09. CẦN CÓ MỘT TIỂU SỬ HOÀN CHỈNH VỀ ĐỨC TỔ SƯ MINH ĐĂNG QUANG

Chủ nhật - 09/09/2018 05:30
CẦN CÓ MỘT TIỂU SỬ HOÀN CHỈNH VỀ ĐỨC TỔ SƯ MINH ĐĂNG QUANG của Hành Vân
  1. VÀI ĐIỀU DẪN NHẬP

Mi bậc Đạo sư ra đời là mt ngun ân phước to lớn của chúng sanh, nói lên rằng duyên lành đã hi đ, thời cơ đã đến nên bậc Đi sĩ y xut thế. Đi với Tổ sư Minh Đăng Quang, sự xut hiện của Ngài đã được ca ngợi là:
Minh thiên hunht xut Đông phương, Đăng chí cao sơn triệu kiết tường,  Quang chiếu thế âm hàm vn vt,
Hiện lai n khứ chuyển luân vương.


Tri mai mt nht hin phương Đông, Vượt khỏi non cao chiếu sc hồng, Phóng ánh o quang soi thế giới,
Đến đi qua li biết bao vòng.


Minh nhồng nht ltrung thiên,

Đăng nguyt hunh huê chiếu diệu huyền, Quang hutuyên lưu toàn thế giới,
Hiện thân thuyết pháp đchân nguyên.
 


Sáng nmt nht giữa trời thanh, Ttựa đèn trăng chiếu sc hunh, Phánh hào quang soi vn vt,
Hin thân thuyết pháp đnhân sinh.

(KTán tụng công đức Go ch”)

Những lời tán thán trên hàm ý rằng Đức Tổ sư là mt trời trí tuệ rực rỡ, xut hiện và soi sáng cuc đời ti tăm. Các chữ Minh Đăng Quang” trong bài kâm Hán Việt ở đu ba câu thơ là nhắc đến pháp hiệu đặc biệt của Đức Tổ sư. Đng thi, chúng cũng đã gợi lên những n ý phi thường khi đề cp đến mt tri, mt trăng và trí tuệ siêu tuyệt của cPht. Từ thuở nào, Minh đăng” đã thường soi sáng cho cuc đời và hôm nay Minh đăng” li hiện thân tht sự, trong hình thức mt con người, tỏa hào quang rực rỡ!… Chúng ta sẽ tìm li ngun ci, để cng chiêm ngưỡng sự vĩ đi của những bậc Đạo sư, đặc biệt là Đức Tổ sư Minh Đăng Quang, bậc Đạo sư khai sáng Đạo Pht Kht Sĩ Việt Nam.

Đo Pht Kht Sĩ Việt Nam đã nh thành và phát triển hơn 60 năm nay, thế nng, Hphái chưa có được một bn tiểu sđy đvà rõ ràng vĐức Tsư khai sơn. Mỗi năm, nhân dịp lTưởng niệm Tsư vng bóng, đại chúng Kht sĩ ti Tnh xá Trung Tâm
  • trsHphái li cung tuyên tiểu sTsư Minh Đăng Quang như trong quyn Ánh Minh Quang. Hc viện Pht giáo Việt Nam ti TP. HChí Minh năm 2009, trong hai môn Qun lý tviện Pht giáo (phn Pht go Kht sĩ, do HT. Gc Toàn phụ trách) Danh Tăng Việt Nam (do NS. Tín Liên phụ trách), tiểu sTMinh Đăng Quang đã được đưa o ging dy và có cung cp tài liệu cho các sinh vn khóa VI (bài ca Ni sư Tín Liên chlà dàn bài chi tiết). Trong tác phm Tiu sdanh Tăng Việt Nam thế kỷ XX do thy Đồng Bổn chủ biên, bài giới thiệu vTsư Minh Đăng Quang có phn hn chế. Còn trong tp văn vĐi lTưởng niệm 53 năm Tsư Minh Đăng Quang vng bóng, bài Lược sĐức Tsư Minh Đăng Quangdo Tnh xá Ngc Cm bn tp có phn
 


đặc sắc, nng không hay bng bài trong Ánh Minh Quang và vn chưa phi là một bài tiểu s hoàn chỉnh. Công tâm mà nói, cm bài tiểu strên đu không đầy đso vi những gì Hàn Ôn cung cp trong Minh Đăng Quang pháp go. Tnăm 1956, Hàn Ôn đã có thiện chí ghi khc li giai đon đu tn ca Đo Pht Kht Sĩ trong tác phm Minh Đăng Quang pháp go cho mọi người tham kho. Trong tác phm đó, Hàn Ôn đã cho ta nhiều chi tiết, nng li mang nét tp, thiếu ssáng t.

Đng thi, có ít nht ba công trình nghiên cứu về Pht giáo Kht sĩ ca ba vCnhân Pht hc ở Hc viện Pht giáo Việt Nam tại Thành phố HChí Minh: Sư Giác Trí viết luận văn tt nghiệp Shình thành và phát trin ca Hệ phái Kht sĩ o năm 2001, thy Hnh Thành viết sách Tìm hiu Pht giáo Kht sĩ ở Nam BViệt Nam (trong thế kỷ XX) o năm 2005 và Sư cô Thánh ng viết luận văn tt nghiệp Hệ phái Kht sĩ và Văn hóa Nam Bcũng vào năm 2005. Trong ba công trình này, phần tiểu sTsư Minh Đăng Quang vẫn chưa thuyết phc lm, về schính c ca những sự kiện và những nhận định tóm tt về Tsư.

Nhận ra những hạn chế trên, chúng tôi cgắng viết mt bài tht đy đvà rõ ràng về cuc đời và hành trạng ca Đức TMinh Đăng Quang, ước mong phần nào xứng vi công đức khai tông lp Đo ca Ngài. Vi hai phạm vi cuc đời và hành trạng, bài viết sẽ mang tính cách mt bài tiểu sử, nên tht không tiện đđưa ra những chứng minh nhằm làm sáng tỏ các skiện, vì thế smt vài bài rng cho phần slun.

Vi scgắng ca người viết, mong sao mi người có thhiểu nhiều và đúng hơn vTsư Minh Đăng Quang. Vi sthừa kế tất yếu, chc rng bài viết này shoàn chỉnh hơn những bài tiểu svTsư hiện đang có. Tuy có phn lạc quan, nng chúng tôi vn không dám chủ quan. Xinc bậc thức giniệm tình chgiáo những điều ca đúng nào mà bài viết này còn vấp phi. Chúng tôi xin thành thật tri ân.
 
 
  1. CUỘC ĐI VHÀNH TRNG CA ĐC TỔ SƯ MINH ĐĂNG QUANG

Đức Tổ sư Minh Đăng Quang ti thế chỉ có 30 năm rưỡi, từ tháng 11/1923 – tháng 5/1954, nên cách hay nht để trình bày v cuc đời và hành trạng của Ngài là nói theo mc thời gian hơn là nói theo các giai đon cuc đời.
    1. Sơ lược cuộc đời Tổ sư Minh Đăng Quang từ năm 1923 đến năm 1947

Tổ sư Minh Đăng Quang có tục danh là Nguyễn Thành Đt. Ngài sanh ngày 4 tháng 11 năm 1923 (nhm ngày 26 tháng 9 năm QuHợi)1. Cha Ngài là cNguyễn Tn Hiếu (1894 - 1968) mẹ là bà Phm Thị Tỵ (còn gi là Nhàn, 1892 - 1924). Ngài là con út, trên Ngài còn có bn anh ch. Gia đình Ngài cư ngụ ti làng Phú Hu, tng Bình Phú, qun Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Từ năm 1929, gia đình Ngài chuyển lên sng ti m cu Kinh Ct, thị xã Vĩnh Long.

Sau khi lên thị xã, Ngài được gởi vào hc trường Tng Phước Hiệp (nay là trường Lưu Văn Liệt). Chăm chỉ hc tp đến năm 13 tui, Ngài tt nghiệp bng Sơ hc của Pháp (nay là Tiểu hc)2 với giy khai sanh tm mượn của chú bé Lý Huờn người Hoa vừa mt3. Trong giai đon này, Ngài theo gương cha mi ti niệm hương cúng Pht và ăn chay mt tháng 10 ngày. Dướinh hưởng của sự tu tp này, li do ơn trên đã mt ln hiển mng nhắc nhở, nên Ngài đã quyết tâm từ bỏ sự hc của thế gian để chuyên tâm hc đạo gii thoát của cPht, mặc dgia đình đã ép buc Ngài phi hc tiếp...
  1. Vngày sanh và ngày vng bóng của Đức Tổ sư, người viết đã tra cứu Lch vn niên để ly theo lịch Tây cho dễ phbiến.
  2. Thuở y trẻ em Việt Nam 7 tui mới được vào học lớp đu tiên của bậc Tiểu hc. Lớp này tên là lớp Đng u, trong bậc Tiểu học có 6 lớp. Như vy 7 tui đến trường, cn qua 8 tui thì xong lớp đu. Đến lớp cui là 12 – 13 tuổi. Tính theo dương lịch là 13 tuổi, âm lịch là 14 tuổi, đúng như lời ông Nguyễn Tn Hiếu đã kể li và Hàn Ôn ghi vào sách Minh Đăng Quang pháp giáo.
  3. Năm trước, anh kế của Thành Đt thi rớt Tiểu học, nên gia đình cho ly khai sanh của anh Ngài để đi học lại. Phi nêu thông tin này ra để gii thích được vì sao trong các đơn từ, chứng điệpNgài Minh Đăng Quang ký tên là Lý Huờn chứ không phi là Nguyễn Thành Đt.
 


Sau vài ln xin phép đi tu mà không được, năm 1937, Ngài đã trốn thân phụ và gia đình, rời quê hương sang chông Keo ở vùng Sóc Mt4, thuc xứ Cao Miên, để hc đạo cứu nhân độ thế. Trước đó, Ngài đã từng biết ông Keo qua my ln ông đến nhà cha Ngài quyên góp làm tượng Pht. Ông Keo là mt người mang hai dòng máu Hoa
  • Miên, họ Dương, thuở nhỏ từng xut gia trong chùa Miên, sau hoàn tục nên gọi là Lục Tà Keo. Ông Keo ni danh có nhiều bùa phép linh d, được rt nhiều người Việt tín ngưỡng và kính gọi là Sư Ông, dông có vợ con5, ngay cả hàng Hoàng thân của Miên cũng quỳ ly mi khi gp ông Keo.

Ti Sóc Mẹt, ông được chính quyền Pháp cho khai thác các núi đá i để làm i. Đây là mt vùng rừng thiêng nước đc, người Pháp đã từng xây 10 lò i lớn mà không đưa người vào ở được. Khi Pháp để li các lò i và cho khai thác, ông Keo đã huy đng những tín đồ của mình đến ở, theo ông tp tu và khai thác i. Cũng có rt đông nam nữ thanh niên ở miền Nam Việt Nam tìm đến đây để trốn lính. Không bao lâu, lòi của ông Keo đã hot đng mnh.

Có lđoán biết mng ca người học trò nhnên ông Keo không dy gì, chỉ sai Thành Đt bửa ci, coi ry, đào giếngvà sp xếp cho vô chùa các sư học kinh Pht mi ngày. Ở Sóc Mẹt, Thành Đt có quen biết cô Kim Huê, con gái nuôi ca ông Hi đng Võ Văn Nhiều ở ChLn (nay là Thành phHChí Minh), đến lò i làm thư ký cho ông Keo theo đnghị ca ông. My năm ti qua mà mng cứu nhân độ thế ca thành, Thành Đt tm biệt thy vli quê hương.


Năm 1941, Thành Đt vli Việt Nam. Ri gia đình, Ngài n Sài Gòn sng và làm thư ký cho nhà hàng Nguyn Văn Trn, sau đó làm cho hãng xà bông của ông Hi đng Nhiều. By giờ, ông Nhiều đang lo lng cho Kim Huê đang bmt người đàn ông lớn tui đã có nhiều vchú ý. Biết Thành Đt và Kim Huê đã quen nhau tbên Miên, ông đnghgả con cho Thành Đt, mt chàng trai trtui, thông minh, trung hu.
  1. Người Miên gọi là xã Tuk Meas (đọc là Tc-mia), thuộc tỉnh Kampot ở miền Nam Campuchia ngày nay, cách cửa khu Tịnh Biên khong 60km.
  2. Người vợ thứ và người con trai, con dâu, cháu nộicủa ông đang sng ti Qun 6, TP. HCM; ở Phú Mcũng còn mt số tín đồ của ông.
 


Ngày 27 tháng 2 năm 1943, Thành Đt và Kim Huê có mt con gái đu lòng, đt tên là Kim Liên. Đứa bé khó nuôi nên được mt tháng tui đã phi mang vqgởi cho bên ni chăm sóc. My tháng sau, Kim Hmt. Trước ni mt mát này, Ngài thôi vic trvquê. Quãng đường dài sáu năm kể từ khi Ngài rời khi sự bảo bọc của gia đình để dn bước vào cuc đời, đến lúc này t đã cht chứa vào lòng Ngài nhiều kinh nghiệm sâu sắc vhai chữ Nhân sanh

Mùa hè năm 1943, Ngài lên li ChLớn, xin phép gia đình bên vcho được tp tu bá nht tịnh khu6 ngay ti ni nhà nơi đt thmcủa gia đình cha vợ ở Bình Thới (TP. HCM) mà hai vchng đã ở. Tuy e rằng con rể nht thời nông ni nhưng ông Hi đng Nhiều vn đng ý, dn các con nhkhông được quy ry anh By lớn, để xem Ngài tu có ni không.

Đến hơn mt năm sau thì Kim Liên cũng từ gcuc đời (ba tui ta, 13 tháng tui trlên). Vợ con đều đã mt, duyên đời như thế âu cũng phi lúc cho Đi sĩ nhẹ bước xut trn, gánh vác những sứ mng lớn lao cho chúng sanh vn loi.

y ai gan thép chí đồng,

Lửa thiêng tam-mui cháy hồng tim ta! Siêu nhiên quyết vượt ái hà,
Mt đi, lìa cửa lìa nhà lên non…

(TrVũ, “Thi hóa tiểu sử Tổ sư”)


Năm 1944, Ngài ct cc ở chòm mả gn nhà thân phụ để tu. Lúc này, giặc Pháp hay rung bbt người, khó ở tu nên Ngài mun đi nơi khác. Ngài nói với chị Ba là định đi Phú Quc, chừng nào đắc đạo mới v. Lo lng con đi không về nữa nên thân phcng kế mu Hà Thị Song theo xung ghe bt li, năm ln by lượt đi không được. Kế mu bảo: “Nhà nh không phi ngo, con ở nhà mun gì được ny, mun ăn chay, Năm cũng lo cho con đy đủ, con đi làm gì cho cực khcái thân?”. Ngài thưa: “Năm thương con nói vy, chNăm nuôi cho con
  1. Tu 100 ngày và không nói, mt dng nhp tht chuyên tu.
 


ăn đy đri nm mt chckc gì con heo, không cích lợi gì cho ai. Chi bng Năm đcon ra đi tìm phương cứu khcho chúng sanh thì cuộc sống ca con mới có ý nghĩa!. Ngài phân tích phi trái mãi rồi ông bà ccũng xiêu lòng cho đi.

Rời Vĩnh Long, Ngài đi tu, tìm hc theo 2 nền giáo lý của Pht giáo Cao Miên và Việt Nam. Ít lâu sau, Ngài ra Hà Tiên, định đi Phú Quc rồi đi luôn ra nước ngoài hành đạo, nhưng gp lúc không có chuyến tàu nào nên Ngài tìm nơi thanh vng ở bbiển Hà Tiên để tu thiền định. Tri qua by ngày tham thiền nhp định ở Mũi Nai, vào mt bui chiều, Ngài đã ngộ đạo ngay sau khi thy những chiếc thuyền đánh cá băng vượt trên muôn ngàn sóng bin. Sau này, khi thuyết pháp cho tín đ, Ngài đã gợi li hình nh những chiếc thuyền giữa bin ccuộc đời qua pháp thoi Thuyền trí hu:

Thuyền trí hungược dòng rẽ sóng, Đèn quang minh rạng bng soi đời, Ai người tri hp chơi vơi,
Khá mau bám u vào nơi mé bờ!

Biển trần thế đc nhơ đã lm…

(KThuyền trí hu”)

Cũng trong năm 1944 đó, trong hình thức mt ông đạo, cạo tóc và mặc đồ nâu sồng, Ngài đã về nhà thăm phụ thân. Đến nhà, Ngài chp tay chào vị đi thí chcủa mình rồi thông báo cho ông cụ tin vui: Tôi đã đắc đạo rồi!. Qua my hôm tm trú ti nhà, Ngài li lên đường về miền Tht Sơn.

Đu năm 1946, Ngài theo ghe ông By Tam và ghe ông Tư Nhu về làng Phú M, tỉnh Mỹ Tho. Nguyên các nhà thiện tâm này đều là hàng tín đồ của ông Keo, họ làm nghbuôn tm đệm, mt đặc sn của Phú M, vùng đt phèn có nhiều cây bàng, cây lát mc khp nơi. Mi năm nhiều ln hchở đệm qua Sóc Mẹt bán, sau đó vào thăm Sư Ông và ở li tp tu.
 


Ngài vPhú Mỹ trong hình thức mt ông đạo, đi nón lá, mặc đồ đen bình dân. Quý trọng Ngài là đệ tử của Sư Ông7, ông Tư Nhu mời Ngài ở tm sau vườn nhà, nay ở sát phía sau Tịnh xá Mc Chơn cũ. Bui đu, mi người gọi Ngài là chú Sáu, sau trọng là người tu nên gọi là Thy Sáu. Ở đây không lâu, Thy Sáu đã xin bà con tìm cho ít vi trắng để nhum làm y, và hái cho mt trái dừa già tht lớn để ct ra làm bát, thực hành Tứ y pháp, ngày ăn mt bữa8... Thy Sáu hay nói chuyện đạo cho bà con nghe. Đến khi Ngài ging những bài Võ trquan, Lục căn, Ngũ un… thì tht ít ai hiểu hết, chỉ có cm nhn chung là hay quá! Từ khi Thy về đó, nhà ông bà Tư Nhu lúc nào cũng có khách đến nghe chuyện đạo.

By giờ ở Phú Mcó chùa Linh Bửu do ông Đoàn Ngc Đê lp o năm 1929 và làm Thủ tọa. Ông Đoàn Ngc Đê tu Tnh Đtheo thy giáo Trần Phong Sắc ở Tân An. Thy Trần Phong Sắc là mt ngiáo mu mực, mt ndịch thut và sáng tác tài ba, đng thời cũng là mt Pht tthuần tnh đã tu đắc pháp niệm Pht, u lại đời tác phẩm Lão nhơn đắc ngộ. Chùa Linh Bửu được ông Đoàn Ngc Đê kiến thiết đy đtheo phong cách Nam B, được dùng làm nơi tng niệm, bái sám và cúng kiến cho Pht ttrong . Chùa ở bìa rừng, hơi xa ndân. Hay tin Thy Sáu gii nói chuyn đạo, ông Thủ ta Đê đã nhờ người mi Thy n chùa trao đi my ln. Và ông cố ý giữ Thy Sáu ở lại quá 12 gitrưa, đ bà Tư Nhu theo dõi xem Thy có ăn gì nữa không!9


Tháng 2 âm lịch năm 1946, ông Đê bị một n bnh l, đến
  1. Mi quan hệ thy trò của ông Keo và thy Sáu tht tế nh. Xưng theo thế gian thì ông Keo là thy, còn trong đường đạo đức thì không hn vy.
  2. Thời đó Việt Nam nghèo kh, vi phi mua theo tem phiếu. Lúc đu Ngài xin, bà Tư Nhu bảo giữ con giúp để bà đi chmua cho, nhưng rồi bà đã tht hứa, vsau cứ ân hn mãiChính 2 mu chuyện xin y bát này giúp chúng ta xác định được Tổ sư Minh Đăng Quang bt đu hành Y bát từ lúc nào khi đã vPhú M. Như vy, Hàn Ôn bảo Tổ sư Minh Đăng Quang phát nguyện thgiới ti Linh Bửu tự là hoàn toàn không đúng.
  3. Vic này diễn ra sut 3, 4 ngày, thy Sáu phi nhịn đói. Có lẽ vì xúc phm mt bậc đt đạo mà ông Đê phi ra đi sớm. Riêng bà Tư Nhu sau quy y Tổ sư Minh Đăng Quang, được pháp danh là Chơn Ngọc. Bà Chơn Ngọc đã rt ăn năn mi khi kể li chuyện này.
 


ngày 29 ông tthế, hưởng lc tri 52 năm. Sau khi Thta Đê mt, gia đình và bà con trong đạo mi bàn nhau đưa Thy Sáu n trtrì Linh Bửu tự. Đáp lời bà con, Thy Sáu nói: Tôi phi hong hóa chúng sanh, cn ở chcó người. Trên đó không có ai, tôi ở làm gì?. Tuy không nhn tch nhiệm trtrì nng Tvn n Linh Bửu tthuyết pháp khi có người mi, và ở một thi gian khi đã có đệ txut gia10.

Thy Thy Sáu tchối trtrì Linh Bửu tự, bà con mđạo mới ct cc thỉnh Thy đến tu. Ln lượt ở các xã Tân Hòa Thành, Tân Hội Đông và Tân Lý Đông kế bên xã Phú M, hướng ra Tân Hiệp, đã ct n 3 cc lá cúng dường Ngài. Cm niệm công đức ca người mđạo, mỗi cc Thy Sáu đều đến ở một vài tháng, hàng ngày đi trì bình, ta thiền, hcó dịp li thuyết pháp cho bà con đa phương nghe.

Ti Phú M, Thy Sáu nghiêm trì đời sng Tứ y pháp nGiới bn Tỳ-kheo đã quy định11. Thỉnh thong Ngài cũng vân du đây đó như hc ni mây ngàn. By giờ, miền làng quê nghèo Phú Mỹ đã trở nên đẹp hơn vì sxut hiện ca mt vKht sĩ vi nếp sng Tứ y pháp, mt nếp sng truyền thng ca ba đời chư Pht.

Y Kht sĩ bức ha đthế giới,

Vmuôn ngàn đường li bước vân du. Bát Kht sĩ bu càn khôn vũ trụ,
Chứa muôn loài vn vt mt tình thương. Đu tiên trên bước du phương,
Lẻ loi chcmt mình, đường xa…


Cui năm 1946, Thy Sáu nhp tịnh 100 ngày trong mt cc lá bà con đã ct lên cúng dường Ngài12. Bà con tò mò xem Thy tu như
  1. Ông Sáu Tm, con ông Đoàn Ngọc Đê kể: khi Tổ sư Minh Đăng Quang lên Linh Bửu ở, Ngài có dn theo 2 đệ tử…
  2. Bậc Thánh nhân mặc nhiên đã có giới th, chỉ vì độ sanh nên thgiới pháp của cPht để làm gương.
  3. Chuyện Tổ sư Minh Đăng Quang nhp tịnh 100 ngày chỉ có các đệ tử
 


thế nào, lén nhìn qua vách lá, họ thy Ngài ngày đêm đều ngồi trên mt cái ghế vuông, trong mt cái mng trùm lên ghế. Đến rm tháng Gng năm 1947, khi anh thmc TVăn Phng (sau này là Đức Thy Từ Huệ) từ xã Tân Hương vô Phú Mỹ tìm Thy Sáu ln đu tiên, lúc đó Thy Sáu vừa ra tịnh my ngày. So với 7 ngày tham thiền nhp định ti Mũi Nai – Hà Tiên vào năm 1944, thì 100 ngày nhp tịnh này của Ngài tht là khó lường. Hu thế chí thành kính ngưỡng:

Mãn khai vô thượng liên đài,

Trang nghiêm thhiện Như Lai tọa thiền!

(Thi hóa tiểu sử Tổ sư Minh Đăng Quang, TrVũ)

Đu năm 1947, Thy Sáu bt đu ly pháp danh Minh Đăng Quang do Đức Pht A-di-đà ban cho13, gánh c sứ mạng Tsư, tham gia chấn ng Pht giáo, chỉnh đn Tăng-già theo xu hướng ca thi đi.

2. By năm hong pháp của Tsư Minh Đăng Quang (1947 – 1954)


Qua năm 1947, Tổ sư Minh Đăng Quang đã thâu nhn đệ tử Tăng, Ni và bt đu sáng lp Đạo Pht Kht Sĩ Việt Nam. Nêu cao tôn chỉ Ni truyền Thích-ca Chánh pháp, Tổ sư đã dung hợp mi tinh hoa của Nam tông và Bắc tông Pht go, phá vỡ sự đi lp của hai nền tư tưởng Pht giáo căn bn trên thế giới. Sự dung hợp của Tổ sư

thy Từ Huệ kể lại, cánh Pht tử ở gn Mộc Chơn không nhắc đến, còn con ông Đoàn Ngc Đê chỉ kkhi Tổ sư Minh Đăng Quang lên chùa ở thì có 2 đệ tử đi theo, thy ở mt bên ông Hpháp, 2 trò ở mt bên kia. Vy chúng ta xác định được là Ngài nhp tịnh ti mt trong 3 cc lá ở các xã Tân Hòa Thành, Tân Hi Đông và Tân Lý Đông ở kế bên xã Phú M, hướng ra Tân Hiệp.
  1. Vsau Tổ sư có kvới các đệ tử xut gia vic Pht A-di-đà ban cho Ngài pháp danh Minh Đăng Quang. Còn người ở Phú Mmãi đến khi Ngài quay về làm đơn xin ct Tịnh xá Mộc Chơn mới biết pháp danh của Ngài do tên ký ở cui đơn là “Đi đức Minh Đăng Quang. Trong chứng điệp cp cho người đệ tử thứ 2 là Sư Nhựt Quang, được Tổ sư ký ngày 30 tháng 2 năm Đinh Hợi 1947 ti Ngọc Lâm tự ở Phú Lâm, ChLớn, có đóng du tn đỏ to KHT SĨ Minh Đăng Quang PHT ĐẠO. Đây là bng chứng xưa nht xác định thời điểm Tổ sư bt đu dng pháp danh Minh Đăng Quang.
 


tht khéo léo, li thêm được thuyết minh bởi tư tưởng Kht sĩ uyên thâm, thu đt chánh lý, nên nền Đạo Pht Kht Sĩ chng my chc đã được tô đp vững chãi và rộng lớn.

Đầu tiên, Ngài nhn đtbên Tăng gm cHuNgn (khong 10 tui), c Sư Nhựt Quang, Nguyt Minh, THu, Giác Tnh (lúc đu tên HuTịnh); kế đến nhn bên Ni gm c vHuỳnh Liên, Bch Liên, Thanh Liên, Bửu Ln (mt năm 1952), Kim Liên, Ngân Liên. Tnăm 1948 trở đi, Tsư Minh Đăng Quang thâu nhn nhiều đtxuất gia như c vGc Tánh (lúc đu tên HuTánh), Giác Chánh, Gc N, Gc Hi, Gc Nhơn, Gc Thn, Giác Hòa và Chơn Liên, Quang Liên, Tạng Liên, Trí Liên, Đức Liên, Thiện Liên…

Năm đu lp đạo, thy trò Ngài an cư ti Phú M, có ông Sáu Dành phát tâm cúng dường sut mùa An cư. Ngài và cTăng ở ti Linh Bửu tự, cNi ở tm ti vườn nhà người dì của Sư cô Huỳnh Liên, đến ngày sám hi li vLinh Bửu tự để Tổ sư nhắc nhở, chỉ dy. Qua mùa An cư đu tiên, Ngài bt đu dn các đệ tử đi du phương hành đạo, đi ln ra Tân An rồi đến các nơi. Kể từ đó:

Mt cành mà n tm hoa, Bóng y bát đp quê ta tự rày, Chơn truyền Kht sĩ là đây,
Bóng xưa với li nh này dm không….

(TrVũ, Thi hóa tiểu sử Tổ sư Minh Đăng Quang)

Theo bước chân Tổ sư, cTăng Ni Kht sĩ đã du phương hành đạo từ làng này sang làng khác trong khp vùng Nam B. Hnh tam y nht bát được thực hành hài hòa theo Niết-bàn thời khắc biểu:

Mi người áo vá mt manh,

Mt bình bát đt du hành khp nơi. Sáng ra khuyến go đđời,
 


Trưa vththực, xế thời thuyết kinh. Chiều, khuya quán tưởng lng thinh,
Nửa đêm nhp đnh điển linh nng thn. Người tự gc ngộ đthân,
Gc tha, đthế dy dân tu trì…

Hình nh những vị Kht sĩ khiêm cung xin ăn tu hc đã khắc sâu vào lòng dân chúng niềm kính phục và quy ngưỡng. Do đó, những ni tịnh xá hình bát giác ln lượt được bá tánh góp công góp của dựng lên cho cTăng Ni Kht sĩ tm trú hành đạo ở khp các tỉnh thành Nam B. Đu tiên là Tịnh xá Pháp Vân ở thị xã Vĩnh Long, kế đến là Tịnh xá Trúc Viên (sau đi tên Ngc Thun), và Tịnh xá Ngc Viên. Từ Ngc Viên, các tịnh xá sau đều lót chữ Ngc. Rng ti xã Phú M, nơi kỷ niệm Tổ sư Minh Đăng Quang lp Đạo Pht Kht , giữa năm 1952 các Pht tử đã ct lên Tịnh xá Mc Chơn ngay kế miếng đt ban đu Ngài đã ở. Danh hiệu Mc Chơn được Tổ sư định nghĩa là Gc cây Đạo, gc cây Đạo của Ngài được trồng ti đây, không phi ở Linh Bửu tự.

Pháp âm của Đạo Pht Kht Sĩ vang vọng khp các giới qun chúng Pht tử, li thêm gương sáng chân tu tht hc của cTăng Ni Kht sĩ, nên rt nhiều người đã phát tâm xut gia, theo chân Tổ sư Minh Đăng Quang tiến bước trên con đường gii thoát. Theo con đường đó, có ba giáo pháp Kht sĩ Thanh Văn, Kht sĩ Duyên Giác và Kht sĩ Bồ-tát cho mi người lựa chn. Thế nên, mi căn cơ đều được Tổ sư Minh Đăng Quang tiếp đ, làm cho Giáo hi Kht sĩ của Ngài trở thành mt nơi ngọa hổ tàng long.

Qua mi tnh thành, Tsư Minh Đăng Quang đều gp gỡ giới trí thức Pht giáo đương thi ti đa phương y, đtrao đi và bổ sung vsở hc, stu cho nhau. Vic làm này đã đli nhiều thiện cm trong các tchức tôn giáo đương thi. Cũng trong tinh thn xây dựng Tăng-già, không phân chia tông phái, Tsư Minh Đăng Quang thường kêu gọi Tăng chúng hãy tp sng chung tu hc theo
 


Pháp bảo ca chư Pht.

Tuy Tổ sư cũng cho phép đệ tử tu hnh Đc giác:

Nht bát thiên gia phn                 Mt bát cơm ngàn nhà

Cô thân vn lý du                           Mt nh muôn dm qua

Dục cng sanh tử lộ                      Mun hết đường sanh tử

Kht hóa độ xuân thu.                 Kht thực tháng ngày qua…

Nhưng đây không phi tinh thn phổ biến mà Ngài khuyến cáo đến toàn thể đi chúng Kht sĩ. Tổ sư thường cnh giác người xut gia không nên lìa đoàn thể và Ngài yêu cu Giáo hi phi xem xét kỹ lưỡng rồi mới cho phép những ai mun tách riêng tìm chỗ vng tu tịnh. Đi với qun chúng, những người còn mang nng nhiều trách nhiệm thế tục, Ngài khuyến dy họ rằng:

Mi người phi biết chữ. Mi người phi thuộc giới. Mi người phi tránh ác. Mi người phi học đạo.14

Tsư thường nhấn mạnh về mc đích giải thoát sanh tđi vi mi giới Pht txut gia và tại gia. Ngài phá bnhững o cản tông, phái, giáo, vt shữu… cho những ai đang mun đi theo chân chư Pht về chn an vui. Mt điều đặc biệt là Ngài đã u ý mà mi người ít quan tâm là Vit Nam đạo Phật không có phân thừa. Qutht, phải là bậc thu triệt chân lý, giác ngộ sâu xa rằng chcó mt pháp giới chân tht trùm khp mười phương ba cõi, mi hiểu được cái l“Mtca vũ trnhân sanhCnh cái Mt đó đã tnh tt cnhững gì Đức Tsư đã làm: Khai sáng dòng đạo Kht sĩ, tiếp Tăng đchúng, hoằng pháp lợi sanh, kiến lp đạo tràng, trùng ng giới lut, cho đến lp nin Pháp n đin ấn Chơn lý, lái xe phc vcho Tăng đoàn…
  1. Tổ sư Minh Đăng Quang, Chơn l, Thành hi Pht giáo TP. HCMinh, 1993, tr.249.
 


Rm tháng 7 năm 1953, Tổ sư Minh Đăng Quang thành lp đoàn Du tăng Kht sĩ đu tiên, gồm 21 vị sư, xut phát từ Vĩnh Long đi hành đạo lên vùng Sài Gòn - Gia Định - ChLớn (TP. Hồ Chí Minh) và miền Đông Nam B. Chuyến hành đạo này đã để li nhiều dun tt đẹp trong lòng người ở các nơi mà đoàn Du tăng Kht sĩ đi qua. Thiền sư Minh Trực ở chùa Pht Bửu, ông Mai ThTruyền, c Hòa thượng ở Giác Nguyên Pht hc đường, cHòa thượng ở chùa n Quang, Ngài Hpháp Phm Công Tắc ở Tòa Thánh Tây Ninh… đều tán dương sự tinh tn hong pháp của phái đoàn.

Ln đu tiên xut hin ti Việt Nam trong sut 2000 năm lịch sử Pht giáo Việt Nam, đoàn Du tăng Kht sĩ là mt đường li hong pháp đc đáo của Tổ sư Minh Đăng Quang. Đng thi, mô hình này cũng là mt bn sao của đoàn Du tăng thời Đức Pht. Đến mùa xuân năm 1954, đoàn Du tăng Kht sĩ đã trở li miền Tây Nam B. Những năm sau đó, đoàn li khởi hành ra miền Trung Việt Nam…

Từ ngày rm tháng Giêng năm 1954, tại Tnh xá Ngc Quang ở Sa Đéc, Tsư Minh Đăng Quang đã tp trung chúng Tăng về để chdy thêm sự tu tp. Sau đó, Tsư n đường đi viếng hết các tnh xá ở miền Đông và miền Tây Nam B, gthăm Núi Cấm lần cui rồi về lại Tnh xá Ngc Quang tng giới và cúng hi o ngày 30 tháng Giêng. Hôm sau, Tsư n đường sang Cần Thơ đtrả nghiệp và đbảo vệ Giáo hi non trca Ngài trước schú ý ca chính quyn Pháp ở Đông Dương. Sra đi này đã được Ngài nói trước vi các đtkề cận trong những ngày cui là Ngài đi tu tnh ở núi lửa mt thi gian”.

Sáng thứ Sáu, ngày mng 1 tháng 2 năm Giáp Ng, Tổ sư Minh Đăng Quang đi Vĩnh Long và Cn Thơ trên mt chiếc xe 4 ch, hiệu Rờ-nôn do mt thiện nam (sau này là Sư Gc Nghĩa) lái. Lúc xe ghé Tịnh xá Ngc Viên ly Chơn lcó Sư cGiác Thy (79 tui) xin đi nhxe vCn Thơ và chú tp sự Giác Pháp (14 tui) theo hu Tổ sư. Cng đi còn có mt xe nhkhác của các thiện tín ở Sài Gòn. Khi đến bến phà Cái Vn để sang Cn Thơ, cả hai xe đã được mời về căn cứ Cái Vn để gp Tng Tư lệnh Trn Văn Soái có vic. Đương thi,
 


mi người thường gọi vị Tng Tư lệnh này là ông Năm Lửa. Khi đến nơi, Tổ sư đã bbt giam hơn 2 tháng và từ đy hàng đệ tử cng tín đồ không còn được gp Ngài nữa. Từ khi bbt đến bn ngày sau, hai xe và các cư sĩ ln lượt được thả ra. Rng Sư Giác Thy và Giác Pháp thì hai tháng sau, ngày 30 tháng 3 âm lịch mới được thả. Còn 8 vị Sư đi tìm thy: Giác Tôn, Giác Hong, Giác Lp, Giác Nguyên, Giác An, Giác Thường, Giác Duyên, Giác Giới đã bbt giam chung trong trại, hàng ngày làm lao công, đến mng 8 tháng 5 âm lịch mới được cho v.15

Sau 7 năm hoằng đạo (nếu kcthời gian tu hc là 10 năm hành đo), ngày 5 tháng 3 năm 1954 (nhm ngày mùng 1 tháng 2 năm Giáp Ngọ) Đức Tổ sư Minh Đăng Quang đã tùy duyên tiêu cựu nghiệp. Vsau, hàng môn đồ đã chn ngày mng 1 tháng 2 để làm ngày tưởng niệm Tổ sư vng bóng. Giáo pháp Kht sĩ do Đức Tổ sư Minh Đăng Quang triển khai đã được Ngài viết thành bChơn l. BChơn lgồm có 69 bài, thuyết minh rộng và sâu sắc về tư tưởng Kht sĩ, vmi mt tôn go, xã hi, tín ngưỡng, Pht pháp… Đến đu thp niên 1970, bsách này đã được tách ra thành hai là Chơn lgồm 60 bài và Lut nghi Kht sĩ gồm có 9 bài thiết yếu cho sự hành trì hàng ngày của cTăng Ni Kht sĩ.

Vào thời điểm Tổ sư vng bóng, Đạo Pht Kht Sĩ Việt Nam có sTăng Ni khong 100 v, tịnh xá có hơn 20 ni. Đến khong 20 năm sau, mi đạo này đã mau chóng phát triển thành cả chục Giáo đoàn, phân hóa thành my Giáo hi, truyền bá khp các tỉnh thành trong 2 miền Nam và Trung B. Hiện nay, pháp nhân của Đạo Pht Kht Sĩ Việt Nam là Hphái Kht sĩ, mt trong 3 hphái Pht giáo lớn trực thuc Giáo hi Pht giáo Việt Nam.

3. Ngưỡng vọng người xưa


Mượn lt nhân sanh xuống cõi trần, Hc hnh Sĩ Đt dứt tình thân,
15. Các Sư đều về đến Ngọc Viên vào đúng ngày cúng hội. Nay sư Giác Tôn và sư Giác Pháp còn sng. Sư Giác Tôn ở TX. Lộc Uyển – Q.6 – TP. HCM, sư Giác Pháp ở California – nước M.
 


Linh căn Thích đo duyên ngàn trước, Noi du Ta-bà go hóa dân.
Hơn 30 năm xut hiện trong cuc đời, Tổ sư Minh Đăng Quang đã làm nên mt sự nghiệp vẻ vang và kỳ diệu là dựng lp thành công nền Đạo Pht Kht. Du xương Ngài để li cho đời là bChơn l. Cnh huy hoàng của thời Chánh pháp do Ngài mang li là Giáo hi Tăng-gKht sĩ. Cực lạc Tịnh độ là Giới lut Tăng-già. Tháp vàng núi báu xut hiện khp nơi là đạo tràng tịnh xá. Và các đoàn Du tăng Kht sĩ chính là những chiếc thuyền trí huệ ngược dòng đời cứu độ chúng sanh…

Sanh trong đời mt pháp, tht hữu duyên đa phước cho những ai gp được Giáo pháp Kht sĩ do Tổ sư Minh Đăng Quang khai sáng, tm mình trong dòng Chánh pháp mà Đức Tổ sư đã khơi ngun, được thừa hưởng những đạo vị thanh cao từ ân đức của Pháp bo, người con Pht smãi mãi khắc ghi trong tâm những niềm tri ân sâu xa. Thm nhun ân đức y, mi Pht tử sẽ nhn ra rằng: Đức Minh Đăng Quang chính là hiện thân của Chánh pháp!

Minh Đăng Quang bng an bình,

Minh Đăng Quang ngn đèn linh ta-bà!

Noi gương Đức Tổ sư và các bậc Thy, chúng ta gìn giữ giáo pháp của Tổ Thy, để tô điểm cho tâm hn, để giúp bao kẻ hữu duyên đều được gii thoát. Bóng y vàng làm đẹp cho những no đường quê hương, li càng đẹp hơn do chính sự thanh tịnh và trang nghiêm của người khoác tm y đó. Bình bát đt ni liền những khong cách của lòng người, sẽ đem đến sự khiêm cung và thân thiện cho cả chính người cho và kẻ nhn, mà như thế, Tổ sư ssng mãi trong đạo hnh của mi vị Kht sĩ

Từ ngàn trước bao người dong rui, Nay chn này đến bui chúng ta, Con dòng hưởng ly tài gia,
 


Đoái nhìn sự nghip, thương cha công trình…

Đức Tổ sư Minh Đăng Quang đã ni truyền Thích-ca Chánh pháp trong mt đời hong pháp độ sanh của Ngài, cKht sĩ thừa kế sự nghiệp của Tổ Thy, ngày nay li tiếp bước con đường mà cPht mười phương ba đời đã đi. Đây là điều cui cng cho chúng ta ghi nhn, sau khi đã tìm hiểu v cuc đời và hành trạng của Đức Tổ sư Minh Đăng Quang.
  1. KT LUẬN

Kính thưa đi chúng,

Công trình viết sử cho Pht giáo Kht sĩ tht không phi là đơn gin, mà hiện nay, vn đề này đang trở thành khn thiết để góp phn làm trong sáng cho giáo pháp Kht sĩ, mt khi Hphái này đang phát triển mnh về lượng song có phn thiếu ht vcht.

Qua bài viết này, có những vn đề mới nêu ra hoặc đã được đính chính so với những bài trước:
  • Ông Keo không phi là Bn sư của Đức Minh Đăng Quang. Ông có cha người Hoa, mngười Campuchia, sinh năm 1910, tử năm 1970, gii bùa phép, có vợ con.
 
  • Đức Minh Đăng Quang từ Sóc Mẹt vPhú Mỹ trên chuyến đò của ông By Tam. Lúc đó chng có trang hiền nhân nào lên Tht Sơn thỉnh Ngài về trụ trì Linh Bửu tự gì cả.
 
  • Đức Minh Đăng Quang đi Campuchia ít nht là 2 ln.
 
  • Giữa Thành Đt và Kim Huê tht không có chuyện cứu tử, đây là Hàn Ôn tiểu thuyết hóa để thn tượng thy mình, vô tình làm gim giá trị lịch sử của Minh Đăng Quang pháp go.
 
  • Thy Sáu không có phát nguyện thgiới (Sa-di và Tỳ-kheo) ti Linh Bửu tự.
 
  • Linh Bửu tự là nơi kỷ niệm xut gia và theo Thy bui đu của mt nhóm đệ tử của Tổ sư.
 
 
  • Thành Đt tp tu 100 ngày không nói ở khu mcủa nhà ông Hi đng Võ Văn Nhiều vào năm 1943.
 
  • Đức Tổ sư nhp tịnh 100 ngày trước khi thâu nhn đệ tử và dng pháp danh Minh Đăng Quang. Nếu xác định được nơi đó, có nên chăng về xây mt bảo tháp để kỷ niệm?
 
  • Gii thích được lý do Tổ sư dng tên Lý Huờn khi ký tên.
 
  • Mùa An cư đu tiên của thy trò Tổ sư Minh Đăng Quang diễn ra ti Phú M, không phi ti KViên tự ở TP. HCMinh. Người hpháp trong mùa An cư đó là ông Sáu Dành.
 
  • Xác định bài Nht bát thiên gia phn / Cô thân vn ldukhông phi là tư tưởng căn bn của Đức Tổ sư. Tổ sư xem trọng tinh thn sng chung tu hc của Tăng-ghơn là cô thân hành đạo.
 
  • Mc Chơn được Tổ sư định nghĩa là Gc cây Đạo, Linh Bửu tự không thể được xem là nơi trồng cây Đạo của Ngài.

Và còn nhiều điều nữa, mong mi người ghi nhn khách quan, với tinh thn Tham lun là tham cứu lun bàn đkhng đnh mt cái gì đ. Chúng tôi mnh dn viết bn tiểu sử này từ những cơ smới tìm hiểu được, để tp thxem xét khảo duyệt. Cui cùng, xin chân thành cám ơn đi chúng đã lng nghe và thảo lun. Qua cuc hi tho, bài tiểu sử hoàn chỉnh về Đức Tổ sư Minh Đăng Quang sẽ là công trình chung của tt cả mi người.
 







 

TÀI LIỆU THAM KHO

 
    1. T sư Minh Đăng Quang, Chơn lý, Thành hi Phật go TP. HChí Minh, 1993.
 
    1. Tổ sư Minh Đăng Quang, Lut nghi Kht sĩ, Lut Kht sĩ, Giáo hi Tăng-gKht sĩ Việt Nam, Sài Gòn, 1973.
 
    1. Tổ sư Minh Đăng Quang, Bồ-tát go, Tịnh xá Ngc Viên n hành, 1962.
 
    1. Giáo hi Pht giáo Việt Nam, Ánh Minh Quang, Nxb. TP. HCMinh, 2004.
 
    1. Hàn Ôn, Minh Đăng Quang pháp giáo, Chúng Minh Đăng Quang n hành, TP. HCM, 2001.
 
    1. HT. Thích Gc Toàn, Hthng tviện (tnh ) Hphái Khất sĩ Việt Nam và vai ttrtrì qun lý ngôi tnh xá, chuyên đ, TP. HCM, Hc viện Phật go Việt Nam ti TP. HCM, 8/10/2007.
 
    1. NS. Tín Liên, Tìm hiểu Hphái Khất sĩ ca Tsư Minh Đăng Quang, chuyên đ, TP. HCM, Hc viện Phật go Việt Nam ti TP. HCM, 07/04/2009.
 
    1. Thích Đng Bn (chủ biên), Tiu sdanh Tăng Vit Nam thế kỷ XX, tập I, TP. HCM, Thành hi Phật go TP. HChí Minh n hành, 1995.
 
    1. Thích Giác Trí, Sự nh thành và phát triển ca Hphái Kht sĩ, lun văn tt nghiệp, TP. HCM, Hc viện Pht giáo Việt Nam ti TP. HCM, 2001.
 
    1. Thích Hnh Thành, Tìm hiểu Pht go Kht sĩ ở Nam Bộ Việt Nam (trong thế kXX), Nxb. Tng hợp TP. HCMinh, 2007.

 
    1. Thích Nữ Thánh Hưng, H phái Kht sĩ và Văn hóa Nam Bộ, lun văn tt nghiệp, TP. HCM, Hc viện Pht giáo Việt Nam ti TP. HCM, 2005.
 
    1. Tịnh xá Ngc Cm, Lễ tưởng niệm 53 năm Tổ sư Minh Đăng Quang vng bng và khánh thành Tnh xá Ngc Cm, tp văn lưu hành ni b, 2007.
 
    1. Hành Vân, Trung Giang ký sự, 30 kỳ đã đăng trên website Ánh Nhiên Đăng.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây