41. VAI TRÒ CỦA PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI VIỆC HƯỚNG NGHIỆP DẠY NGHỀ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Thứ tư - 05/09/2018 17:34
VAI TRÒ CỦA PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI VIỆC...của TS. Nguyễn Hữu Thụ - TS. Nguyễn Thị  Thúy Hằng

1. Quan điểm của Phật giáo và Phật giáo Việt Nam về công tác từ thiện nói chung và hướng nghiệp dạy nghề nói riêng  Phật giáo là một trong những tôn giáo lớn của thế giới được hình thành từ Ấn Độ vào thế kỷ thứ VI trước Công nguyên. Người sáng lập ra Phật giáo là Thái tử Siddhartha (Tất Đạt Đa), con vua Suddhodama (Tịnh Phạn) trị vì Sykya - một bộ tộc nhỏ ven sông Ganga (sông Hằng), thuộc Nepan ngày nay. Sau khi giác ngộ, người ta tôn ông là Buddha hay Sakyamuni (Thích Ca Mâu Ni).
Thích Ca Mâu Ni đã kế thừa các tư tưởng truyền thống của Ấn Độ cổ đại (Kinh Veda, Kinh Upanishad của Balamon giáo…) để sáng lập ra một trường phái tôn giáo - triết học mới, trường phái vô thần, vô ngã, nhìn thẳng vào nỗi đau nhân thế và tìm con đường giải thoát từ sự nỗ lực của bản thân con người. 
Có thể thấy rằng, sự xuất hiện của Phật giáo là sự phản kháng lại chế độ phân biệt đẳng cấp khắc nghiệt trong xã hội Ấn Độ cổ đại. Mặc dù, Phật giáo không thể ngay lập tức lập lại được trật tự xã hội nhưng khát vọng cứu khổ, cứu nạn của đức Phật cùng những hành động mang tính xã hội của tăng đoàn đã góp phần (trực tiếp hoặc gián tiếp) xoa dịu đi những nỗi đau, sự bất bình đẳng trong cuộc sống của con người. Nói cách khác, đó chính là những giá trị về mặt tinh thần và mặt xã hội mà Phật giáo đã đem lại. Trong giai đoạn hiện nay thì những giá trị về mặt xã hội của Phật giáo ngày càng được khẳng định và phát huy. Phật giáo (thông qua các tổ chức, tín đồ và những nhà tu hành…) tham gia nhiều hơn vào các hoạt động xã hội, trong đó, không thể không kể đến hoạt động từ thiện, giáo dục và y tế. 
Có thể thấy rằng, trong rất nhiều các hoạt động xã hội mà Phật giáo tham gia thì từ thiện đóng vai trò rất đặc biệt, bởi vì từ thiện, theo quan niệm của Phật Giáo thường được hiểu là Bố thí. Bố thí là một đức hạnh tối quan trọng trong cách thức tu tập, hành trì và hoằng dương Phật pháp của cả tăng sĩ lẫn cư sĩ trong các tông phái của Phật giáo. Trong 10 pháp Ba La Mật của Phật giáo Nguyên thủy hay trong 6 pháp Ba La Mật (Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tiến, Thiền định) của Phật giáo Đại thừa thì Bố thí luôn là hạnh đứng đầu. 
Với Phật giáo, “Bố là lấy của mình phân phát cho người khác; Thí là lấy lòng của mình lo lắng cho mọi người. Mục đích của Bố thí của Tiểu Thừa là phá trừ tâm tham lam keo kiệt cá nhân để thoát khỏi sự nghèo khổ của kiếp sau. Đại thừa thì liên kết bố thí với giáo nghĩa đại từ đại bi để đưa chúng sinh đến giác ngộ”. Bố thí có ba loại: Tài thí, Pháp thí, Vô uý thí (Bố thí vô cực). Tài thí là bố thí tài vật như của cải, vật chất, nhà cửa, tiền bạc,... Đối với tài thí, theo Phật giáo, điều quan trọng không hoàn toàn ở giá trị của tài vật mà là ở thái độ và động cơ của hành động bố thí. Không những vậy, tài thí còn bao gồm bố thí cả các bộ phận trên thân thể và thậm chí cả thân mạng. Do cách hiểu tài thí như vậy nên mới có sự hình thành những tổ chức từ thiện Phật giáo kêu gọi Phật tử hiến máu, hay hiến thận, hiến xác sau khi chết cho khoa học. 
 Pháp thí là bố thí Phật pháp, đem các lời hay lẽ phải, những chân lý quý báu như các lời dạy của Đức Phật ra để giúp mọi người có được sự hiểu biết đúng đắn, hoặc thực hành các lời dạy của Phật để làm gương cho mọi người noi theo. Nếu tài thí chỉ giúp cho mọi người một thời gian hay một đời là cùng thì pháp thí ảnh hưởng nhiều đời nhiều kiếp; ngoài ra, pháp thí còn giúp cho cả kẻ sang người hèn, kẻ nghèo lẫn người giàu, nên bố thí pháp lợi ích rộng lớn hơn bố thí tài.  
Vô úy thí là giúp cho người khác không sợ hãi. Muốn bố thí vô úy, trước tiên người bố thí phải không còn sợ một điều gì; muốn được vậy, muốn không còn sợ bất cứ điều gì trong lòng, người ấy phải tìm đọc để hiểu lý sống của Phật giáo một cách tường tận và áp dụng thực hành đầy đủ rồi, đâu còn gì để sợ nữa; như khi biết rõ các vật đều là hư giả không thật, cái ngã tức cái thân ta cũng không thật không qúy, tham để làm gì? Không tham tức không còn ham muốn nữa, khi không còn ham muốn sẽ không tìm cách giữ gìn hay chiếm đoạt, như vậy có gì phải lo sợ? Tiền bạc của cải không ham nên không sợ mất, danh lợi địa vị không màng nên không sợ thiếu, sinh mạng thân mình xem như giả tạm nên không sợ chết, do đó sống rất bình tĩnh tự tại trước mọi đổi thay thăng trầm của cuộc đời. Do vậy, người vô úy sẵn sàng can thiệp vào các việc cứu người khác gặp nguy hiểm mà người thường không thể làm được. Điều đó cũng có nghĩa là không phải ai cũng có thể thực hiện được Vô uý thí mà chủ yếu là bố thí của các bậc cao tăng, cụ thể là các vị Bồ tát. 
Nếu chiếu theo giáo lý của Phật giáo, công tác hướng nghiệp dạy nghề thuộc về Pháp thí. Công tác này có một ý nghĩa rất lớn, nhằm hỗ trợ người yếu thế, khó khăn, hoạn nạn trong xã hội cơ hội chọn lựa và phát triển chuyên môn nghề nghiệp phù hợp nhất với khả năng của mình, đồng thời thỏa mãn nhu cầu nhân lực cho thị trường lao động ở cấp độ địa phương và quốc gia. Công tác hướng nghiệp dạy nghề trong Phật giáo bao gồm: lựa chọn nghề, đào tạo nghề, đánh giá nghề, quản lý và phát triển nghề... Trong đó, lựa chọn nghề là giai đoạn đầu trong tiến trình hướng nghiệp của mỗi người. Khi mỗi cá nhân có được chuyên môn nghề nghiệp vững vàng phù hợp với hoàn cảnh, năng lực của bản thân, họ sẽ có nhiều cơ hội có một nghề nghiệp ổn định, nâng cao chất lượng cuộc sống cá nhân. Ở một góc độ khác, công tác hướng nghiệp dạy nghề của Phật giáo còn tạo ra một lực lượng lao động có định hướng rõ ràng, có năng lực nghề nghiệp tốt, làm tăng năng suất lao động, góp phần cho sự phát triển về kinh tế xã hội của đất nước.
Như vậy, ở góc nhìn tôn giáo học, chức năng hỗ trợ xã hội của Phật giáo không chỉ dừng lại sự giúp đỡ con người bằng các liệu pháp tinh thần như cúng bái, cầu nguyện, tin tưởng…, mà còn biểu hiện thông qua những hành động mang tính thực tiễn như hỗ trợ về vật chất, về định hướng nghề nghiệp, về đào tạo nghề. Phật giáo dạy con người, để cuộc sống thực sự có ý nghĩa, được an vui hạnh phúc, được kết quả phúc báu trên cuộc đời xin hãy phụng sự chúng sinh, đem phúc lợi xã hội đến với mọi người, mọi loài. Đạo Phật dạy cho con người mở lòng từ bi, không giới hạn ở bất kỳ biên cương, bờ cõi, màu da, sắc tộc, giới tính, tuổi tác. Mọi người đã có mặt trên cõi sống này đều cần được chăm sóc và yêu thương. 
Từ khi du nhập vào nước ta (từ thế kỷ II SCN), Phật giáo đã nhanh chóng ăn sâu, bén rễ vào trong đời sống tinh thần của dân tộc, không chỉ “làm tròn” chức năng tôn giáo, mà còn “làm tốt” chức năng hỗ trợ xã hội, đặc biệt là công tác từ thiện trên các lĩnh vực: giáo dục, y tế, văn hóa, hướng nghiệp dạy nghề…, góp phần vào sự phát triển, thúc đẩy xã hội tiến bộ hơn. Việt Nam với đặc thù địa chính trị nằm ở cửa ngõ của khu vực Đông Nam Á, thiên tai, lũ lụt, hạn hán, sự xâm lược của nhiều thế lực ngoại bang diễn ra thường xuyên, nên khi Phật giáo du nhập vào nơi đây, tinh thần vì chúng sinh của Phật giáo nhanh chóng hòa quyện cùng với triết lý sống của người dân Việt “lá lành đùm lá rách”, “thương người như thể thương thân”, “một miếng khi đói bằng một gói khi no”, “dù xây chín bậc phù đồ, không bằng làm phúc cứu cho một người”. Sự tương đồng này là một trong những cơ sở quan trọng để Phật giáo tồn tại và phát triển, đồng hành cùng dân tộc Việt Nam qua những thăng trầm lịch sử. Có những thời kỳ Phật giáo Việt Nam trở thành quốc đạo đã góp phần đưa lại cho nhà nước phong kiến Việt Nam một đường lối trị quốc với nhiều điểm tiến bộ. Đó là thái độ khoan dung, độ lượng, chia sẻ và cảm thông, hướng đến tha nhân, vì tha nhân. Bởi thế, từ khi du nhập vào nước ta cho đến nay, Phật giáo Việt Nam luôn thể hiện tinh thần “nhập thế” hành đạo, thường xuyên tổ chức các hoạt động từ thiện, giúp đỡ những mảnh đời chẳng may gặp khốn khó và bất hạnh trong xã hội. 
Mặt khác, ở Việt Nam, Phật giáo còn là một tổ chức tôn giáo lớn và có uy tín, cùng với nhà nước và các tổ chức xã hội khác tham gia công tác từ thiện để hỗ trợ người dân, góp phần lớn cho việc xây dựng hệ thống an sinh xã hội vì sự phát triển của cộng đồng. Những hoạt động hành thiện, giúp người, cứu đời này của Phật giáo Việt Nam mang một ý nghĩa quan trọng, thể hiện mối quan hệ tốt đẹp giữa đạo và đời, phản ánh rõ nét chức năng xã hội của Phật giáo. Đặc biệt, trong xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu và hiện đại hóa, tôn giáo ngày càng có vị trí quan trọng trong đời sống xã hội. Nhập thế và thế tục hóa là những khuynh hướng thể hiện một cách sinh động quan hệ giữa tôn giáo với các thể chế xã hội ngoài tôn giáo. Nó trở thành xu hướng phát triển chung của các tôn giáo ở hầu hết các quốc gia trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Vì thế, hoạt động từ thiện nói chung và công tác hướng nghiệp dạy nghề nói riêng của Phật giáo Việt Nam hiện nay thể hiện vị thế của tôn giáo này đối với xã hội, nhằm thích ứng với thực tiễn vận động của xã hội, “hướng tới một đạo Phật dấn thân vì xã hội”.
Tóm lại, quan điểm của Phật giáo và Phật giáo Việt Nam về hoạt động từ thiện nói chung và công tác hướng nghiệp dạy nghề nói riêng đã cho thấy sự tồn tại, phát triển, liên thông và cả đổi mới của Phật giáo trước thực tiễn xã hội hiện nay. Việc đưa Phật giáo vào cuộc sống hàng ngày, thể hiện tinh thần gắn bó với cuộc sống con người của các định chế tôn giáo, biến những giáo lý khô cứng hướng đến giải thoát của tôn giáo thành những bài học sống động để có thể áp dụng vào việc xây dựng một xã hội hiền thiện. Đối với Phật giáo Việt Nam, qua đây thể hiện được tinh thần Phật giáo gắn bó với con người và dân tộc, đồng hành cùng đất nước, phát huy được truyền thống yêu nước và tinh thần xây dựng đất nước, tạo được một khối đại đoàn kết toàn dân. 
2. Thực trạng công tác hướng nghiệp dạy nghề của Phật giáo ở nước ta hiện nay
Theo số liệu ước tính của Ban Tôn giáo Chính phủ, năm 2011 ở Việt Nam, số lượng tín đồ Phật giáo vào khoảng 10 triệu người và tăng lên là hơn 11 triệu người vào năm 2013. Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập từ năm 1981 (trên cơ sở thống nhất các giáo hội, hệ phái, tổ chức Phật giáo) cho đến nay đã trải qua 07 kỳ đại hội với những đóng góp trên nhiều bình diện khác nhau như: kinh tế, chính trị, văn hóa, từ thiện xã hội... Đặc biệt, ở bình diện từ thiện xã hội, công tác hướng nghiệp dạy nghề của Phật giáo Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể, không chỉ hỗ trợ phương tiện sống, mà còn truyền niềm tin, nghị lực vào cuộc sống cho những người yếu thế, khó khăn, hoạn nạn trong xã hội. 
Qua số liệu báo cáo ở các kỳ Đại hội Phật giáo cho thấy, công tác này ngày càng được quan tâm nhân rộng. Nếu như ở kỳ Đại hội Phật giáo nhiệm kỳ thứ nhất (1981 - 1987), báo cáo kết quả mới chỉ dừng ở mức độ chung chung như: “tại các thành thị, các cơ sở già lam tự viện đều có một cơ sở sản xuất hoặc lớn, hoặc nhỏ, về các ngành tiểu thủ công nghiệp và chế biến thực phẩm, nhất là thực phẩm ăn chay. Tại tỉnh Đồng Nai có một Sư cô làm chủ nhiệm hợp tác xã Mây tre lá có hàng nghìn xã viên lao động. Sư cô đã được Nhà nước tặng thưởng huân chương Lao động. Tăng, Ni hành đạo tại các thành thị đã biết sử dụng đôi tay khéo léo của mình để làm ra hàng hóa tiêu dùng cho xã hội”, thì sau hơn 20 năm, ở nhiệm kỳ VI (2007 - 2012), kết quả về cơ sở hướng nghiệp dạy nghề của Phật giáo trên phạm vi toàn quốc đã có con số thống kê một cách chính xác, cụ thể. “Để có cuộc sống ổn định về vật chất, một số Ban Trị sự Phật giáo tỉnh, thành hội đã tổ chức nhiều Trường, Lớp dạy nghề miễn phí cho con em gia đình Phật tử, gia đình lao động nghèo, người khuyết tật. Cả nước hiện có 10 trường dạy nghề miễn phí gồm các nghề: may, điện gia dụng, tin học, sửa xe, hớt tóc, v.v… như Trường dạy nghề Tây Linh, Long Thọ tỉnh Thừa Thiên Huế, Quảng Trị, Bà Rịa - Vũng Tàu, Tây Ninh… đã đào tạo và giới thiệu cho hàng ngàn học viên có được việc làm ổn định”. 
Qua báo cáo tổng kết của Giáo hội Phật giáo Việt Nam cũng như thực tiễn cho thấy, trên phạm vi toàn quốc, các cơ sở hướng nghiệp dạy nghề của Phật giáo ở nước ta hiện nay chủ yếu tập trung ở miền Trung và miền Nam. Chẳng hạn, đối với khu vực miền Trung, trong những năm qua Giáo hội Phật giáo tỉnh Thừa Thiên - Huế đã chú trọng chăm lo xây dựng các cơ sở dạy nghề. Và nói đến cơ sở dạy nghề của Phật giáo ở Thừa Thiên - Huế phải kể đến hai cơ sở dạy nghề ở chùa Long Thọ và Tây Linh. Cơ sở tại chùa Tây Linh do Ni sư Thích nữ Như Minh đảm trách và cơ sở tại chùa Long Thọ do Ni sư Thích nữ Minh Tánh đảm trách. Mỗi năm có hai khoá học, mỗi khoá học 6 tháng, mỗi khoá có từ 130 - 160 em. Tính từ ngày thành lập đến nay, hai cơ sở này đã có gần 1.000 em theo học với các nghề thêu, đan, may, vi tính văn phòng. Sau khi tốt nghiệp, tuỳ theo nghề các em được giới thiệu làm việc tại các công ty may ở Tp. HCM, dệt Thuỷ Dương, xí nghiệp thêu ở Huế hoặc nhận hàng làm gia công tại nhà. Ngày 11/11/2015, UBND tỉnh Thừa Thiên - Huế đã có quyết định thành lập Trung tâm Bảo trợ trẻ em khuyết tật chùa Long Thọ đặt tại địa chỉ số 393, đường Bùi Thị Xuân, phường Thủy Biều, Thành phố Huế và có phạm vi hoạt động trên địa bàn tỉnh. Từ công tác hướng nghiệp dạy nghề tích cực của Giáo hội Phật giáo tỉnh Thừa Thiên - Huế đã lan rộng đến các tỉnh, thành phố khác như: Quảng Trị, Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thái Bình, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Phú Yên, Bình Định, Gia Lai... 
Hay như khu vực miền Nam, nói đến cơ sở hướng nghiệp dạy nghề của Phật giáo phải nói đến chùa KomPongChrây (còn gọi là chùa Hang) ở thị trấn Châu Thành, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh hay chùa Phônôrôka, ở Sóc Trăng. Đây là những điển hình trong công tác hướng nghiệp dạy nghề của Giáo hội Phật giáo Việt Nam khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Cụ thể, trong những năm qua, chùa Phônôrôka, xã Phú Tâm, huyện Châu Thành, tỉnh Sóc
Trăng trở thành nơi dạy nghề khắc gỗ cho nhiều tăng sinh tầm sư học đạo. Mô hình này đang dần thu hút nhiều tăng sinh cũng như giới trẻ trong và ngoài tỉnh. Tính đến nay, tại chùa đã có trên 30 học viên theo học, ngoài người trong tỉnh còn có các sư cùng giới trẻ ở Bạc Liêu, Kiên Giang, Vĩnh Long, An Giang đến học... Sau khi đã khá chắc nghề, các học viên đã ra trường lập nghiệp, còn sư trong chùa vừa tu hành vừa học nghề. Theo các nhà sư, để chế tác được tượng nhỏ phải mất hai ba ngày, còn tượng lớn phải mất đến vài tháng mới xong, giá trị mỗi sản phẩm dao động từ 500.000đ trở lên, có khi đến vài chục triệu đồng tùy vào chất liệu gỗ và tính thẩm mỹ của mỗi tác phẩm. Với công tác hướng nghiệp dạy nghề của Giáo hội Phật giáo tỉnh Sóc Trăng nói chung và chùa Phônôrôka nói riêng đã tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho những người có hoàn cảnh khó khăn, yếu thế trong tỉnh, đặc biệt là bà con dân tộc Khmer.
Tại chùa Kỳ Quang II, Quận Gò Vấp, Tp. HCM, cơ sở từ thiện xã hội chùa Kỳ Quang cũng có hoạt động hướng nghiệp, dạy nghề. Theo báo cáo tổng kết năm 2008, ngày 27/6/2008, cơ sở đã tổ chức lễ tốt nghiệp khóa III (2006 - 2008) lớp dạy nghề massage - bấm huyệt theo kỹ thuật Nhật Bản cho các học viên khiếm thị. Trong dịp hè, cơ sở kết hợp với Viện Y Dược học tổ chức lớp dạy massage bấm huyệt sơ cấp cho các em khiếm thị. Đây là khóa học thứ 6 mà cơ sở đã tổ chức cho các em. Số lượng học viên đăng ký tham gia học tập là 60 em, bao gồm các học viên tại cơ sở và một số học viên ở các tỉnh thành lân cận.
Có thể thấy rằng những giá trị mà công tác giáo dục dạy nghề của Phật giáo đã đem lại đối với xã hội là rất lớn. Các cơ sở hướng nghiệp dạy nghề do Phật giáo mở ra trên khắp cả nước trong những năm qua đã thu hút một số lượng đông đảo các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn tham gia học đem đến cuộc sống ấm no cho nhiều mảnh đời bất hạnh, khốn khó trong xã hội. Có nhiều học viên sau khi học nghề xong đã trở thành những tay nghề xuất sắc, làm ra được những sản phẩm có giá trị. Bên cạnh đó, do việc tổ chức và quản lý hoạt động giáo dục dạy nghề được thực hiện bởi hệ thống các nhà tu hành, các tín đồ có trình độ chuyên môn nghiệp vụ với tâm nguyện được phục vụ Phật pháp nên hiệu quả và độ tự giác, chuyên nghiệp là rất cao. Không những vậy, các cơ sở dạy nghề do Phật giáo mở còn góp phần cùng với Nhà nước trong việc giải quyết các vấn đề an sinh xã hội và góp phần giảm tải gánh nặng chi cho giáo dục đào tạo nghề của ngân sách Nhà nước. Theo Báo cáo của Bộ Tài chính, chỉ tính riêng năm 2008 nhà nước đã chi 11.072 tỷ đồng cho giáo dục dạy nghề và Trung học chuyên nghiệp trong tổng số 53.774 tỷ đồng chi cho giáo dục và đào tạo nói chung.
Mặc dù có nhiều thành tựu song thực tiễn cũng cho thấy, công tác hướng nghiệp dạy nghề của Phật giáo ở nước ta hiện nay vẫn còn nhiều bất cập. 
Theo thống kê của Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tính đến năm 2017, cả nước có 12 cơ sở dạy nghề thuộc các tổ chức tôn giáo trong tổng số 1998 cơ sở giáo dục nghề nghiệp, bao gồm: 2 trường trung cấp nghề và 10 trung tâm dạy nghề. Hàng năm, tuyển sinh đào tạo hệ trung cấp và dạy nghề ngắn hạn cho hơn 2.000 người. Tuy nhiên, các cơ sở dạy nghề (trường Trung cấp nghề tư thục, Trung tâm Dạy nghề tư thục tôn giáo) thuộc các tôn giáo này đa số là của Công giáo (trong số 12 cơ sở dạy nghề nêu trên, có 01 trung tâm dạy nghề thuộc Phật giáo (của Ban Từ thiện xã hội thuộc Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Quảng Trị), 11 cơ sở dạy nghề còn lại thuộc Công giáo, chủ yếu thuộc dòng Don Bosco và Lasan và Tòa Giám mục Xuân Lộc. So sánh với số lượng tín đồ cũng như vị thế của Công giáo với Phật giáo trong xã hội Việt Nam, thì số lượng các cơ sở dạy nghề của Phật giáo vẫn còn rất ít lại phân tán và nhỏ bé về quy mô. Cơ sở vật chất ở một số cơ sở còn đơn sơ, trang thiết bị chủ yếu là đào tạo các ngành nghề ngắn hạn và giản đơn. Các cơ sở hướng nghiệp dạy nghề thường phải sử dụng khuôn viên của chùa để thực hiện hoạt động dạy nghề. Trong khi đó, chất lượng giáo viên còn một số hạn chế về trình độ kỹ thuật nghiệp vụ và sư phạm. Hiện nay, kinh phí chủ yếu để thực hiện công tác hướng nghiệp dạy nghề của Phật giáo đều từ sự tự nguyện đóng góp của tổ chức, cá nhân, nên nguồn kinh phí này thiếu ổn định. Nếu như các cơ sở hướng nghiệp dạy nghề này của Phật giáo mà chuyển hướng sang đào tạo các nghề kỹ thuật, công nghệ nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường đòi hỏi phải có sự đầu tư rất lớn. Và như vậy, sẽ rất khó khăn về kinh phí cho việc nâng cấp trang thiết bị và bảo đảm nguyên liệu thực hành, thực tập cho các cơ sở này. Trong khi đó, kinh phí thu của người học thấp, nên không bảo đảm chi thường xuyên (mặc dù phần lớn đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý của các trường là giới tu hành nên đều không nhận lương). 
Trong nhiều năm qua, Nhà nước đã ban hành rất nhiều các văn bản pháp lý quy định và hướng dẫn thực hiện hoạt động xã hội hóa giáo dục dạy nghề đối với các tổ chức tôn giáo như: Luật Giáo dục nghề nghiệp, Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo, ngày 18 tháng 6 năm 2004; Luật Tín ngưỡng, tôn giáo ngày 18/11/2016; Nghị định số 48/2015/NĐ-CP ngày 15/5/2015 quy định chi tiết một số điều của Luật Giáo dục nghề nghiệp; Nghị định 67/2007/NĐ-CP ngày 13   tháng 4 năm 2007 quy định Về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội; Nghị định số 68/2008/NĐ-CP ngày 30/5/2008 quy định điều kiện, thủ tục thành lập, hoạt động, giải thể đối với các cơ sở bảo trợ xã hội; Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30/5/2008 của Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường; Nghị định số 59/2014/NĐ-CP ngày 16/6/2014 của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30/5/2008 của Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường.... tuy nhiên, các quy định này mới chỉ tập chung vào đối tượng được bảo trợ xã hội chứ không phải là mọi đối tượng trong xã hội. Điều này đã phần nào làm thu hẹp phạm vi tham gia của Phật giáo nói riêng và các tổ chức tôn giáo nói chung vào các hoạt động giáo dục và dạy nghề. Bên cạnh đó, quá trình triển khai thực hiện các quy định của pháp luật cũng đã xuất hiện một số vấn đề bất cập đặc biệt là sự không đồng bộ, không cụ thể trong việc quy định các tổ chức tôn giáo tham gia hoạt động xã hội hóa dạy nghề.
Mặt khác, khó khăn cũng tìm đến với các cơ sở dạy nghề của Phật giáo, đó là gần như chưa được hưởng chính sách xã hội hóa của Nhà nước về dạy nghề. Đất đai để xây dựng các cơ sở này phải tự mua hay do Phật tử hiến tặng hoặc chưa tiếp cận được các chính sách về vốn, tín dụng ưu đãi… Chính vì lẽ đó, các sinh hoạt tôn giáo của các thành viên trong Ban Giám hiệu, giáo viên, học viên là người có đạo tại cơ sở này còn gặp nhiều khó khăn, phức tạp. Theo TS. Lê Bá Trình - Phó Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam tại Hội nghị toàn quốc biểu dương, phát huy vai trò của các tôn giáo tham gia hoạt động bảo trợ xã hội và dạy nghề do UBTƯ MTTQ Việt Nam, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội phối hợp tổ chức ngày 24 tháng 02 năm 2017: “Những khó khăn, bất cập trên đây đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc phát huy vai trò, tiềm năng của tổ chức, cá nhân tôn giáo trong việc thực hiện chủ trương xã hội hóa dạy nghề”. 
Với thực tiễn này, việc tìm kiếm những giải pháp để khắc những hạn chế, phát huy thuận lợi trong công tác hướng nghiệp dạy nghề của Phật giáo ở Việt Nam hiện nay là một đòi hỏi mang tính cấp bách. Một tín hiệu rất mừng, tại Tp. Hồ Chí Minh ngày 24/2/2017 vừa qua đã diễn ra Hội nghị toàn quốc biểu dương, phát huy vai trò của các tôn giáo tham gia hoạt động bảo trợ xã hội và dạy nghề do Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam, Bộ Lao động -  Thương binh và Xã hội phối hợp tổ chức. Từ sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước năm 1975, đây là lần đầu tiên chúng ta tổ chức Hội nghị về việc biểu dương, phát huy vai trò tôn giáo tham gia hoạt động bảo trợ xã hội và dạy nghề. Điều này cho thấy, Đảng và Nhà nước ta đã có những nhận thức mới về vai trò của các tôn giáo đối với hoạt động từ thiện nói chung và công tác hướng nghiệp dạy nghề nói riêng.
3. Một số giải pháp phát huy hiệu quả công tác hướng nghiệp dạy nghề
Trên cơ sở những khó khăn, thuận lợi và để phát huy tốt hơn nữa vai trò của các tổ chức cá nhân trong công tác bảo trợ xã hội và dạy nghề của Phật giáo ở nước ta hiện nay, chúng tôi cho rằng cần phải có sự chung tay góp sức của các ban ngành, đoàn thể, địa phương cũng như tăng, sĩ, Phật tử trên khắp cả nước. Cụ thể:
Một là, hoàn thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật theo hướng cụ thể, mở rộng phạm vi và đối tượng điều chỉnh, không có sự chồng chéo trong việc quy định về sự tham gia của các tổ chức tôn giáo nói chung, Phật giáo nói riêng vào các hoạt động giáo dục, y tế, từ thiện…
Hai là, khuyến khích, tạo điều kiện cho mọi tổ chức, cá nhân, trong đó có Giáo hội Phật giáo Việt Nam các tỉnh, Phật tử tham gia xã hội hóa hoạt động dạy nghề như mọi tổ chức cá nhân khác khi có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật và phù hợp với khả năng. Trong đó, cần khuyến khích Giáo hội Phật giáo Việt Nam các tỉnh, Phật tử tham gia thành lập các trung tâm giáo dục nghề nghiệp vì mục đích phi lợi nhuận. Đồng hành với việc này là chính sách hỗ trợ về thủ tục pháp lý, chính sách về đất đai, chính sách về thuế,… theo quy định chung của pháp luật cũng như tạo điều kiện cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam cử người tham gia học tập nâng cao trình độ để đáp ứng yêu cầu về chuyên môn trong công tác quản lý dạy nghề.
Ba là, cần biểu dương kịp thời những gương người tốt, việc tốt trong công tác dạy nghề của Phật giáo và nhân rộng điển hình cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam các tỉnh trên cả nước, đồng thời cũng xử lý kịp thời những việc làm sai trái, không đúng quy định của pháp luật. Cần phải xem xét bổ sung chính sách hỗ trợ, đầu tư thêm về cơ sở vật chất, trang thiết bị đào tạo để các cơ sở dạy nghề của Phật giáo phát triển.
Bốn là, chính quyền địa phương cần tạo điều kiện thuận lợi hơn trong việc đăng ký khai sinh, tạm trú, đăng ký hộ khẩu cho các đối tượng thuộc diện trợ giúp xã hội đang ở các cơ sở hướng nghiệp dạy nghề của Phật giáo. Hướng dẫn các cơ sở này làm các thủ tục pháp lý cần thiết để các đối tượng trên được hưởng trợ cấp xã hội theo quy định của pháp luật; tạo điều kiện thuận lợi trong việc sinh hoạt Phật giáo cho những người đứng đầu các cơ sở hướng nghiệp dạy nghề, học viên tại các cơ sở này.
Năm là, các địa phương cần chú trọng phát triển quy hoạch mạng lưới cơ sở hướng nghiệp dạy nghề của Phật giáo, tạo điều kiện để các cơ sở này phát triển, vừa giảm gánh nặng cho Nhà nước, vừa tăng cường khối đại đoàn kết đạo với đời. Đồng thời, các tổ chức, chức sắc, nhà tu hành của Phật giáo cần tiếp tục quan tâm phối hợp với ngành Lao động - Thương binh và Xã hội các cấp, Ủy ban MTTQ Việt Nam và chính quyền các cấp trong việc huy động nguồn lực tham gia phát triển hệ thống cơ sở hướng nghiệp dạy nghề theo quy định của pháp luật.
Sáu là, các tỉnh, thành ủy cần chỉ đạo Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố đẩy nhanh tiến độ việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các cơ sở tôn giáo có đủ điều kiện theo tinh thần Chỉ thị số: 1940/CT/2008/CT-TTg, ngày 31/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ về nhà, đất liên quan đến tôn giáo, để tạo cơ sở pháp lý về quyền sử dụng đất cho các cơ sở trợ giúp xã hội, cơ sở dạy nghề do các cá nhân, tổ chức tôn giáo thành lập để đảm bảo điều kiện hoạt động của các cơ sở này.
Chúng tôi cho rằng, nếu thực hiện một cách đồng bộ, triệt để các giải pháp nêu trên sẽ giúp cho hoạt động từ thiện nói chung và công tác hướng nghiệp dạy nghề nói riêng của Phật giáo ở nước ta phát triển bền vững trong những năm tới.
 

 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
  1. Thích Minh Cảnh (2011), Từ điển Phật học Huệ Quang, Tập I, Nxb. Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh
  2. Đỗ Quang Hưng (2008), “Phật giáo Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa”, Tạp chí Khoa học xã hội (số 9), tr. 58 -66.
  3. Giáo hội Phật giáo Việt Nam (2012), Giáo hội Phật giáo Việt Nam từ đại hội đến đại hội (1981- 2012), Nxb. Tôn giáo, Hà Nội.
  4. Thanh Lan (2011), “Nhà chùa dạy nghề khắc gỗ”, Phật tử Việt Nam.net  
  5. Nguyễn Minh Ngọc (2014), “Vài nét về hoạt động từ thiện xã hội của các tôn giáo tại Việt Nam hiện nay”, tham khảo tại trang web của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, http://phatgiao.org.vn/ thamluan-sach/201404/Vai-net-ve-hoat-dong-tu-thien-xa-hoi-cua-cacton-giao-tai-Viet-Nam-hien-nay-14245/
  6. Báo cáo số 368/BC- BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009) dẫn theo số liệu Bộ Tài chính. 
  7. Báo cáo Tình hình các tôn giáo tham gia hoạt động trợ giúp xã hội và dạy nghề của TƯMTTQVN và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tháng 02/201
  8. Dạ Yến, Quốc Định ghi (2017), “Tăng cường xã hội hoá công tác BTXH và dạy nghề của tôn giáo”, Báo Đại đoàn kết online, http://m.daidoanket.vn/tin-tuc/ton-giao/tang-cuong-xa-hoihoa-cong-tac-btxh-va-day-nghe-cua-ton-giao358956?view=mobile
  9. https://thuvienhoasen.org/a18377/bo-thi.
  10. http://www.baomoi.com/het-long-cham-lo-cho-nguoi ngheo.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây