui tới, nên phi bày ra sự th phượng tượng ct đđy; tiên Pht hi đồng, quthn htrđthứ; vì tín đbày ra sự tín ngưỡng, chít klo tu học tìm đạo4.

Tuy nhiên, từ ngun sui tâm linh này, Tổ sư tiếp tục khơi thông ngun mch, thun duyên hành đạo trong cng đng dân tc Việt, để khai sáng ra Hphái Kht sĩ Việt Nam. Nghĩa là mặc dù cách tu hc theo li Kht sĩ đã có từ thời Pht Thích-ca còn ti thế, nhưng trong cách tu hc của Hphái do Tổ sư sáng lp vn có mt sắc thái Pht giáo đặc thù, biệt truyền ti Việt Nam.

Vmục đích của sự tu tp theo li Kht sĩ, Tổ sư gii thích đi ý: Sự xin ăn không phi là hèn kém, chng qua vic y nhắc nhngười tu hành phi biết nhn nhục và chu đựng những thử thách, để lòng tự ái, dục vọng... chóng tiêu dn. Đng thời qua đó, nó còn giúp người tu luyện trí, tạo cho mình những niềm lạc quan siêu thoát hơn. Vphn người bố thí, qua hình nh của người Kht sĩ, hsẽ hiểu được phn nào là an vui thanh sch, là trm luân khi” để sớm thức tỉnh, tìm đến con đường gii thoát phiền mun. Tóm li, đi với người tu, nếu không làm Kht sĩ” để vừa hóa trai, vừa tu hc thì không dễ gì đt được đạo quả vô thượng.

Ý nghĩa của Kht sĩ li được lý gii như sau: Kht là xin, sĩ là học. Xin ri li cho, học ri li dy. Xin phm thực đnuôi thân gitm, cho sự thiện lành phước đức đbo giữ sự sống dài lâu. Hc bng cách thu thp ở khp nơi, rút ta, ri chli cho người. Cái xin, cái cho, cái học, cái dy... tựa ncác pháp nương sanh, mra con đường xán ln cho tt cvề sau tiến bước. Con đường y kêu là Đo” (Chơn lKht sĩ).

Cụ thể là dù ở nơi nào, trước đây mi sáng các đệ tử theo Hphái Kht sĩ đu trn, chân đt khoác y ôm bát đi hóa duyên, đến giờ trưa Ngọ tìm nơi vng vẻ thọ thực, và bui chiều thuyết ging ti các nơi đông dân cư... với phương châm hành đạo do Tổ sư đề ra:

 
  1.  
  1. Chơn l, tp II, Tông go, tr. 106 – 107.
 


Nên tập sống chung tu học Cái sống là phi sống chung, Cái biết là phi học chung, Cái linh là phi tu chung”.
(Chơn lHòa bình”)

Sng chung tu hc để nung đúc, rèn luyện, tăng trưởng cái sng, cái biết, cái linh. Đó chính là cụ thhóa tinh thn tam t, lục hòa mà cPht đã dy từ ngàn xưa. Đng thi, Tổ sư cũng khuyến kch các cư sĩ ti gia tích cực gn bó trong cuc sng, cng chung xây dựng mt cõi đời đạo đức, mt cuc sng an vui hnh phúc ngay ti thế gian này bng cách:

Mi người phi biết chữ, Mi người phi thuộc giới, Mi người phi tránh ác, Mi người phi học đạo”.
(Chơn lCư sĩ ”)

3. Xây dựng đời sống Tứ y pháp


Trong quyển Chơn lChánh pháp, Tổ sư đưa ra câu hi: Cái gì là chánh pháp ca cPht?Ngài trả lời: Tứ y pháp là chánh pháp ca cPht mười phương ba đi”.5

Chánh pháp không phi là sự tu chứng của phàm phu mà chỉ có hàng Pht Thánh mới có thể thu đt được. Pháp này không thể do sự hc hành hay nghiên cứu mà phát sanh. Vì vy, những người tuyên dương giáo pháp mà không có sở đắc thì không ai dám xác định đây là Chánh pháp tht sự.


Khi xưa, thái tử Tt-đt-đa có trí tuệ hơn người, Ngài đã hc tp hết tt cả các kiến thức tôn giáo thời by giờ và ứng dng hành trì

5. Chơn l, tp II, Chánh pháp, tr. 7.
 


trong thời gian xut gia. Vy mà, bỏ 6 năm tu tp, nhưng vn không đt kết quả, bởi vì các hc thuyết đương thời không phi là chánh pháp đưa đến yểm ly, đon diệt, chứng đắc Niết-bàn. Cui cng, Ngài tự mình tìm ra con đường Trung đạo, chứng quả Toàn giác sau 49 ngày thiền định dưới ci Bồ-đ.

Trong ln chuyển pháp luân đu tiên, Đức Thế Tôn đã dy về li tu này cho 5 anh em Kiều-trn-như và trở thành lời xác chứng cho ngun Chánh pháp cao thượng phi đy đủ hai góc độ pháp hc và pháp hành. Đó là pháp tu Trung đạo trước khi Ngài dy về Tứ diệu đế: Hỡi này c Tỳ-kheo, chai cực đoan không đưa đến đon tn khđau. Sự dduôi trong dc lạc là thp hèn, thô bỉ, phàm tc, không xứng phm hnh ca bậc Thánh nhơn, và vô ích. Sự thiết tha gn btrong li tu khhnh là đau kh, không xứng phm hnh ca bậc Thánh nhơn, và vô ích. Từ bchai cực đoan y, Như Lai đã chứng ngộ con đường Trung đo, là con đường đem li nhãn quan và tri kiến đưa đến an tnh, trí tucao siêu, gc ngộ và Niết-bàn6.

Trên bước đường tm sư hc đạo, Tsư Minh Đăng Quang đã hc tp và thực hành lời dy này. Sau khi thành Tkhai sơn Hphái Kht sĩ, Ngài đã cthể hóa con đường Trung đạo bng hnh tu Tứ y pháp.

Tổ vạch rõ sự khhnh ép xác của ngoi đạo dựa trên ý ngmun đon nghiệp qkhứ nên hy sinh đời sng bng cách đọa đày cơ th. Hmong cu đời sng tương lai hnh phúc với phương pháp tự hành hạ xác thân bng 4 cách:
  1. Nhịn đói không ăn.
 
  1. Lõa thkhông mặc qun áo.
 
  1. Phơi nng dm mưa giữa khong trống.
 
  1. Đau liều mng không uống thuc7.

Những người tu theo đường li này tuy không tham đm vt
  1.  
  1. Kinh Chuyển Pháp Luân, Tương Ưng Bộ Kinh.
  2. Chơn l, tp II, Chánh pháp, tr. 9.
 


cht nhưng sự tu hành li vô cng lch lạc. Dcho họ có sanh lên cõi trời cũng sẽ có ngày sa đọa.

Ngược li với li khhnh là 4 pháp dung dưỡng:
  1. Ăn nhiều bữa, nhiều món, chp vngon.
 
  1. Mc áo qun, cng diện đthứ.
 
  1. nhà ngói, lu đài, xe cộ sang trọng.
 
  1. Không đau mà trữ thuc uống, bổ dưỡng luôn luôn8.

Hng này thọ hưởng dục lạc mt cách không điều độ làm cho cơ thsung mãn sa vào khuynh hướng hưởng thdục lạc. Từ đó, hkhông biết tiết chế trong tứ vt dng, tâm tham sẽ dn dt họ tạo nghiệp và đây là nhân của luân hi sanh tử.

Sau khi phân định 4 pháp thái quá và 4 pháp bt cp, Tổ sư xác quyết con đường Tứ y pháp là li Trung đạo đưa đến gii thoát.
    1. Ăn

Người tu xut gia: chăn đồ xin mà thôi, nng ngày hi, thuyết pháp, đc giới bn thì được ăn ti chùa9.

Sng trên đời, con người có thể thiếu đờn ca, hát xướng, các cách vui chơi tiêu khiển nhưng không thể thiếu cái ăn, sự mặc, chỗ ở và thuc trị bệnh. Bn món này là nhu yếu phm để con người tn ti. Trong quyển Chơn lĂn và sng, Tổ sư nói về vn đề này rt rõ ràng và chi tiết.

Ăn vừa là nhu cu sng vừa là bn năng hưởng th. Cho nên, từ ăn người ta có thể gây ra biết bao ti li và cũng từ ăn người ta có thể thực hành pháp tu rt ráo. Ăn đúng pháp sgiúp người xut gia thực hành Chánh hnh đưa đến an tịnh thân tâm.


Duyên theo vic ăn ung, bt thiện pháp luôn có điều kiện sanh khởi. Chúng sanh khởi như thế nào? Khi chúng ta đói bng cn o,

8. Sđd, tr. 10-11.
  1. Sđd, tr. 7.
 


ngồi bên bát m ta đưa o miệng những mung m có đy đmv, vgiác làm cho tâm ta tha tch, hoan lc nên bnô ltrong sthèm khát. Đây là lúc tâm tham sinh khởi. Nếu có miếng ăn cay, đắnglàm cho ta bực bội, khó chu thì đây là tâm sân. Còn có những miếng ăn mà ta không phân định rõ ràng stiếp c vi nó, nhai mà không ghi nhn được vgiác như thế nào thì đây là trạng thái của tâm si.

Người đời luôn ăn ung trong tham sân si, họ mưu cu cho vn đề này cũng bng tam đc phiền não nên cả đời bị ti ct trong chúng. Người tu xut gia, khi ăn phi duy trì chánh niệm. Phép ăn của người Kht sĩ là phép ăn hòa chúng. Tt cả phi ngồi ngay thng, chú ý theo dõi từng mung cơm đều đn và ghi nhn tâm sinh khởi như thế nào. Nếu tâm y ưa thích hay bực bi phi nhiếp phục và xả ly chúng. Phi biết rằng thọ thực là duy trì mng sng để hoàn thành phm hnh của bậc Thánh. Do thường suy niệm vmục đích này nên người xut gia chánh niệm đon trừ tham sân si trong khi thọ thực.
    1. Mặc

Người tu xut gia chỉ lượm vi bmà đâu li thành áo nng c ai cúng vi, đồ cũ thì được mặc10.

Trong 13 hnh đu-đà có mt hnh là trọn đời mặc y vá chứ không nhn y may sn của thí ch. Tinh thn xả ly của chúng ta là có người cúng thì nhn, không cúng thì thôi. Chúng ta không tìm cu y áo nơi thí ch. Chúng ta không nên sinh tâm ưa thích hay oán ghét duyên theo y tt hay xu do hmang li. Người đời dng vi vóc cao sang tô điểm xác thân tứ đại. Người tu dng vi đâu li thành áo để tm che thân, thể hiện sự an nhiên vượt thoát cuc đời.

Mt thuở nkhi Pht còn ti thế, A-nan là thị giả hu Pht. Có mt thí chủ sinh niềm tin đi với A-nan nên dệt mt chiếc y rt đẹp cúng dường Ngài. Ngài A-nan tưởng nhớ đến Tôn giả Đi Ca-diếp nên đem chiếc y cúng dường vị Đệ nht hnh Đu-đà. Nhn y xong, Tôn giả Đi Ca-diếp tưởng nhớ Đức Thế Tôn nên dâng y cúng dường lên Pht. Đức Thế Tôn nhn y, bèn cởi y cũ đang mặc trao li cho Tôn
  1.  
  1. Sđd, tr. 7.
 


giả Ca-diếp và hi rằng: Hàng Tỳ-kheo đp y vì mc đích gì?. Tôn giả bch rằng: “Bch Thế Tôn, vì hai mc đích: Thứ nht là được hiện ti lạc trú, thứ hai vì lợi ích cho chúng sanh trong tương lai”.

Cuc đời đau khổ vì ăn ngon mặc đẹp. Chiếc y phn tảo nhà Pht tuy không đẹp đẽ nhưng li không có tính cht đau khcủa cuc đời. Mặc y y vào người, thân tâm người xut gia hoàn toàn định tĩnh, gánh nng của ci vt cht hoàn toàn trút b. Hàng ngày không cn phi bn bu mưu toan làm các vic để có miếng ăn, cái mặc nữa. Thân tâm được nhẹ nhàng đưa đến xut ly thế gian và đắc an lạc trong hiện ti. Vn đề khác nữa là khi mặc y, chúng ta phi nhớ tưởng đến chúng sanh. Hàng xut gia là rung phước cho cuc đời gieo trồng công đức. Mi miếng y vá có hình nh như là từng thửa rung trên cánh đng. Chúng ta thọ nhn y này để người cúng thọ hưởng được phn nào phước báu tu hành của hàng Tăng bo.

Thế nên, chiếc y chúng ta mặc phi thể hiện sự thanh bn, đơn gin chứ không phi bng gm vóc, lụa là, sang trọng. Mt ln n, Đức Thế Tôn đến thọ trai ở nhà mt thí chủ theo lời thỉnh cu của h. Gia chủ đem vi Kasi sang trọng tri dài từ sân nhà ông đến sut con đường mà Pht và cTăng đi đến. Khi thy gia chủ tri vi như vy, Đức Thế Tôn đã dừng li không đi. Tôn giả A-nan hiểu ý Pht nên bảo gia chủ dẹp ct những thước vi đó.

Chúng ta thy rằng Đức Thế Tôn có đủ oai đức để đi trên những tm vi Kasi êm du nhưng vì làm gương cho đi chúng và vì hnh xả ly nên Ngài chỉ đi trên mt đt. Khi đi trước vt dng, tâm ta luôn dễ bsa vào sự nguy hiểm của phiền não tham, sân, si. Nếu không khéo nm giữ tâm, các phiền não này ràng buc chúng ta, làm chướng ngi rt lớn cho con đường tu hc.
    1. Chỗ ở

Người tu xut gia chngqua đêm dưới gc cây nng cai cúng lều, am nhmt cửa thì được ở11.
 
  1.  
  1. Sđd, tr. 7.
 


Kinh Venaga trong Tăng Chi Bộ Kinh chép sự vic liên quan vchỗ ở của người xut gia như thế này: Có mt Bà-la-môn đến gp Pht và giới thiệu vchiếc giường rt giá trị của mình. Chân giường làm bng vàng bạc. Nệm bng gm lụa, có màn che mượt mà và những chiếc gối lng ly. Bà-la-môn hi Pht: Sa-môn Go-ta-ma có được cái giường đp nvy không?. Pht đáp rằng: “Những chiếc giường nvy qutht qugiá và khtìm trên đời. Nng dù chúng qugiá thế nào vn không phù hợp với đời sống phm hnh ca Như Lai”.

Ngang qua đó, Ngài li dy có 3 loi giường cao quý nht:
  • Có những chiếc giường cao, giường lớn của hàng chư Thiên. Nếu ai thực hành và chứng đắc tứ thiền, khi vị y đứng, ngồi, nm đều là đang ở cnh giới chư Thiên.
 
  • Có những chiếc giường cao, giường lớn của hàng Phm Thiên. Nếu thực hành và chứng đt tứ vô lượng tâm, thì nơi vị y đứng, ngồi, nm đều là cnh giới của Phm Thiên.
 
  • Có những chiếc giường cao, giường lớn của bậc Thánh. Đó là người tu tp đon diệt tham sân si, thì nơi vị y đứng, ngồi, nm đều là cnh giới của bậc Thánh.

Khi ở mt txứ, chúng ta thường chp trụ o ch. Do đó, rt có thể ta xut gia ra khi nhà thế tc này nng li nh mắc o nhà thế tc khác. Nếu gia đình là gánh nng ca người tu thì ni chùa hay mt đạo tràng nào đó cũng là mt gánh nng không kém. Do vy, Tsư dy chúng ta chnên nghdưới gốc cây và không được nghai ln đtránh smến tiếc. Ngày nay, chúng ta đều ngủ trên giường chõng kđã hơn người a rt nhiều. Cn phi kiểm soát tâm đừng để say đm vchỗ ở mà chuốc thêm gánh nng trên con đường giác ng.

Kinh li chép rằng: Mt hôm, Thế Tôn trú ở mt khu rừng vng, có mt đoàn hoàng t du ngon o i Thế Tôn đang thiền định. Hđi ngang qua chỗ Thế Tôn ngồi. Nhn thy Thế Tôn ngồi dưới gốc cây, mặc y phn to, tài sn chcó mt bình bát đt đmt bên. Họ thy tht là thương tâm, khnão và than thở thay cho Pht. Cuộc đời ca các hoàng tnày sng trên nhung la, giường mà hngrt cao sang
 


và có những mnữ hu hạ, thế mà họ thy còn ca toi ý. Đức Thế Tôn dy rằng: Tuy c hoàng tsống trên những chiếc giường quý giá nng tâm luôn lo s và bt an. Dù cuộc sống cđy đndc vn không bao giđược an lc. Còn Như Lai dù ngi dưới gc cây, không hcchút tài sn nào nng li là người hnh phúc nht trên cuộc đời”.

Các dục khi chưa được đon trừ, chúng ta không thể có được sự an lạc của bậc Thánh. Sự an lạc này không thdng tiền bạc mua sm hay dng tri thức để tìm kiếm, chúng đến mt cách tự nhiên qua sự hành trì Chánh pháp, đon diệt nhiễm ô phiền não nơi tam nghiệp thân khu ý.

Trong Kinh Pháp Cú, Đức Pht dy: “Ái dc sinh ra sợ,
Ái dc sinh ra lo, Người dứt sch ái dc, Không còn lo sợ gì.
    1. Thuc trị bnh

Người tu xut gia chdùng phân uế ca bò mà làm thuc trong khi đau nng cai cúng thuc, đường, du thì được dùng12.

Thi Pht ti thế, thuốc trị bnh chlà đường, sữa hay mt. Mt số Tỳ-kheo đdành những món này lâu ngày bhư nên Pht cm ct chứa vt thực cách đêm. Ngày xưa, có những đàn bò n núi Tuyết ăn c. Món cđó khi o bng bò qua đường tu hcó tác dng trị mt số bnh thông thường nên hàng xut gia dng làm thuốc trị bnh. Ngày nay, liệu pháp này không còn sdng nữa. Vi sự tiến bvượt bc ca y khoa hiện đại, tt ccác chứng bnh đều có thuốc chữa theo Đông y và Tây y. Là người xut gia, khi lâm bnh chúng ta cn phi chữa trị phhp. Không nên chp thân mà dng thuốc quá cao sang hay sdng thuốc blàm cho cơ thsung mãn. Việc dng thuốc cũng như việc thọ trai, không nên tm cu dc lc trong đó, mà phi tâm
  1.  
  1. Sđd, tr. 7.
 


niệm dng chúng đduy trì mng sng, tu hành phm hnh.

Trong Kinh Không Uế nhiễm” thuc Trung Bộ kinh, Đức Pht dy rằng: Có Tỳ-kheo sng trong rừng, chỉ đi kht thực, mặc y phn tảo, ở dưới gc cây, ăn đồ ăn trong bát nhưng nếu bt thiện pháp trong tâm chưa đon trừ thì vị Tỳ-kheo y không đáng được tôn kính. Vì như mt cái bát bng đng, bên ngoài bóng loáng, đẹp đẽ nhưng bên trong đựng đy thức ăn hôi thiu, nhơ uế. Đem cái bát này để giữa chợ, mi người ai cũng thích thú vngoài của nó nên xúm li chiêm ngưỡng. Nhưng khi giở bát ai cũng chán chê, dcho người đói cũng không thèm ăn đồ ô uế đó. Ngược li, có vị Tỳ-kheo sng ở trong làng, ăn thức ăn do thí chcúng, y áo do thí chủ dệt, am cc do thí chủ xây ct nhưng trong tâm bt thiện pháp đã được đon diệt, vị này đáng được cung kính, gn gũi và hc pháp. Cũng như mt cái bát bng đng bên ngoài bóng loáng, bên trong đựng thức ăn thơm ngon, tinh sch. Đem cái bát này để giữa chmi người thích thú đến xem. Khi giở bát hương thơm đồ ăn bên trong tỏa ra ngào ngt đến người đang no cũng mun ăn thêm.

Như vy, vn đề thdng vt cht dù từ miếng ăn cho đến thuc trị bệnh, chúng ta đều phi quán chiếu và kiểm soát tâm. Phi biết sử dng tứ vt dng hỗ trcho sự tu tp, chứ đừng chìm đm trong nó.

4. Dung hợp hài hòa Nam tông và Bắc tông


Việt Nam là mt đt nước hữu duyên với Pht go. Phi nói rằng trên thế giới không có mt đt nước nào Pht giáo đa dng như ở Việt Nam. Trong khi ở những nước Đông Nam Á như Thái Lan, Lào, Campuchia, Miến Điện… chỉ có Pht giáo Nam tông, những nước như Trung Hoa, Nht Bn, Triều Tiên, Hàn Quc… có Pht giáo Bắc tông và ở Tây Tng, Mông Cổ theo Pht giáo Mt tông thì ở Việt Nam có tt cả các hphái này.

Tuy nhiên, trong scác hphái lớn du nhp o Việt Nam có thchia ra 2 dòng là Bc truyn và Nam truyền. Trong sgp gỡ này, Tsư Minh Đăng Quang đã dng trí tucủa nh dung hp chai hphái đcht lc tinh hoa mà sáng lp ra Đo Pht Kht Sĩ Việt Nam. Vnh thức, T
 


sư đp y, mang bát ging Nam truyền. Vgiới lut, Tsư thtrì 250 giới thuc Bc truyền. Vquan điểm giáo lý, Ngài sdng chai ngun Nam truyn và Bc truyền. Các bn kinh Đi thừa và kinh tng Nikaya đều được Tsư vn dng đđưa o các bài ging dy trong Chơn lý.

Từ những nghĩa lý đó, chúng ta thy rằng Tổ sư đã thu tỏ sự giác ngnên Ngài có thể sử dng mi phương tiện để hành trì và truyền đạo. Mục đích là mang đến cho hành giả con đường tu hành đúng Chánh pháp. Như vy, dbt cứ hphái nào đi chăng nữa cũng có thgiúp cho chúng ta có cái biết chân chính. Cái biết này Tgọi là giác chơn, là mục tiêu ti hu đi vào đạo quả. Tổ đã dy: Pht là gc chơn, là cái biết tht tự nhiên, là nghĩa lý ca tiếng Pht, mc đích ca cái biết nơi nh, chkhông phi mê tín mquáng, mà tự trói nh trong chữ Pht, tiếng đo, hay tông go riêng biệt13.

Trong quyn Chơn lKht sĩ, Tsư chdy vgiáo pháp Kht như sau: Kht sĩ là học trò khđi xin ăn đtu học. Kht sĩ là cái sng ca chơn lvõ trmà tt cchúng sanh đều là học trò cthy, bi chúng sanh là cái biết, tca biết đến đang biết, và cái biết shoàn toàn ngơi ngh. Các sthy nghe hiu đđem li cho cái biết, biết quí báu hơn không biết, cbiết mi hết mê lm chp trt, khsnn tai. Tnhđến ln tthp đến cao ttrước đến sau, tchiu đến sáng, mi lúc cái biết càng phân bit, làm vic ch trữ, ln to và đi tới, làm cho chúng sanh càng ngày càng được thêm shọc hành. Chúng sanh đây là căn thân và chthức (là người nhn biết) cho nên cái biết chcn phi sng, lớn, ăn, vui, yên và còn mãi mãi. Chính biết là ta, là mc đích ca chúng sanh, là chơn lca cuộc đời, là tinh ba ca võ tr, chính chơn lhay triết lmi là môn học thực tế, li ích đi ngay đến Niết-bàn, kêu là đo, là shọc không hai, là cái học ca ta, nó ở với ta, nuôi sng cái ta, nlàm ta vy14.

Đây là đon giới thiệu cho tinh thn Kht sĩ, là tu tp để đi vào tánh giác ngmà Tổ sư gọi là cái biết. Đức tánh giác ng này không nm ở giáo nghĩa Tiểu thừa hay Đi thừa mà nm ở chtu tp để đt ng, đắc Niết-bàn.
  1.  
  1. Chơn l, tp III, “Đạo Pht Kht Sĩ, tr. 427.
  2. Chơn l, tp I, Kht sĩ, tr. 259-260.
 


Giáo lý Kht sĩ là sự sng chung của nhân loi dựa trên tinh thn xin ăn tu hc. Tinh thn xin đó Tổ sư dy rằng: Có hai thứ xin: Xin vt cht (vn vt) đnuôi thân, xin tinh thn (c pháp) đnuôi trí15.

Đứng trên lp trường dung hợp hai trường phái Bắc tông và Nam tông để sáng lp ra Đạo Pht Kht , Tổ sư đã nhn mnh trong quyển Chơn lCư sĩnhư sau: Chúng tôi du Tăng kht thực, sống với lchung ca tt cchúng sanh, theo chơn lvõ trụ, không phân chia chủng tộc, màu da, phái môn, giai cp, bn phú, sang hèn, c, cây, thú, người, Tăng, Pht. Mc đích ca Chánh đng Chánh giác quyết đến no gii thoát hoàn toàn, không vì nhhp mà đem nh vào sự trói buc phiền não. Vy nên, theo giới lut Pht xưa, nhà Tăng không ở mt chthâu nhn tín đbn đo riêng, mà phi vân du khp nơi cùng xứ, vừa hc với tt cmi người, vừa đem sự hc ca nh, giúp ích cho ai ny trao đi ln nhau, đcho sự hc nhkinh nghiệm trong chhành, mà chng được đđy toàn gc”.
  1. KT LUẬN

Đạo Pht ra đời ti n Độ cách nay 26 thế k, được truyền thừa khp nơi trên toàn thế giới cho đến tn ngày nay, đã đi vào lòng người mt cách hài hòa bởi nét đẹp nhân bn của nó. Đạo Pht không những được xem là nơi nương tựa tâm linh cho những người hướng về đời sng xả ly, mà còn là mt nếp sng đạo đức cho toàn xã hi loài người. Nếp sng đó là mt mô hình gn kết có tchức theo mt hình mu đy trí tuệ mà Đức Pht đã xây dựng ngay từ khi Tăng đoàn mới thành lp. Qua bao thế hTăng-già, mô hình y vn được duy trì như mt nét căn bn không thể thiếu của đời sng xut gia, và đưa đến đoàn kết, hòa hp, thanh tịnh, mang giá trị vượt không gian và thời gian. DTăng đoàn trong thời đi nào, trú ngụ ở bt kỳ trú xứ nào cũng có tháp dng tu tp để cng nhau đi đến giác ng, gii thoát.

Giáo hi Pht giáo Việt Nam là kết tinh của Pht giáo từ khi du nhp cho đến ngày nay. Tri qua biết bao biến đi thăng trm theo thời cuc, lịch sử Pht giáo Việt Nam vn tn ti và phát triển. Trong
  1.  
  1. Sđd, tr. 264.



đó, Đức Tổ sư Minh Đăng Quang đã đóng góp vô cng to lớn trong công cuc chn hưng Pht giáo Việt Nam. Tổ sư đã nêu cao ngọn đèn chơn lý với cnguyện ni truyền Thích-ca Chánh pháp. Ngài đã góp thêm mt trang sử mới cho Pht giáo Việt Nam. Hình nh nhà sư đu trn, chân không vào m kht thực đã làm sng li hình nh của Đức Pht và Thánh chúng từ ngàn xưa.

Dù đã vng bóng 60 năm, nhưng những đóng góp của Ngài cho Pht giáo Việt Nam nói chung và cho Hphái nói riêng vn giữ nguyên giá tr. Ngài đã khai mở đạo pháp, khuyên nhắc chúng ta phi biết phát tâm tu Pht để thành tựu quả vị Pht. Ngài dy rằng: Phật là chđến ca tt cchúng sanh, cũng ntoàn gc là chđến ca tt cả sự hc: chơn nlà chđến ca tt cphước đức thiện lành, từ bi, trí hu(Chơn lCPht”).


 

***


TÀI LIỆU THAM KHO
  1. Tsư Minh Đăng Quang, Chơn l, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2009.
 
  1. H.W. Schumann (Trn Phương Lan dch), Đức Pht lch sử, Viện Nghiên cứu Pht hc Việt Nam n hành, TP. HChí Minh, 1997.
 
  1. Nguyễn Lang, Việt Nam Pht go sử lun, Nxb. Văn hc, Hà Ni, 2008.
 
  1. Lê Mnh Thát, Lch sử Pht go Vit Nam, Nxb. Thun Hóa, TP. Huế, 1999.
 
  1. Thích Giác Duyên, Tìm hiểu vHphái Kht sĩ, Nxb. Phương Đông, 2010.
 
  1. Nguyễn Như Ý (chbiên), Đi từ điển tiếng Việt, Nxb. Văn hóa Thông tin, TP. HCM, 1999.
 
  1. Đoàn Trung Còn, Tăng đnhà Pht, Nxb. Tôn go, Hà Ni, 2004.
 
  1. Các tài liệu từ sách báo và Internet.
  1.  
  1.  
  1.  
  1.  
  1.  
  1.  
  1.  
  1.  

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây