46. NGHI LỄ KHẤT SĨ VÀ TRUYỀN THỐNG PHẬT GIÁO

Chủ nhật - 09/09/2018 11:57
NGHI LỄ KHẤT SĨ VÀ TRUYỀN THỐNG PHẬT GIÁO
ThS. Nguyễn Trung Toàn
Giám đốc Công ty Du lịch Hành hương Zenflower Travel Giảng viên Khoa Văn hóa Du lịch, Trường ĐH Văn hóa TP.HCM
Giảng viên môn Di tích lịch sử chùa, Trường Trung học Nghiệp vụ DL & KS Saigontourist
Mi tôn giáo đều có các hình thức nghi lễ riêng biệt để thể hiện lòng tôn kính với vị giáo chcủa tôn giáo đó. Đạo Pht ra đời cách đây hơn 2.600 năm không phi đt nng về hình thức nghi l, nhưng thông qua nghi lễ của Pht go, chúng sanh hoàn thiện được chính mình dựa trên các qui tắc ứng xử trong đời sng thiền môn cũng như đời sng hng ngày của người Pht tử. Mt tôn giáo mà thiếu vng đi nghi lễ thì tôn giáo đó chỉ là mt hc thuyết. Nghi lễ còn giúp người tín đồ hiểu sâu sắc hơn và dễ dàng tiếp nhn tôn giáo với mục đích sng của chính mình. Đạo Pht du nhp vào Việt Nam với nhiều tông phái khác nhau như Thiền tông, Tịnh độ tông, Mt tông, Kht sĩ, Hoa Nghiêm tông… Mi tông phái Pht giáo ti Việt Nam đều có các nghi lễ mang sắc thái riêng biệt tạo nên sự phong phú trong ni nhà Pht giáo Việt Nam nói chung. Nghi lễ của Đạo Pht Kht Sĩ Việt Nam là mt điển hình tiêu biểu, là sự kết hợp hài hòa giữa truyền thng Pht giáo Việt Nam và truyền thng Pht giáo Nguyên thy n Đ.

Để hiểu rõ hơn vnghi lễ của Đạo Pht Kht Sĩ Việt Nam, chúng ta ln lượt tìm hiểu về lễ đường, lễ phục, lễ tng, lễ khí và lễ nghi thông qua giáo hun từ Đức Tổ sư Minh Đăng Quang.
 


Đi với trú xứ của Hphái Kht sĩ: Hu hết đều gọi chung là tịnh xá. Các tịnh xá có chung mt hệ thng bao gồm chánh điện, nhà Tăng, ging đường, trai đường…. Tnh xá là từ được dịch từ Phn ngữ Vihàra, vốn là mt trú xứ thanh u, tịch tĩnh, là nơi ở của các vị Sa- môn đang tu tp giác ng, gii thoát, không phân biệt là truyền thng nào. Trong lịch sử Pht go, sau khi thành đạo, Đức Pht Thích-ca đã quay trở li kinh thành Vương Xá để hóa độ cho đức vua Tn-bà-sa- la theo như lời hứa trước đó. Sau khi quy y và cúng dường đến Pht, đức vua có tâm nguyện mun cúng dường nơi ở cho Pht và Tăng đoàn. Đức Pht dy: Nơi thích hợp cho Như Lai và Tăng đoàn là mt nơi vng vẻ, không xa mà cũng không gn thành thị, đcho ai mun, cthđến mt ch ddàng. Mt nơi mát mẻ, ban ngày không đông đo n ào, ban đêm yên tĩnh và n đáo, nơi y sẽ thích hp”. Trúc Lâm tịnh xá ra đời và là tịnh xá đu tiên được thiết lp để cúng dường đến Đức Thế Tôn và Tăng-già.

Trong Từ điển Pht hc (Ban Biên dịch Đạo Uyển, Nxb. Tôn giáo 2006) có định nghĩa Tnh là trong sch, sch s, thanh khiết, không nhiễm ô, không phiền não, không còn sinh khởi vọng tưởng; là trú xứ, nơi ở. Tổ sư Minh Đăng Quang sử dng từ tnh xá dựa trên tinh thn truyền thng của Pht giáo từ thời Pht còn ti thế. Chánh điện của Hphái Kht sĩ Việt Nam có hình bát giác đã trở thành nét kiến trúc đặc trưng bậc nht trong kiến trúc chùa chiền ở Việt Nam. Đây là lễ đường mang tính sáng tạo mà Tổ sư Minh Đăng Quang đã kết hợp dựa trên giáo lý căn bn của đạo Pht cng với đạo lý văn hóa truyền thng của người Việt Nam. Mặc du Đức Tổ sư có mt thời gian tu tp và hc đạo ti Campuchia, nhưng Ngài li không hề rp khuôn theo li kiến trúc chánh điện của các nước Pht giáo Nam truyền hoặc các chánh điện của đng bào Khmer Nam B. Ngài cũng không bnh hưởng nhiều từ truyền thng chánh điện của Pht giáo Bắc truyền. Thông qua kiến trúc chánh điện trong lễ đường, ta hiểu sâu hơn về ý nghĩa giáo pháp mà Tổ sư Minh Đăng Quang đã kết hợp giữa truyền thng Pht giáo Nguyên thy và truyền thng văn hóa Việt Nam. Lễ đường chánh điện của Hphái Kht sĩ Việt Nam luôn theo mô hình bát giác, tượng trưng cho Bát chánh đạo, mái lu phía
 


trên chánh điện hình tứ giác tượng trưng cho Tứ diệu đế. Bát chánh đạo là con đường Thánh đạo tám ngành và Tứ diệu đế là bn chân lý cao thượng, là những giáo lý căn bn mà Đức Thế Tôn chỉ bày cho chúng sanh trong sut cuc đời hong pháp của Ngài, là nền tng của mi giáo pháp xuyên sut trong giáo lý của đạo Pht. Đặc biệt, bn trụ ct lớn trong chánh điện là sự kết hợp hài hòa trong kiến trúc tứ trụ nhà ba gian hai chái của người Việt ở Nam B.

Trong văn hóa truyền thng nhà ba gian hai chái ở Nam B, gian chính giữa có tứ trụ là nơi thiêng liêng và quan trọng, là nơi tôn trí những gì quan trọng nht của gia đình như bàn thPht hay bàn thgia tiên. Tứ trụ là phn chng đỡ quan trọng nht để bảo vtoàn bkết cu của ni nhà ba gian hai chái, nếu mt trong tứ trnày suy yếu hay đổ gãy sẽ làm cho toàn bộ căn nhà suy yếu. Bn ct lớn trong chánh điện của Hphái Kht sĩ Việt Nam tượng trưng cho tứ chúng: Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc (cn sự nam) và Ưu-bà-di (cn sự nữ) cng nhau nâng đỡ ni nhà Pht Pháp, che ch hn dân tc. Thiếu mt trong các ct này, ni nhà Pht pháp sblung lay. Thiếu mt trong bn chúng, Pht đạo khó phát huy, chúng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni hành pháp thì chúng Ưu-bà-di, Ưu-bà-tắc hpháp. Tt cả mi người con Pht đứng dưới mái nhà Pht pháp này đều luôn hnh phúc và vinh dự vì mình là mt trong tứ chúng của Pht. Bt cứ mt chúng nào trong tứ chúng mà thiếu đi sự tu hc và trách nhiệm hong pháp sẽ làm cho ni nhà Pht pháp sp đổ bt cứ lúc nào, như Đức Pht đã dy trong Kinh Pháp cú: Hnh phúc thay tứ chúng đồng tu” (ksố 194).

Phi chăng Đức Tổ sư đã thnghiệm những lời dy của bậc thy trời người vbn thứ hnh phúc chân tht nht thế gian thông qua kiến trúc chánh điện của lễ đường Hphái Kht sĩ, để rồi trong thế giới hi hả, đy phiền mun này, bt cứ thế nhân nào đến với tịnh xá, đi trước chánh điện, hsẽ tìm li được sự an n, bình yên trong tâm hn và chiêm nghiệm thứ hnh phúc chân tht mà Đức Pht đã từng dy. Giữa bn ct lớn trong chánh điện, đó là bệ thờ có ba cp tượng trưng cho Tam Bo, trên bệ thtôn trí bảo tượng Đức Bn-sư Thích-
 


ca. Hình nh Tam Bảo thông qua ba cp bệ thờ được thng nht trong toàn bhệ thng tịnh xá của Hphái Kht sĩ cũng minh chứng cho lời dy của Đức Tổ sư về tm quan trọng và cao quý của Tam Bảo là nơi mà mi chúng sanh đều luôn hướng về nương tựa. Hay thay, ba cp bệ thờ tượng trưng cho Tam Bảo này luôn đt ở vị trí chính giữa của chánh điện và luôn là trái tim của cả khu tịnh xá. Trên nóc của lễ đường đó chính là hoa sen hoặc ngọn đèn chơn lý, biểu trưng cho sự thanh khiết mang sắc thái của tư tưởng Pht pháp bt ly thế gian gc hoặc ngọn đèn chơn lý là biểu trưng của ánh sáng trí tuệ từ Chánh pháp, soi đường chỉ li cho con người hướng đến Chân-Thiện-M.

Tht vy, kiến trúc lễ đường ở chánh điện theo hình bát giác đã tạo nên mt li kiến trúc riêng biệt, không hề nhm ln với bt ktông phong nào của Pht giáo ti Việt Nam. Chúng ta dễ dàng nhn biết được đây chính là trú xứ của Hphái Kht sĩ, là ni tịnh xá, cho dchúng ta chưa nhìn thy bng hiệu của tịnh xá đó tên gì.

Ngoài kiến trúc lễ đường đặc trưng như vy, lễ phục của Pht giáo Kht sĩ Việt Nam cũng có mt nét riêng biệt.

Lphc của Hphái Kht sĩ: Được phân biệt thông qua lễ phục của cTôn đức Tăng Ni và lễ phục của cư sĩ Pht tử ti gia. Đi với cTôn đức Tăng Ni, lễ phục của người xut gia là tam y. Đức Tổ sư Minh Đăng Quang giữ nguyên truyền thng thời Pht còn ti thế, tt cả các vị Tỳ-kheo Kht sĩ đều tuân thủ tam y. Tam y của Kht sĩ là y thượng, y hạ và y trung, dựa trên qui định của Tứ y pháp: “ Nhà sư Kht sĩ phi lượm vi bmà đâu li thành áo, nng cai cúng vi thì được nhn. Tổ sư đã kết hợp màu truyền thng của Pht giáo Bắc truyền cng với truyền thng hoi sắc y ca-sa của Pht giáo Nam truyền tạo nên màu huỳnh y đặc trưng của Hphái Kht sĩ Việt Nam. Ngoài ra, Tổ sư Minh Đăng Quang còn giữ đúng truyền thng của ba đời cPht là kht thực hóa duyên. Do vy, mi nhà sư Kht sĩ đều luôn mang theo mình bình bát. Bát phi được làm bng đt nung đỏ vut tn, đt sao cho đen và tạo mt lớp sáp mng bên ngoài để không còn là giá trị qgiá, và cũng để cho người khác không khởi lòng tham. Y bát là tín vt thiêng liêng của Pht giáo từ thời Đức Thế
 


Tôn còn ti thế. Y bát cũng là sự kế thừa và phát huy giáo pháp của cPht ở đời. Không những thế, y bát còn là rung phước để bá tánh qung kết thiện duyên với đạo Pht, làm lợi ích cho chúng sanh, đem tinh thn rỗng rang, vô quái ngi, xả kỷ lợi tha giáo hóa tha nhân bng hnh từ, bi, h, xả. Cũng căn cứ trong Tứ y pháp “Nhà sư kht thực chăn đồ xin mà thôi,, Đức Tổ sư đã giữ đúng hnh Kht sĩ của ba đời cPht trong truyền thng kht thực độ ng, không ăn phi thời giúp tín tâm tăng trưởng, tt bệnh đy li, với phương châm thiểu dục tri túc. Tuy nhiên, Ngài vn dung hòa qua cách thức ăn chay và tiếp nhn người nữ xut gia theo tinh thn của Pht giáo Bắc truyền nhưng không quên giới lut của truyền thng Nguyên thy là người Kht sĩ không nhn tiền khi đi kht thực, chỉ nhn đủ thức ăn để nuôi thân hành đạo. Vì thực hành hnh khhnh, truyền thng Kht sĩ Việt Nam luôn tạo đời sng thanh cao, nhẹ nhàng, rỗng không, để tiếp nhn những điều mu nhiệm của chơn lý Thế Tôn và bình đẳng với mi chúng sanh cho dhọ là giai cp nào, tng lớp nào trong xã hi.

Lphục của tứ chúng trong Hphái Kht sĩ gin đơn, song toát lên vgii thoát cao cả. Đi với lễ phục của hai chúng ti gia, áo giới dựa trên nền tng của chiếc áo dài truyền thng Nam Bvới sắc phục màu trắng tinh khiết đúng theo truyền thng thời Pht là bch y cư sĩ. Trong Trung A-hàm, Đức Pht có ging bài kinh Ưu-bà-tắc hay còn gọi là Kinh Người Áo Trắng đề cp vic Đức Pht giáo hóa cho người cư sĩ ti gia hộ trì Chánh pháp thông qua vic hóa độ cho nhóm cư sĩ Cp Cô Đc trong vic gìn giữ ngiới: “Này thy Xá-lợi- pht, thy cbiết rằng nếu mt vđệ tử áo trắng đo hnh, biết htrì năm giới pháp và tu tp bn tâm cao đp (tăng thượng tâm) thì cthđt tới rt ddàng và không khkhăn gì khnăng an trú hnh phúc ngay trong hiện ti, và biết chc chn rằng nh sẽ không còn đa lạc vào đa ngc, ngạ qu, bàng sinh và c no ác khác trong tương lai” (Kinh Người áo trắng, Thích Nht Hnh dịch và chú gii, 1992). Đức Pht đã nói rõ tm quan trọng của người cư sĩ Áo Trắng gìn giữ 5 giới cm cng với những hnh phúc có được khi thực hành ngiới và phng sự Tam Bo. Hay thay, còn gì quan trọng hơn đi với người
 


Pht tử ti gia trong vic qui y và thọ trì ngiới. Hình nh chiếc áo giới” theo truyền thng Kht sĩ Việt Nam đã nói lên hết được ý nghĩa của giới lut mà người Pht tử ti gia phi sut đời ghi nhớ và gìn giữ sau khi đã vâng th. Giới lut là thmng của Pht pháp, giới lut còn thì Pht pháp trường tn. Trong đời sng hng ngày, với biết bao sự cám dỗ của vt cht, công vic, danh lợi, người Pht tử mi khi mặc áo giới nghiêm thân lúc đến chùa hay ở nhà lễ Pht, đều hng tâm niệm rằng chúng ta là những người vinh dự được đứng trong hàng ngũ tứ chúng của Pht và thọ nhn giới lut như mt lẽ sng để hoàn thiện chính mình và ngăn ngừa những vic bt thiện có thphát sanh trong đời sng ti gia.

Đức Pht cũng nhn mnh: “Xá-lợi-pht, thy nên ghi nhrằng mt người đệ tử áo trắng nếu thực tp được nthế là đã chm dứt được sự sa đa vào đa ngc, ngạ qu, súc sinh và c đường dữ khác, đã chứng đt được quvTu-đà-hoàn, không còn thi đa vào c ác pháp. Người y chc chn đang đi vno chánh gc và chcn qua li ti đa là by ln nữa trong c cõi trời và người là c th đt tới biên giới ca sự hoàn toàn gii thoát diệt kh(Kinh Người áo trắng, Thích Nht Hnh dịch và chú gii, 1992). Đức Tổ sư Minh Đăng Quang đã dựa trên chun mực đạo đức mà Đức Pht dy cho người cư sĩ áo trắng trong thời Pht còn ti thế để qui định lễ phục của người Pht tử trong tông môn của Hphái Kht sĩ, tht là ý nghĩa thâm sâu và vi diệu.

Không chỉ có lễ đường, lễ phục được Đức Tổ sư Minh Đăng Quang ging dy dựa trên vic dung np các truyền thng Nam truyền và Bắc truyền Pht go, trong lễ tng của Hphái Kht sĩ, Đức Tổ sư tài tình Việt hóa các hình thức tng đc kinh văn giúp người hành trì dễ dàng tiếp nhn và thu hiểu sâu sắc những lời dy của cPht, cT.

Ltng của Hphái Kht sĩ: Dựa trên vic tng niệm kinh điển hoàn toàn bng tiếng Việt. Điều này vô cng quan trng và cn thiết để người đc tng thu đt những lời dy thâm diệu của kinh văn mà ng dng trong đời sng tu tp hng ngày. Có thnói Đức Tổ sư là
 


người đi tiên phong trong vic sử dng nn ngữ thun Việt thông qua tng kinh bái sám hng ngày cho tt cả các tín đồ của hphái. Đặc biệt, tt cả những kinh điển này được Việt dịch từ kinh văn âm Hán và chuyển ti thành các thể thơ lục bát hay song tht lục bát. Như chúng ta biết cả 2 thể thơ này là 2 thể thơ thun túy của Việt Nam, vô cng êm du, nhẹ nhàng, sâu lng ging như bn cht chân tht, hiền hòa, từ ái của dân tc Việt Nam. Đó là tinh túy trong văn hóa thi ca của người Việt Nam mà bt cứ ai cũng cn bảo tn và phát huy tinh hoa đó của dân tc. Ngoài ra, Đạo Pht Kht Sĩ Việt Nam là mt tông phái biệt truyền ti miền Nam Việt Nam. Cư dân vùng đng bng sông Cửu Long là những cư dân nghèo từ xa xưa. Đó là những nông dân khó khbchế độ phong kiến đàn áp, phân biệt đi xử từ miền Bắc, miền Trung tvề; là những nông dân Khmer hay Chăm-pa tht bi trong cuc đu tranh khắc nghiệt chng chế độ phong kiến; là những sư sãi trí thức yêu nước bị vua chúa Thái Lan cướp nước, đàn áp trong thời khu Angkor đã theo sông Cửu Long về đây; là những lưu dân, binh lính, địa ch, thương gia người Hoa ở vùng Qung Đông, Phúc Kiến vì yêu nước, bảo vệ dân tc, chng li chính sách đàn áp của triều đi Mãn Thanh. Cuc khai sơn phá thch đã phn nào khắc nên tính cách của h, thích tự do, chung hòa bình, hào hiệp, chan hòa, chung thực tế và ưa hài hước. Chính vì đặc tính này, Đức Tổ sư Minh Đăng Quang đã khéo léo vn dng kinh văn trong lễ tng của Hphái sao cho gn gũi với đng bào miền Nam, không bóng by, không hàn lâm, mc mạc, nhưng đm đà sâu lng lời Pht dy, nhm dễ dàng giáo hóa người dân đương thời và giúp đạo Pht đi vào đời sng người Nam Bộ như mt bài ca dao mang đm tính truyền thng nhân văn. Bài ca dao mà bt cứ người Nam Bnào cũng thích đc, thích tng mi khi công vic nhà nông nhàn hạ, đến chùa lễ Pht hoặc suy ngm cuc đời thế sự thăng trm và dừng li trước những vic làm sai trái mà nhìn li chính mình.

…Ôi! Tht đáng cho đời kính ngưỡng, Công đức Ngài vô lượng vô biên,
Hỡi cPht tử hữu duyên,
 


Nhớ ơn Từ Phcn chuyên tu hành”.

(Nhớ ơn Pht – Nghi thức Tng niệm của HPKS)

Hoặc:

Nhn nhường là giới đu tiên,

Kìa cPht vn nhc khuyên ta hoài, Kmong lìa btrần ai,
Mà còn phiền gin tht ngoài chữ tu”.
(Giới – Tổ sư Minh Đăng Quang) Thế nhưng xuyên sut lễ tng của Hphái Kht sĩ Việt Nam
phi kể đến bộ “Chơn lmà Đức Tổ sư Minh Đăng Quang đã dày công biên son, thể hiện đường li quan điểm của mình đi với toàn bhệ thng tư tưởng triết hc Pht go. Bng tuệ giác và chánh kiến, Đức Tổ sư đã từng bước thay đi những quan điểm lch lạc của Pht giáo Nam Bngày y, phê phán thói hư tt xu, bài trừ mê tín dị đoan trong đời sng tín ngưỡng của người dân địa phương bng con đường thực hành chánh đạo ni truyền Thích-ca Chánh pháp. Không chỉ đc tng hng ngày mà người hc Pht phi suy ngm, quán chiếu tt cả những lời dy của cPht, nhm ứng dng vào đời sng thường nht làm lợi lạc cho mình và chúng sanh.

Trong lễ tng của Pht giáo Bắc truyền, có kết hợp rt nhiều pháp kkhác nhau như mõ, chuông, đu, tang, khánh, đàn, trống, thanh la, chp chõa…

Lkcủa Hphái Kht sĩ: Là những pháp kphi hợp trong vic tng niệm hng ngày của Hphái. Nghi thức truyền thng của Hphái Kht sĩ Việt Nam không sử dng mõ, chỉ hòa âm đều nhau, ging ngang, đều hơi, không sử dng các pháp khí tán tng như Bắc truyền Pht go, không lên ging, xung ging, trm bng. Trong nghi thức của Hphái Kht sĩ, Đức Tổ sư Minh Đăng Quang có phn kết hợp nghi thức của Nam truyền Pht go, nhưng có sử dng chuông trong các thời khóa l. Như vy, lễ kcủa Hphái Kht sĩ, rt
 


đơn gin và tinh lược, giữ nguyên truyền thng của Giáo đoàn Kht sĩ thời Pht, gp lời kinh mu nhiệm dễ dàng đi sâu vào lòng người đc và chuyển hóa thân tâm của h. Trong Nghi thức tụng niệm của Hphái Kht sĩ ghi rõ: “Khi trì tụng chđọc thường, chm rãi, điều a, nghe cho dhiểu đng hành theo. Chnên dùng sc tướng, âm thinh trm bổng, du dương làm sai ý nghĩa kinh pháp. Khi đọc dứt mt đon, cchữ O thì đánh mt tiếng chuông và lmt ly. Các nghi thức tùy theo trường hợp cthlinh động đọc nhiều hay ít cũng được, tùy theo thời gi” (Kinh Nht tụng của Pht giáo Kht sĩ).

Trong giao tiếp hng ngày, oai nghi của vị tu sĩ xut gia và hàng Pht tử ti gia của Hphái Kht sĩ cũng được Đức Tổ sư chú trọng.

Lnghi của Hphái Kht sĩ: Thông thường cTăng được hàng Pht tử ti gia kính trọng gọi bng , còn cách đáp từ khi xưng hô li bng mt cm từ rt gn gũi và khiêm tn đó là Trò. Nhà sư là từ xut phát từ Bhikkhunghĩa là người kht thực (Kht sĩ), người sng bng của bố thí tìm cu chân lý gii thoát (từ điển Wikipedia. org/bhikkhu). Căn cứ vào những lời dy của Đức Tổ sư Minh Đăng Quang trong bChơn l:

Kht là xin. Sĩ là hc (hc trò). Có 2 thứ xin: Xin vt cht đnuôi thân.
Xin tinh thn đnuôi trí.

Từ xin đnuôi thân nc, cây, thú, đến xin đnuôi trí nngười, Trời, Pht.

Sĩ là Hc (hc trò). Hc nơi thy, nơi bn, hc với tt cvn vt, c pháp. Nghĩa là hc bng văn tự, bng lng nghe (văn), bng suy gm (tư), bng thực hành, tu tp (tu).

Tt cchúng sanh đều là học trò vì ai cũng học mới biết, mà học c nghĩa là xin. Người xut gia o cũng đi từ Kht sĩ đến Vô thượng sĩ là Pht. Chính Đức Pht là ông Thy cao thượng Vô thượng sĩ, còn Tăng là Kht sĩ, là học trò đang học.

Kht sĩ là học trò ngo xin ăn đtu học. Kht sĩ là cái sống ca



chơn lvõ trmà tt cchúng sanh đều là học trò cthy, bởi vì chúng sanh là cái biết, từ chưa biết đến đang biết và cái biết sẽ hoàn toàn ngơi ngh”.

Lẽ xin là chơn lvõ trmà chúng sanh kthì xin vt cht đnuôi thân, người thì xin các pháp đnuôi trí, ai ai cũng là kđi xin c”.

Thông qua đó để thy hình nh Sư - trò gn gũi thân thương, dung dị giữa đời thường trong lễ nghi đi nhân xử thế giữa người xut gia và người ti gia. Từ oai nghi, phm hnh, lời ăn tiếng nói có sự cn trọng ý tứ, khinh an, từ nn ngữ giúp đời bng sự khiêm cung cu hc. L nghi y tht đáng quý và đáng trân trọng biết bao.

Nói tóm li, từ các vn đề nghi lễ của Hphái Kht sĩ Việt Nam, càng minh chứng cho đường li tu tp Ni truyền Thích-ca Chánh phápmà Đức Tổ sư hng mong mi và dày công tạo dựng. Chúng con hàng hu hc, bng tt cả tm lòng thành kính thông qua bài viết này như mt nén tâm hương kính cn dâng lên Người nhân dp Tưởng niệm 60 năm Ngài vng bóng.


 

***


TÀI LIỆU THAM KHO
 
  • BChơn lcủa Tổ sư Minh Đăng Quang.
 
  • Ban Bn dịch Đo Uyển, Tđin Pht học, Nxb. Tôn giáo, 2006.
 
  • Kinh Pháp Cú (bn dịch HT. Thích Minh Châu).
 
  • Thích Nht Hnh (dịch và chú gii), Kinh Người áo trng, 1992.
 
  • Nghi thức Tụng niệm của Hphái Kht sĩ.
 
 
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây